TỪ TÁC PHẨM CỦA TIÊU DAO BẢO CỰ
TRÍCH ĐOẠN TIÊU
BIỂU
TỪ TÁC
PHẨM TRÊN ĐỈNH THANH XUÂN
Anh vẫn cầm lấy tay
cô,
kéo
cô
nhẹ
nhàng
đi ra cổng, bước vào con ngõ
dài
thăm
thẳm
chạy
ra đến
tận
con đường nằm bên bờ sông
Thơm.
Con ngõ
từng
chỗ
sáng
tối
mông
lung huyền
hoặc
dưới
áng trăng. Hai bên, khi là mấy cây sầu đông lá nhỏ, nơi là hàng dâm
bụt
xén
thẳng
tắp,
chỗ
là
rặng
tre kĩu kịt trùm phủ khoảng không trên mặt đường. Hoài
cầm
tay Siam đi
qua những
vùng
sáng,
tối
đó, cảm thấy mình lướt êm đi trong trăng, trong đêm. Khuôn
mặt
cô
gái
bên
cạnh
anh dù trong bóng
tối
mờ vẫn sáng
rỡ một mầu trắng lạ lùng.
Và
bàn
tay cô vẫn mát và mềm mại chuyền qua người anh một cảm giác yên
bình
thanh thản. Hai người hầu như im lặng đi bên nhau
cho đến cuối ngõ. Không gian vỡ oà
ra trước mắt họ. Trăng lồng lộng trên cao, tứ bề. Dòng
sông
là
một
giải
ngời
sáng
lao xao trăng nước từ thượng nguồn về đến trung
tâm
thành
phố,
lượn
nhẹ
một
đường cong
mềm
mại
ngang trước con ngõ. Bên kia bờ là khối đen im lìm cây
lá
của
các
xóm
làng,
bên
này
bờ,
dưới
chân
hai người, con đường nhựa phủ ánh trăng viền một đường bạc lấp lánh dọc theo dòng sông.
…
Hoài đứng im.
Tim đập rộn rã đến hơn năm phút
sau mới trở lại bình thường. Anh quay gót trở về. Anh đi trên con đường trăng như trong cơn mộng du. Anh đi hay bơi, hay bay, anh không
biết
nữa.
Trên
con đường trăng, con sông
trăng
hay không
gian trăng mênh mông. Điều rõ rệt là bàn tay mát và mềm mại, đôi môi thơm hé
mở,
khuôn
mặt
trắng
ngần
của
cô
gái.
Tất
cả là
nỗi
rung động mãnh liệt đến làm anh chấn động bàng hoàng. Và kỳ lạ thay, ngay
chính
lúc
này,
anh lại cảm thấy nỗi cô đơn của mình. Anh vẫn chỉ là một mình
dù tình yêu
của
anh đã được
đền đáp. Anh đã trở về một mình. Trong đêm
khuya và trăng tứ bề vây phủ.
…………………………………..
Hoài cảm nhận niềm đau chung
của
dân
tộc
một
cách
tự nhiên.
Những
khát
vọng
về quyền làm
người,
quyền
tự
do dân
chủ
cũng
nảy
nở một cách
tự nhiên
như
khát
vọng
về tình
bạn,
tình
yêu
và
tiếp
nhận
tri thức.
Tuổi
mười
tám
là
tuổi
muốn
chinh phục cả thế giới. Nhưng Hoài chỉ sống trong một môi trường nhỏ bé
và
anh phản ứng trước mọi chuyện trong
môi
trường
của
mình.
……………………………..
Dòng sông rực rỡ trong
ánh sáng ban mai. Những đợt sóng lăn
tăn
lấp
loáng
ánh bạc. Vài chiếc thuyền xuôi ngược rẽ nước nhưng không hề khuấy động được
dòng
sông
êm ả.
Sự bình
lặng
của
dòng
sông
như
một
sức
mạnh
trầm
hùng
không
gì
lay chuyển
được. Dòng
sông
là
sự vững chãi
lâu
bền,
là
chỗ
dựa
cho tâm hồn anh từ thuở ấu
thơ.
Dưới
sông,
xác
chết
vẫn
bập
bềnh
tại
chỗ.
Hai hốc
mắt
bị cá
rỉa
thành
hai hố đen ngòm nhìn
xoáy
lên
đám đông. Hoài nổi da gà và cảm thấy buồn nôn. Anh vội vã
bỏ lên
bờ lấy xe đạp
về nhà.
Chao ôi, dòng sông êm
ả của anh
cũng
tàn
ác thế sao. Dòng sông
là
người
mẹ dịu hiền, người bạn tin cậy, sự thanh bình của đời
anh sao lại mang
cái
chết
kinh hoàng đến cho người khác. Không,
không
phải
tại
dòng
sông.
Đó là tội ác của con người. Chính con người giết con người, nào
phải
dòng
sông.
Dòng
sông
bị mắc tiếng oan. Người chết là Việt Cộng? Việt Cộng là ai? Người Việt theo Cộng sản. Cộng sản là
gì?
Cộng
sản
là
kẻ thù
của
quốc
gia như người ta vẫn tuyên truyền hằng ngày. Thực ra, những năm qua, ở tuổi học trò trung
học
vô
tư,
anh chưa nghĩ gì nhiều về vấn đề này. Anh chỉ biết đất nước đã bị chia cắt làm hai miền, mỗi bên
theo một chủ thuyết đối
nghịch
nhau và hai miền đang ở
trong cuộc chiến tương tàn. Miền Nam là thế giới tự do. Miền Bắc là Cộng sản vô thần. Có phải hai miền không thể chấp nhận nhau và nhất định phải tiêu diệt nhau? Vậy thì đâu là dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam? Người nằm chết dưới sông kia nhất định là người Việt Nam. Nhất định người đó có gia đình, người thân, có ước
mơ về hạnh phúc. Người đó đã dám chiến đấu
và
chấp
nhận
cái
chết.
Người
đó đã bị người khác giết chết. Và người đó chắc cũng đã từng giết chết người khác. Người ta hủy hoại lẫn nhau để đạt
được được điều
gì?
Chỉ
tội
nghiệp
cho dòng sông của anh bị mang
tiếng
oan. Dòng sông chỉ là chứng nhân, là nơi ghi dấu tội ác của con người thôi. Dòng sông của anh không bao giờ bị vẩn đục, ô uế, ngay
cả bởi xác
người.
Dòng
sông
của
anh có thể tẩy rửa tất cả vì nó có khả năng vô nhiễm. Anh vẫn có thể đắm mình trong nó
để quên đi
những
phiền
muộn
trong cuộc đời.
Có
thể
nào
như
thế
được chăng?
-------------------------------
Tôi cũng đang
cô độc đây. Nhưng tôi
không
muốn
chia sẻ
với
ai và
không
cần
ai chia sẻ.
Nghiến
răng
lại. Gậm nhấm nỗi cô đơn của mình. Không phải là một thú đau thương hay sao. Cần gì
người
khác.
Lúc tôi cô
độc,
tôi
không
muốn
chia sẻ
với
ai vì
tôi
biết
không
ai chia sẻ
được. Lúc
cô
độc, ngay giữa đám đông tôi vẫn thấy mình cô độc, càng cô độc hơn. Cô độc đến
từ bên
trong, không phải từ bên ngoài. Không thể chạy trốn được
cô
độc vì không chạy trốn được bản thân.
…………………………………………
Tao không cho đây là
cuộc
"chiến
tranh Việt Nam". Nói như thế không đúng. Phải nói là cuộc "chiến tranh ở Việt Nam" vì Việt Nam là tên gọi của một bãi chiến trường. Tại sao thế? Khi chiến cuộc đã xẩy ra và diễn tiến một cách khốc liệt, đẫm máu giữa những người Việt Nam đang cầm súng bắn nhau lại không thể cho đó là cuộc chiến của người Việt Nam hay sao. Không
phải.
Bề mặt của cuộc chiến với những trận tàn
sát
kinh hồn chỉ là hình thức của chiến tranh, của tình trạng những người bị đẩy đến chỗ cầm súng đối diện nhau
và
không
thể
không
bắn.
Những
người
cầm
súng
đó đứng ở
vị trí
thụ
động và những gì xẩy ra
đều vì bó buộc, không thể tránh
được và ngoài ý muốn nên không
thể
bảo
đó là cuộc chiến tranh của họ được. Khi đã mất tự do, mất thế chủ động, họ không thể tạo ra chiến tranh
nhưng
họ phải chịu đựng. Thế thôi.
…………………………..
Vừa
ghen vừa không. Tại anh rất mâu thuẫn.
Anh không
có
ý chiếm đoạt.
Anh tôn
trọng
tự
do của
em và cũng muốn em tôn trọng tự do của anh. Nhưng khi chúng ta ở bên nhau, chỉ có anh và
em thôi. Không có người thứ ba và cũng đừng nghĩ đến người thứ ba.
Sự riêng
tư là
điều
bí
ẩn kỳ diệu của tình yêu. Chỉ hai người thôi. Hai người hòa
hợp
làm
một.
Hai người
khao khát
chia sẻ,
tìm
kiếm,
dâng
hiến,
tiếp
nhận
nhau. Hai người chan
hòa,
tan chảy
trong nhau. Làm
sao có chỗ cho người thứ ba.
Cũng
như
bây
giờ
đây, chỉ có anh
và em, trong
mắt
anh chỉ có em, trong tâm hồn anh chỉ có em.
Anh muốn...
…
Có những điều bí mật không nên cho ai biết cả. Em không
muốn
là
cuốn
sách
mở ngỏ trước mắt anh và anh có
thể
đọc từ dòng đầu đến dòng cuối. Như vậy em
đâu còn gì để
hấp
dẫn
anh nữa. Đọc
xong, anh có
thể
liệng
nó
vào
xó,
đúng không?
- Không đúng. Có những cuốn sách dù
đọc mấy lần vẫn chưa hiểu hết. Còn những điều
giữa hai hàng
chữ,
bên
ngoài
cuốn
sách,
bên
trong tác giả nữa. Huống chi em không phải là
một
cuốn
sách.
Em là
một
tâm
hồn.
Anh biết
tâm
hồn
con người
luôn
là
một
điều
bí
ẩn không dễ gì hiểu được
như
một
trang sách. Huống chi em không phải là
một
cô
gái
bình
thường,
em là một cô gái liêu trai.
………………………………
Ngã hữu thốn tâm vô dữ ngữ
Hồng sơn sơn hạ Quế giang thâm
(Ta có tấc lòng
không
cùng
ai giải
tỏ
Dưới
chân
núi
Hồng
sông
Quế
thẳm
sâu)
Tâm sự của Nguyễn Du là tâm sự của một thi sĩ thiên tài nhưng bất lực trước thời cuộc. Những sinh viên sau Nguyễn Du 200 năm thấu hiểu nỗi lòng của ông, không
chia sẻ
tâm
trạng
bất
lực,
nhưng
lại
đầy hào khí
lấp
bể vá
trời,
quyết
tâm
làm
những
gì
mà
nhà
thơ
thiên
tài
năm
xưa
đã không làm được trong một hoàn cảnh lịch sử mới.
---------------------------------
Em hãy hiểu anh. Anh thương mọi người lắm. Nhưng tâm trạng anh bây giờ anh chỉ muốn sống một mình. Em biết không? Có
những
lúc
anh chỉ muốn một mình thôi. Không có ai chung quanh. Không cần ai chăm sóc. Anh muốn thực sự cô độc. Cô
độc đến tận cùng. Anh muốn thức suốt đêm. Muốn khóc muốn cười. Muốn đi về bất cứ giờ nào không
ai hỏi
han. Anh muốn tự do. Muốn làm chủ hoàn toàn đời mình ngay trong từng sinh hoạt nhỏ.
………………………….
Hoài không ngờ mình
là
người
sau cùng còn tỉnh táo trong đêm nay, một đêm ngông cuồng của mấy gã
sinh viên, trong bối cảnh những cuộc đấu tranh
đang làm rung chuyển Thành phố Thơ yên bình
có
dòng
Sông
Thơm
dịu
dàng
này.
Hoài
biết
những
câu
chuyện
ngông
cuồng
về tình
yêu,
về Lão
Trang, về
Lý
Bạch
chỉ
là
bề nổi của một dòng
tâm
thức
đang sục sôi của tuổi trẻ trước khi lao
vào
vùng
xoáy
không
sao cưỡng được.
Đất nước đã dậy sóng. Làm sao những người trẻ tuổi có
thể
bình
yên
và
lãng
quên
cho riêng mình, cho dù
trong cơn say, trên một con sông xanh êm như ánh mắt của bao nhiêu cô gái tơ mềm ở xứ sở này. Riêng Hoài, trước khi ngủ thiếp đi, anh thấy rõ không còn
bao lâu
nữa,
thế
nào
anh cũng phải nhập cuộc.
--------------------------------------------
Em về rồi. Tôi vẫn còn
đứng đó. Bóng em vừa khuất ở cuối ngõ. Tôi
vẫn
còn
khoanh tay im sững ở đó. Trăng chảy trên vai tôi
như
mưa
đổ trên vai một pho tượng.
Pho tượng
không
nói
một
lời.
Pho tượng
hoang mang thẫn thờ và
nóng
bỏng
biến
cố.
Pho tượng
điên
cuồng
trong một lặng im bão tố ngút
trời.
Một
giờ.
Hai giờ.
Trăng
đổ tung tóe đầy trời. Tôi vẫn đứng đó. Tôi đốt một điếu thuốc. Và điếu thuốc trong
hai ngón tay rung lên
như
một
sợi
tơ đàn.
……………………………….
Và nụ cười tôi tắt phụt đi khi
ra khỏi ngõ nhà anh. Và
nụ cười của tôi
gục
xuống
trong bóng tối. Và nụ cười tôi đã kiệt sức. Và nụ cười tôi đã rũ liệt. Và nụ cười tôi đã chết ngắt, chết cứng.
………………………………
Thế hệ Hoài đang phải đối
mặt
với
bao nhiêu
vấn
đề lớn của đất
nước.
Mọi
sự kiện đều có nghĩa đôi, hai mặt, hay các ý nghĩa hoàn
toàn
trái
ngược.
Đế quốc thực dân núp dưới hình thức viện trợ. Cộng sản xâm lược hay giải phóng dân tộc. Những con bù nhìn được ngụy trang bằng những chức vụ quan
trọng
đứng đắn. Chiến tranh chống Cộng hay chiến tranh tiêu thụ vũ
khí
và
gây
thế
lực.
Cố vấn chính
trị
hay đặt cơ sở tình báo
để khống chế mọi hoạt động yêu nước. Vận động chính trị hay vận động xôi thịt. Hô hào đoàn kết và
đâm lén sau
lưng.
Tôn
giáo
đại đồng hay tôn
giáo
bộ lạc. Tuổi trẻ trong sạch hay tuổi trẻ bị mua chuộc. Tuổi trẻ nhiệt thành hay tuổi trẻ hèn
nhát...
Không
phải
vài
vấn
đề mà hàng trăm vấn đề như thế.
Các thế lực chính trị trong và ngoài nước chia năm xẻ bảy đám dân chúng
khốn
cùng
kiệt
quệ.
Mọi
giải
pháp
hầu
như
đã bế tắc. Tương lai không một chút
ánh sáng. Hiện tại mê cung loạn mắt. Đi vào lịch sử là lảo đảo
chếch
choáng.
Viễn
tượng
tương
lai trong đó dân tộc chỉ còn là một lũ ăn
mày
sự sống bẩn thỉu, một bọn lai căng nham nhở hay những đống xác què
cụt
ngổn
ngang đã làm cho những người tâm huyết của thế hệ Hoài kinh hoàng. Vấn đề đặt
ra cho bây giờ là
phải
mở đường máu với bất cứ giá
nào.
Đã đến
cùng
đường
thì
chỉ
có
đem khát - sống - thú - dữ và cái chết để tìm lối thoát,
ngoài
ra chỉ là ngụy tín hay hèn nhát.
………………………………………..
Tôi thấy chúng ta chỉ trông cậy được ở chúng ta thôi.
Bọn
ngoại
quốc
nào
cũng
là
bọn
chó
chết.
Giúp
đỡ vì nhân đạo, vì lý tưởng này nọ chỉ là chiêu bài bịp bợm, che dấu những hậu ý bẩn thỉu. Trong quá
khứ,
hiện
tại
và
cả mai sau nữa, một cường quốc khi
nhúng
tay vào nội bộ một quốc gia nhược tiểu dưới bất cứ hình thức nào
cũng
là
bắt
đầu một công cuộc vụ lợi. Chúng
ta có
quá
thừa
kinh nghiệm đau xót để tin như thế. Dù thế nào đi
nữa,
chúng
ta cũng
chỉ
có
thể
trông
cậy
vào
sức
chiến
đấu và máu xương của mình
thôi. Đối với tôi, đó là niềm tin bền vững nhất không gì
có
thể
lay chuyển.
…………………………………
Hoài nhắm mắt lại một lúc rồi mở choàng
ra. Dòng sông trước mặt chợt biến hình. Dòng sông xanh êm mà anh đã đầm
mình
tắm
mát
một
thời
thơ
ấu. Dòng sông tuyệt vời ru êm một thành phố hiền hòa không còn dáng vẻ cố hữu nữa. Mặt nước phẳng yên như nâng cao lên,
im sững. Dòng nước chảy vô hình thể chìm sâu bên dưới quằn quại như một con rắn trườn mình. Dòng sông tách làm hai phần. Và
bề mặt lặng yên
phủ
lên
chiều
sâu
cuồng
phẫn,
âm thầm.
………………………………..
Một
người
Việt
Nam gắn
liền
với
đất nước Việt Nam nghèo hèn
khốn
khó
tủi
nhục.
Người
Mỹ,
người
Anh, người
Pháp
có
thể
không
gắn
bó
với
đất nước họ nhiều vì họ giàu có,
xa hoa, đầy đủ. Người Việt Nam ràng buộc với đất nước mình một cách
sâu
xa và
không
thể
giải
thích.
Không
có
luận
cứ,
bằng
chứng
nào
có
thể
mô
tả mối ràng
buộc
thân
thiết
đó. Mỗi người tự cảm thấy. Bởi mỗi ngày có hàng ngàn người Việt Nam chết vì súng đạn của nhau và của ngoại quốc. Bởi ruộng đồng, nhà
cửa
đã bị san thành bình
địa. Bởi thiếu cơm, thiếu áo. Bởi anh em
bạn
bè
gầy
guộc,
đói rách. Bởi bệnh tật đầy
dẫy.
Bởi
tra tấn tù đày,
bởi
lừa
bịp
phỉnh
phờ,
bởi
thương
yêu
khắng
khít.
Bởi
tủi
nhục
mất
nước,
bởi
hàng
nghìn
hàng
vạn
như
thế.
Ai kể hết, ai giải thích cho cùng. Anh đã trót làm
người
Việt
Nam và
chấp
nhận
hi sinh cho đất nước như một nghiệp dĩ vô phương cứu chữa.
……………………………………..
Bây giờ là lúc tôi sống đầy
đủ và nhọc mệt, choáng váng nhất. Thực ra đó là điều tôi mong muốn. Tôi trưởng thành rồi. Tôi phải tự mình đương đầu
với
nhiều
vấn
đề. Tôi vốn không quen nương tựa. Giai
đoạn
lịch
sử băng
hoại
này
đòi hỏi ở những người mới lớn chúng tôi rất nhiều. Chúng tôi thấy có trách nhiệm và cần phải chu toàn trách nhiệm. Chúng tôi không thể cầu an hay hưởng thụ. Ngay cả tình yêu
cũng
trở
nên
nhỏ
bé.
Trú
ẩn trong tình yêu
không
đủ. Sóng gió biển động bên ngoài kêu gọi chúng tôi phải dấn thân. Chúng tôi mê say theo
đuổi
tiếng
gọi
đó và lao vào
những
chuyến
đi. Chuyến đi này cũng
là
một.
Chúng
tôi
không
nề hà
gì.
Tuy nhiên
tôi
chỉ
sợ một điều
là
có
một
lúc
nào
đó mình phản bội mình, nếu không mình trở thành đứng bên lề. Dấn thân là vào một dòng cuốn. Thả buông trôi là điều nguy
hiểm.
Nhưng
cưỡng
lại
còn
khó
hơn.
Dù
sao đi nữa tôi vẫn cố gắng đến cùng, cho đến
lúc
nào
tôi
thấy
sắp
mất
mình
hay lòng
đã nguội lạnh, lúc đó tôi sẽ trở về với mình
để đóng kín bản thân
lại.
……………………………………..
Tôi và em đã dừng lại trên bãi cỏ của bến sông đó để hai đứa có một thanh bình riêng
rẽ.
Chưa
bao giờ
chúng
mình
có
riêng
nhau cả phải không em. Làm
sao em nói được những điều
em muốn nói khi có
mặt
người
khác
và
người
trong gia đình. Bây giờ chúng mình đã liều lĩnh để tạo cho nhau
một
lần
có
nhau trọn vẹn. Em đã dối mẹ và tôi đang bị truy nã. Hai đứa đã quyết định đi với nhau
trong giờ giới nghiêm của thành phố chết đang trải qua những cuộc lùng bắt bố ráp.
Tôi và em đã dừng lại trên bãi cỏ loang lỗ bóng trăng
đó. Tôi nhìn vào mắt em. Tôi nhìn
vào
một
vùng
sương
khói
đẫm trăng không
bến
không
bờ và
hai hàng mi chìm xuống như một thoáng
gợn
liêu
trai bập bềnh trôi
dạt.
Tôi
nhìn
sâu
vào
mắt
em. Tôi nhìn vào đôi
mắt
chợt
trở
nên
thơ
dại
như
mắt
một
đứa bé khi
bú
sữa
ngước
lên
nhìn
mẹ mà
tiếng
nói
thiết
tha đã trở nên vụng dại, đã trở nên hoang sơ như tự một thuở khai nguyên nào.
Tôi si mê nhìn vào mắt em
và
bỗng
dưng
thấy
mình
ngất
ngư
choáng
váng
trong một nỗi phiêu bồng lên cao sương khói.
Tôi
quên
hết
mọi
ý niệm dục tình. Tôi
tưởng
rằng
khi có riêng em tôi
sẽ điên
cuồng
hôn
em cho cả hai
cùng
ngất
ngư
mệt
lử.
Thế
nhưng
tôi
quên
rằng
tôi
phải
hôn
em cho sượng sùng tê
điếng. Tôi đã quên hết khi nhìn vào mắt em. Khi nhìn vào
một
nỗi
phù
du trìu
mến.
Khi nhìn
vào
một
vùng
hư không
thanh thoát.
Tôi quên tôi.
Tôi quên cả ngày mai phải xa em để làm một kẻ trốn chạy trên đường bị truy nã.
…………………………………
Tiếng ổ
khóa
nghiến
lên
ken két.
Cánh
cửa
mở ra. Người cảnh sát nắm tay Hoài đẩy anh vào phòng.
Cánh
cửa
đóng ập lại sau
lưng
anh. Tiếng ổ khóa nghiến một cách hung tợn. Hoài nhắm mắt trong
một
giây.
Anh nghĩ
thầm:
Thế
là
xong. Việc gì phải đến
đã đến.
Mình
đã chờ đợi
giờ
phút
này
từ ba tháng nay. Ba tháng chạy trốn chui rúc. Thực ra cũng chẳng có
gì
sợ hãi
hay hối
tiếc.
Bao nhiêu
bạn
bè
từng
sát
cánh
tranh đấu đã lần lượt rơi vào tay cảnh sát.
Từ khi phong trào bị dập tắt bằng bạo lực, màng
lưới
cảnh
sát,
an ninh quân đội đã được
tung ra để
truy lùng bọn phiến loạn. Hừ, bọn phiến loạn. Cách gọi xấc láo của bọn cầm quyền có sức mạnh của vũ khí ngoại bang. Hành động để thể hiện lòng yêu
nước,
tranh đấu cho chủ quyền, tự do, dân chủ, bị gọi là
phiến
loạn.
Nhưng
điều
đó có quan trọng gì.
Lý
của
kẻ mạnh trong nhất thời chứ không phải trong trường kỳ lịch sử. Và ta sẵn sàng
trả
giá
hành
động của mình. Nơi đây. Chốn lao tù này.
…………………..
Đồng bào anh là
ai? Họ
nghĩ
gì,
sống
như
thế
nào,
thực
sự khát
vọng
những
gì?
Và
một
tia sáng bỗng lóe lên trong óc anh. Trước hết, nơi đây, đồng bào anh là
ba người tù cùng phòng, là ông Tư, là bác Ba, là Kỳ. Anh đã hiểu biết gì về họ chưa, đã chia sẻ gì với họ chưa mà anh dám
tự nhận là
chiến
đấu cho
họ.
Có
một
điều
làm
anh ngạc nhiên hơn nữa khi nhận ra
rằng
ba người tù cùng phòng đã hết sức tử tế lo lắng cho
anh dù việc đó không có lợi gì cho họ cả. Quả thực như vậy vì
anh cũng chỉ là một thằng tù không hơn không kém. Anh có thể bị tra
tấn,
kết
án, đày đi biệt xứ và thân mật với anh nhiều khi
có
hại
cho họ nữa là đằng khác. Thế thì tại sao họ đã làm như vậy dù
anh vẫn tỏ ra bất cần, lạnh nhạt. Đó có phải là vì bản chất tốt đẹp
của
họ luôn
muốn
cảm
thông,
chia sẻ,
đùm bọc lẫn nhau khi
chung cùng cảnh ngộ. Đó là một thiện ý đã biểu lộ sâu sắc tình người, đặc
biệt
nơi
những
người
bình
dân
chất
phác
và
ít học. Hoài không tìm hiểu những điều đó và những điều tương tự nơi đồng bào anh thì
những
ý tưởng cao
siêu,
hoa hòe về Đất Nước, Đồng Bào
sẽ lả tả rơi rụng hết.
Từ trước anh
chưa
được đấm lưng bao giờ. Hoài không ngờ rằng có
lúc
những
người
xa lạ,
khác
tuổi
tác,
khác
hoàn
cảnh
này
lại
đấm lưng cho
anh. Một niềm xúc động thoáng dâng lên trong lòng.
Anh cảm
thấy
vô
cùng
gần
gũi
với
những
người
bạn
tù
trong phòng, những đồng bào đích thực mà từ trước anh chỉ nghĩ về họ một cách mơ hồ và
cách
biệt.
Anh chợt
thấy
xấu
hổ khi nhớ lại những lời hô hào, những bài phát thanh về đồng bào trong những ngày tranh đấu. Anh đã hoàn toàn nói ra những ý sáo, lời sáo
mà
anh không hề hay biết. Anh tự hỏi, trên đất nước này, còn bao nhiêu nhà
lãnh
đạo, bao nhiêu
chính
khách,
nói
về đồng bào một cách
sáo
rỗng
như
thế
nữa
trong khi họ thực sự không
hiểu
biết
gì
về đồng bào của họ cả, nhất là
mấy
ông khoa bảng ở Tây
ở Mỹ về tham
chính.
Họ có
ngụy
tín
không
hay họ
chân
thực
một
cách
ngu dốt và ấu
trĩ.
Thật
mỉa
mai và cũng thật đau lòng.
…………………………….
Mẹ đã nuôi Hoài, nuôi các
con, bằng
nước
mắt
và
nhọc
nhằn.
Mẹ
long đong suốt một đời.
Dù
thế,
thầy
mẹ đã cố sức cho con vào đại học. Và Hoài trưởng thành trong môi trường sách vở, trí thức. Và đứa con đã khôn lớn ngoài vòng tay của mẹ, giữa muôn
cảnh
đời khốn khó. Mẹ thương
con, nuôi
con lớn
nhưng
không
hiểu
con được. Mẹ không
hiểu
con đã nghĩ gì, làm gì trong hoàn
cảnh
bão
bùng
này
của
lịch
sử.
Mẹ chỉ lo vùi
đầu kiếm sống. Xã hội này đã làm mẹ đầu
tắt
mặt
tối
suốt
một
đời, không
bao giờ
ngẩng
mặt
lên,
không
hiểu
được thế nào là
bước
đi của lịch sử. Đôi lúc mẹ có
phẫn
uất
nhưng
lòng
phản
kháng
đã bị đè bẹp, chỉ thoát ra bằng những lời thở than buồn chán,
những
giọt
nước
mắt
ưu phiền.
Nhưng mẹ đã nuôi con lớn. Và con đã trưởng thành. Con đã thấy rõ mình đang bước đi trong
dòng
lịch
sử.
Con phải
hiên
ngang phấn đấu
để xứng đáng với tình thương và
nỗi
nhọc
nhằn
một
đời của mẹ.
…………………………..
Cuộc
tìm
kiếm
phù
phiếm.
Cơn
đau nhức phù phiếm. Hành trình tư tưởng phù phiếm. Như cơn choáng váng
của
một
cốc
rượu
mạnh,
một
điếu
thuốc
phiện,
một
liều
ma túy.
Tất
cả đã đưa
anh bay lên rất cao, mù khơi thăm thẳm, đứt lìa với sự sống chân
thực
hàng
ngày.
Anh đã mải mê theo đuổi
những
điều
đó. Như
rất
nhiều
kẻ được gọi là trí thức, triết gia,
nhà
tư tưởng. Nhưng anh đã như con diều đứt
dây,
sau cơn bay lượn, đã lảo đảo
rớt
xuống
mặt
đất. Rất nhiều lần anh đã tự nối lại dây cho con diều, để nó nương gió bay lên. Nhưng rồi nó
vẫn
đứt dây rơi xuống. Cơn khủng hoảng đó chỉ là một vòng lẩn quẩn. Anh vẫn còn là người thì không thể rời bỏ đời
sống
chân
thực.
Và đời sống chân thực là gì? Là căn phòng bé nhỏ này với năm người tù đang lặng lẽ ưu phiền. Là bác Ba bị bắt vì
muốn
bám
đất quê hương. Là ông Tư bị bắt vì phản kháng bóc lột. Là Kỳ bị bắt vì cờ bạc, thụt két. Là Nam, là anh
bị bắt vì
đòi chủ quyền, tự do dân chủ. Là phong trào
tranh đấu thất bại. Là âm
mưu
của
thực
dân
đế quốc. Là chiến tranh, là hòa bình...
Đời sống chân thực đặt ra
muôn
vàn
vấn
đề, bày ra muôn
vàn
trở
lực.
Giải
quyết
đời sống chân thực còn
khó
khăn
hơn
muôn
lần
giải
quyết
những
vấn
đề trí thức phù phiếm. Cơn khủng hoảng tâm linh thuở mới trưởng thành cần thiết nhưng phải qua đi để dọn mình đương đầu
với
đời sống. Và cuộc chiến đấu giữa đời này mới là
cuộc
chiến
đấu cam go, đẹp đẽ và bi tráng nhất.
………………………….
"Hết giờ thăm nuôi."
Gã
cảnh
sát
nhắc
tôi
một
cách
thô
bạo.
Siam đã giã từ tôi thế nào tôi không biết nữa. Tôi bàng hoàng đứng đó nhìn Siam đi
ra. Hình như Siam có ngoảnh lại vẫy tay cười, môi mấp máy.
Tôi
bị gã
cảnh
sát
lôi
đi với gói quà của Siam trên tay. Tôi
ngẩn
ngơ
như
kẻ không
hồn.
Tôi
bước
đi khấp khểnh như trên một đường sạn đạo
gập
ghềnh.
Tôi
nghe vang lên tiếng gọi thầm cầu cứu tôi ơi,
tôi
ơi.
………………………….
Hoài bỏ không ra đứng ở
cửa
sổ để đợi
nhìn
cô
gái
nữa.
Cô
đã biến thành một sức nóng nung đốt lòng phản kháng
và
ý chí đấu tranh
nơi
anh. Hình ảnh dịu dàng tinh khiết của cô,
tình
yêu
câm
nín
siêu
thoát
của
anh dành cho cô
không
cần
thiết
nữa.
Tất
cả đã thể nhập vào con tim nồng nàn
ngọn
lửa
thiêu
xiềng
hủy
xích
của
người
tù
sinh viên trẻ tuổi.
…………………..
Tôi thức dậy trong đêm. Bây giờ là mấy giờ. Giờ thứ 25 trên đất nước. Giờ thứ 25 trên đất nước. Không. Không. Tôi không thể chết được.
Dân
tộc
tôi
không
thể
bị tiêu
diệt.
Dân
tộc
tôi
trường
kỳ
kháng chiến trong hàng ngàn
năm
lịch
sử.
Lịch
sử đất nước tôi viết bằng máu
và
nước
mắt.
Lịch
sử đó không thể chết ngộp trong giờ thứ 25 này. Đây không phải là giờ cuối mà là giờ khởi đầu
một
trang sử mới. Tôi phải phấn đấu
để góp sức viết tiếp dòng lịch sử cùng với anh em
đồng bào ngoài
kia trùng
trùng
lớp
lớp.
Tôi
chợt
nhớ
đến lời của anh
bạn
văn
công
khi biết anh không được trả tự do vì địa phương anh
không
dám
nhận:
"Cần
quái
gì
phải
có
ai nhận.
Bước
ra khỏi cổng trại giam này là
hổ đã về rừng ." Rồi có ngày tôi cũng sẽ là hổ về rừng. Tại sao
tôi
lại
tuyệt
vọng.
Tôi
đứng lên đi tới cửa sổ. Mọi người đang ngủ yên. Tôi
cầm
lấy
hai song sắt lạnh buốt trong tay
mình.
Mười
ngón
tay bấu chặt làm những bắp thịt gân tay nổi lên
cuồn
cuộn.
Tôi
có
cảm
tưởng
hai chấn song sắp sửa cong vèo đi dưới bàn tay cuồng nộ của mình.
……………………………
Còn những chuyện thời cuộc, chính trị trào sôi anh đã sống trải và trả giá, tất cả đã qua đi rồi tiếp tục những giai
đoạn khác. Vẫn chưa có gì sáng sủa trên đất nước này. Vẫn chiến tranh, hận thù, tranh chấp, phân ly với trăm
ngàn
thủ
đoạn.
Những
vết
thương
trên
mặt
đất, trên
thịt
da và
trong tâm hồn vẫn sâu thêm, lở lói. Khát vọng thanh bình, khát
vọng
tự
do dân
chủ
vẫn
cháy
bỏng
nhưng
nghẹn
ngào
nơi
những
tâm
hồn
bị khủng bố, xua đuổi, đày đọa, giam cầm, trong những thành phố ngột ngạt, những vùng
nông
thôn tiêu điều đồng khô cỏ cháy và
loang lỗ vết bom đạn.
Hoài là kẻ tràn
đầy khát vọng và
tinh thần phản kháng. Anh và bạn bè, những người cùng
một
thế
hệ trào
sôi
lý
tưởng
không
muốn
đứng bên lề. Các anh muốn đi trong lịch sử, làm nên
lịch
sử với những giấc mơ lấp bể vá
trời.
Nhưng
các
anh cũng thật nhỏ bé. Lịch sử đất
nước
vẫn
đi theo con đường chông chênh
của
định mệnh, nhưng các anh tự hào là những kẻ đã nhập cuộc và dấn thân.
Hoài đã suy niệm sâu xa về lịch sử, về đất
nước
và
con người,
về những giá
trị
nhân
bản,
nơi
chốn
tận
cùng
ngục
tù
của
đời sống. Nơi đó, trong đêm đen của vực sâu, tâm
thức
anh đã đốt lên ngọn lửa phá xiềng, xiềng xích của nô lệ, hận thù, lầm lạc, yếu đuối và cả tham lam, kiêu
hãnh.
Giờ đây,
trên
cánh
bay về
tương
lai, Hoài thấy mình mang đầy đủ hành trang của tri thức và
cuộc
sống
để tiếp tục con đường chinh phục.
TRÍCH ĐOẠN TIÊU
BIỂU
TỪ TIỂU THUYẾT NỬA ĐỜI NHÌN LẠI
Không thể có tự do tuyệt đối
vì
ai cũng
phải
lựa
chọn
một
cách
sống
hoặc
bị
du vào
một
thế
sống
nào
đó và tất yếu phải có ràng buộc dù là tự nguyện hay bị cưỡng bách. "Tự do hay là chết”, lý tưởng thời trẻ của anh,
xét
cho cùng, thực ra có ý nghĩa hết sức tương đối. Đạt
đến cái tương đối đó đã khó và phải chăng khát vọng tuyệt đối
chỉ
là
một
giấc
mơ
bi thảm
của
con người.
(t32)
…
Tự do hay là chết. Chao ôi, đó chỉ là khát vọng ngông cuồng của thời trẻ tuổi. Không làm gì có tự do tuyệt đối
trên
đời này nếu còn
có
liên
hệ với người khác.
Có
người
khác
là
mất
tự
do, nhưng
tìm
về người khác
lại
là
bản
năng
và
cũng
là
khát
vọng
vĩnh
cửu
của
con người.
Đôi lúc đi
giữa
một
thành
phố
lạ,
Hoài
chợt
run người,
lạnh
buốt
xương
da khi nghĩ rằng trong thành phố này
mình
không
hề có
một
người
thân
thiết
và
hoàn
toàn
xa lạ
giữa
muôn
vạn
người.
Ngược
lại,
dù
không
gặp
hay chưa
gặp,
anh cũng thấy ấm lòng
khi biết rằng giữa trùng trùng người xa lạ kia, có một người, chỉ cần một người, đối
với
mình
đã từng chia sẻ, gần gũi, và gặp gỡ nhau sẽ trở thành một hạnh phúc
không
gì
sánh
được.
Phải
chăng
anh đã rơi vào bi kịch vì đó là bi kịch của lịch sử và
cũng
là
bi kịch
của
chính
cá
nhân
anh, của bất cứ ai có chút tấm lòng với lịch sử?(134)
…
Hôm nay, ở đây, chính
là
một
ngày
nào
đó, một nơi nào đó, trong thời gian và không gian, tôi đã tìm em. Tôi đã tìm em những nơi em đã qua. Nhưng lời hẹn thề của em đã bay tan trong gió.
Và
tôi
chỉ
tìm
thấy
tôi
- hay chính
là
tôi
đã đi tìm tôi
- giữa
chốn
hư vô.
…
Nhưng tình cảm không phải là điều có thể tính toán
và
khéo
léo
sắp
xếp
gọn
gàng
ngăn
nắp
trong tâm hồn như sắp xếp đồ vật trong
gian phòng. Tình cảm như con ngựa bất kham chợt lồng lên, như cơn gió
lốc
tự dưng xoáy
tròn
bốc
cao đến
tận
trời
xanh, như hoa nở về đêm
âm thầm tỏa hương, như sương mù mỗi sớm mỗi chiều trên xứ sở này cuồn cuộn dâng lên rồi lại lan đi trong khoảnh khắc. Thế nào là
trung thành và chung thủy khi vợ chồng nằm bên nhau, đầu gối tay
ấp mà vẫn, "đồng sàng dị mộng"? Chao ôi,
sao anh suy
nghĩ quẩn quanh lắm thế! Đúng anh là con ngựa hoang đã bị xiềng. Tuổi hai mươi anh
tung bờm
trong gió lộng thảo nguyên nhưng ở tuổi bốn mươi, anh không dám
cúi
xuống
cả bãi
cỏ
non trước
mặt.
Anh mất
tự
do rồi
sao? Có thể nào cuộc đời,
hôn
nhân,
yêu
thương,
trách
nhiệm
đã làm anh trở nên
một
tên
nô
lệ thảm hại, dù
là
một
tên
nô
lệ tự nguyện?
…
Từ thuở mới mười sáu tuổi, anh đã bắt đầu
cuộc
đuổi
bắt
này
và
hầu
như
suốt
đời, anh là kẻ không bao giờ tới đích. Phải chăng anh đã đuổi bắt ảo ảnh, một cái gì gần với tuyệt đối
và
hư vô,
những
khái
niệm
không
xác
định được nội dung, hay chỉ là
nỗi
niềm
khao khát
của
một
đời người?
…
Hình như trong buổi chia tay
ở thành phố Sương Mù,
trong nỗi đắng cay và tuyệt vọng, em đã có nói: "Dù sao
đi nữa, em vẫn tin rằng, một ngày nào
đó, một nơi nào đó, chúng
ta sẽ
lại
gặp
nhau, dù sau bao lâu
đi nữa, có thể là sau cả sự lãng
quên".
Có
phải
đó là lời hẹn thề của em, một lời hẹn thề ở chốn hư vô và nay đang bay tan trong gió?
Tôi
đã đuổi theo em,
đã đi tìm em theo lời chỉ dẫn mơ hồ của những ngọn gió đã tan tác trong không
gian xanh cao vời vợi. (t143)
…
Chao ôi? Thế nào
là
tự
do? Có
phải
tự
do là
muốn
yêu
ai thì
yêu,
làm
gì
thì
làm?
Không
đâu, anh yêu ai, làm
gì,
anh sẽ bị ràng buộc với người đó, việc đó không sao tránh
được. Đòi hỏi tự do tuyệt đối
chỉ
là
điên
rồ,
không
tưởng.
Vy nhìn Hoài nằm thiêm thiếp, ý nghĩ cô quay cuồng và chợt cô đau xót khi thấy rằng con người thân
yêu
đang nằm kia không thuộc về cô. Anh là một kẻ đãng tử trên trần gian này và
không
ai ngăn
được bước chân phiêu
lãng
của
anh, ngay cả tình
yêu
đằm thắm cô đang dành cho anh bằng cả một đời
tận
hiến.(t149)
…
Tình yêu của em
là
tình
yêu
dành
cho một con người tự do có khả năng từ chối. Anh hãy từ chối em - nếu cần như thế - với tất cả bản lĩnh của anh nhưng đừng biến thành một con người khác. (t154)
…
Thế mà đã có lúc, hồi mới giải phóng, khi làm
công
tác
đoàn,
nói
chuyện
với
thanh niên, anh đã phê phán những bài hát này và cả những người hát nó. Lúc đó anh
thành
thực
tin rằng
thời
đại không cho phép những nỗi buồn riêng và những giai điệu
sầu
muộn.
Anh đã cuồng tín và cực đoan khi
tiếp
thu chủ nghĩa cộng sản. Bây giờ, ngược lại, anh cảm thấy trong
bất
kỳ
hoàn
cảnh
nào,
những
bản
tình
ca, những
lời
yêu
thương,
những
nỗi
muộn
phiền
riêng
tư vẫn mãi
mãi
bất
tử vì
đó chính là con người. Con người cao
hơn
và
trường
cửu
hơn
chủ
nghĩa
cộng
sản
hay bất
cứ chủ nghĩa
nào.
Như
thế
phải
chăng
đã có những lúc anh phản bội chính
mình,
một
cách
chính
đáng và không tự giác? (t 173)
…
Rất nhiều người tự nhận là văn nghệ sĩ nhưng trong họ chất chính trị mạnh hơn chất nghệ sĩ.
Bản
chất
của
chế
độ đã làm cho chất chính
trị
phát
triển
mạnh
lên
thành
chất
cơ hội. Điều
đó đã làm hư hỏng biết bao văn nghệ sĩ, suốt từ Cách mạng tháng 8 đến nay.
Chế độ
đã làm họ hèn đi,
xu phụ
quyền
thế,
uốn
cong ngòi bút, đánh mất lương tâm, lụi tàn lòng phản kháng, lu mờ sự chính
trực.
Lỗi
ở họ một phần nhưng nguồn gốc của tai họa chính là
ở chế độ.
Một
chế
độ độc
đảng, độc trị, độc tài, tất yếu không
thể
dung thứ
được tự do, dân chủ và
chính
trực.
(t208)
…
Bất
cứ nhân
danh gì cũng không được chà đạp lên hạnh phúc của con người, coi con người chỉ là
công
cụ.
Rộng hơn là chế độ này đã không đánh giá đúng con người và không có chiến lược con người đúng đắn như họ vẫn rêu rao. Con người cao hơn cộng sản nhiều, cao
hơn
tất
cả mọi chủ nghĩa,
mọi
chế
độ chính trị trong khi
cộng
sản
và
các
chủ
nghĩa
lại
muốn
đứng trên và
chi phối
con người.
Đó không phải chỉ là thảm kịch của chế độ cộng sản mà của nhiều chế độ,
nhiều
thời
đại, khi những kẻ nắm quyền lực bị tha hóa, mất phẩm chất con người.(t225)
…
Chúng ta đều là những con thiên nga bị vặt trụi cánh
trên
đời, cứ nằm trên
mặt
đất mà mơ ước
trời
xanh nước rộng. Con ngựa hoang trên đồng vắng, một mình dưới vầng trăng
lẻ loi và cô đơn. Đó không phải chỉ là anh, đó cũng chính là em, là
nỗi
cô
đơn của một kiếp người.
…
Lá thư này gởi cho các bạn chính
là
đoạn
kết
của
tác
phẩm
đó. Thực ra không phải tôi
chỉ
sáng
tác
khi ngồi viết mà chính ra tôi
sống
với
tác
phẩm
trong mọi lúc, kể cả trong giấc ngủ. Tôi nghĩ
về tác
phẩm
trên
mỗi
bước
chân
thầm
lặng,
mỗi
nhát
cuốc
bổ sâu
vào
lòng
đất. Tôi
phẩy
tác
phẩm
nơi
đóa hoa hé mở, nơi gốc cỏ dại chen
lẫn
trong vườn rau. Tôi nghe tác phẩm trong những câu thơ xưa, những hồi ức về mọi chuyện vọng về ngân nga trong trí tưởng. Tôi hiểu tác phẩm khi thấy mặt trời lên và
chìm
trong bóng đêm.
Tôi liên tưởng đến tác phẩm khi nghe những bản tin thời sự về đủ
mọi
vấn
đề đang diễn ra
khắp
nơi
trên
thế
giới.
Tôi
hòa
tan vào
tác
phẩm
khi niềm đau nhức, cơn khắc khoải dậy lên trong cả hồn xác. Tóm lại tôi đã viết tác phẩm bằng toàn
bộ
con người
mình
trong mọi nơi, mọi lúc. Tác phẩm chính là tôi, cuộc sống của tôi. Đó là một cuộc sống hòa lần giữa thực và
mơ,
một
sự tồn tại đầy đủ nhất mà tôi đã có từ trước tới nay.
Tác phẩm bao gồm những con người, sự việc có thật và những nhân vật, sự việc hư cấu hay một phần hư cấu. Con người và sự việc có thật mang chính tên
họ của mình
và
như
đã xảy ra trong
thực
tế.
Dĩ
nhiên
cách
trình
bày
và
nhìn
nhận
là
của
người
viết.
Tác
phẩm
xuất
hiện
từ cuộc đời, làm
sao nó có thể thiếu vắng hiện thực. Tôi hiểu cuộc đời
qua chính
tôi,
qua những
người
quen biết, những điều trông thấy, sống trải. Tôi xây dựng tác phẩm từ đó chứ không thể lấy chất liệu từ hư không (dù hư không chính là quê hương tôi sẽ quay về khi
từ giã
cuộc
sống
này).
Tôi
không
cần
ám chỉ. Tôi viết những điều tôi nghĩ, tôi chiêm nghiệm về mọi người, mọi chuyện. Đó là quyền tối thượng của nhà văn, một con người có ý thức rõ ràng về việc mình làm. Tuy nhiên đây là tác phẩm, là tiểu thuyết, nên thực ra nó không phải là
cuộc
đời mà chính là
cuộc
đời đã thăng hoa trong nghệ thuật. Đó cũng là quan niệm giản đơn của tôi khi sáng tác. (t228)
TRÍCH ĐOẠN TỪ TÁC
PHẨM MẢNH TRỜI XANH TRÊN THUNG LŨNG


Hoa súng vàng
Rồi những hoa
súng vàng trên chiếc ao bé
nhỏ
của
tôi cũng tàn. Khi một bông hoa
khép cánh lại, nghiêng người chìm dần xuống làn
nước
đục,
tôi thảng thốt kêu lên:
"Hoa súng vàng ơi,
em có đau đớn không?"
Hoa gượng
lại,
ngẩng
nhìn tôi và mỉm cười: "Không đâu. Em đã hiến dâng
vẻ đẹp mong manh cho
đời
và bây giờ em
trở
về với bùn đất để làm cuộc tái
sinh thôi. Hãy chờ em."
Và tôi đã chờ. Và em đã
không lỗi hẹn. Những búp mầm mới lại sinh
sôi và một sáng
nào đó, em
lại
nhô ra từ làn
nước
đục,
với
nụ cười sóng sánh tinh
khôi. Em liếc mắt nhìn tôi
thì thầm một lời mật ngọt: "Em không thất hứa đâu. Em đã đến và
em sẽ đến cùng anh
qua suốt
cuộc
luân hồi khi anh
vẫn
còn ngồi chờ em bên
bờ trần gian khổ lụy."
Cám ơn em vô cùng, hoa súng
vàng
mảnh
mai như một nàng tiên
nhỏ
đã thề ước và bầu bạn cùng tôi nơi khu
vườn
khuất
nẻo
hoang sơ này.
(Trích “Mảnh trời xanh trên thung
lũng” của TDBC)

Tự do
Tôi yêu tự do và
không thể sống tự do mà không
dấn
thân vào cuộc chiến đấu. Đó là cái
gía phải trả cho tự do. Tự do không
phải
là tặng phẩm trời cho. Tự do không
phải
ngồi
đợi
để được ban phát. Tự do không bao giờ vô điều kiện. Tự do nằm trong mối quan
hệ giữa con người và con người và giữa con người với thiên
nhiên. Tự do là cuộc đấu tranh
với
chính bản thân. Tự do là
khát vọng thường trực của phận người luôn luôn
bị giam hãm trong
đủ mọi thứ ngục tù. Tự do là giấc mơ lãng đãng bay lượn
trên vòm trời chật hẹp của cuộc sống. Tự do ở bên trong và bên trên
mọi
yêu ghét tầm thường tục lụy.
(Trích Mảnh trời xanh trên thung
lũng của TDBC)

Chim én trắng
Lần đầu tiên
đi với một cô gái
trên đường phố Sài Gòn.
Với
dáng người thanh mảnh, trên
đôi giầy bic cao
gót màu nâu,
em cao gần bằng tôi.
Liếc
nhìn sang, khi không cười nói, em
có một vẻ buồn lạ lùng. Tôi
nghĩ nỗi buồn từ trong sâu
kín của tâm hồn tỏa ra
trên toàn bộ nét mặt, nhất là trong
đôi mắt mơ hồ sương khói sau cặp kính cận. Vẻ u sầu phảng phất đó làm
tôi nhói lòng, như chạm phải một nét đau
thương,
như
động chạm
đến
chính hồn tôi đang
tê tái. Tôi
hiểu
rằng
mình vừa từ bỏ một cuộc tình sôi
nổi
vui tươi nhưng có phần hời hợt, bước qua một chặng đường khổ nạn cô độc đến tận cùng và
sẽ bước vào một cuộc tình mới mê
đắm
và bi thương.
(Trích Mảnh trời xanh trên thung
lũng của TDBC)

Nhóm Đà Lạt
Bùi Minh Quốc, Hà Sĩ Phu, Mai Thái Lĩnh
và tôi, bốn người có
xuất
thân và quá
trình, tính cách, sở trường, hoàn cảnh hoàn toàn khác nhau
nhưng
chúng
tôi
đã dần dần họp lại thành
một
nhóm. Điều đã gắn kết chúng
tôi là khát
vọng
tự
do. Đó chính là "đồng thanh tương ứng, đồng
khí tương cầu" trong hoàn cảnh mới của đất nước.
(Trích Mảnh trời xanh trên thung
lũng của TDBC)

Khu vườn
Chúng tôi mua căn nhà này
chỉ
vì trong vườn có một giếng nhỏ có đám
lau sậy trổ bông trông
rất
hoang sơ. Tôi không thèm chú ý đến căn nhà cũ gỗ mục mối ăn
mà chỉ mê những bông
lau trắng phất phơ trong gió.
(Trích Mảnh trời xanh trên thung
lũng của TDBC)

Viết và tác phẩm
Tôi viết
vừa
dễ vừa khó. Dễ vì tôi
đã từng trải nghiền ngẫm sự việc một cách sâu
sắc.
Khó vì tâm
trạng
tôi chưa ổn định, hàng
ngày vẫn có những việc khác
làm tôi bức xúc.
Hơn
nữa
tôi biết viết ra chỉ để viết ra,
chắc
chắn
sẽ không có nhà
xuất
bản
nào ấn hành tác phẩm của tôi. Tôi
tự nghĩ viết trước hết là cho
chính mình, để phản tỉnh, sám hối và may ra
gởi
thế
kỷ mai sau.
Tác phẩm
đã trở thành sự sống thứ hai
của
tôi. Dù viết hay không,
tôi vẫn nghĩ về tác
phẩm
của
mình mọi nơi mọi lúc. Sự ngân
nga của một tác phẩm đang
hoài thai và phát triển đã
mang đến cho tôi
những
giờ
phút xuất thần và mê
đắm.
Ít ra đó
là lạc thú đầu tiên
tôi được hưởng dù tác
phẩm
sau này có
ra đời hay không. Tâm hồn tôi không bao giờ yên
tĩnh. Sóng gío hầu như đã trở
thành bản chất của một tôi lúc
nào cũng tự vấn hoài nghi.
(Trích Mảnh trời xanh trên thung
lũng của TDBC)

Hôn nhân
Hôn nhân là cuộc sống chung khó khăn
nhất
trong mọi cuộc sống chung. Đối với những người khác,
bất
cứ là ai, ta có thể va
chạm,
giận
dữ xung đột, oán hận nhưng rồi ta có
thể
quên vì giữa ta và
họ ít nhiều có một khoảng cách.
Còn trong hôn nhân không
có khoảng cách. Trong hôn nhân người ta gần nhau không phải chỉ trên cùng một chiếc giường, một căn
phòng, một mái nhà
mà còn trong
tâm hồn, trong nghĩ
tưởng,
trong hiện tại, quá khứ và
cả trong tương lai. Chỉ cần một lúc
lạc
nhịp
hay không hòa điệu là sự gần gũi có
thể
trở
nên nặng nề cấn cái.
(Trích Mảnh trời xanh trên thung
lũng của TDBC)

Hôn nhân (2)
Chưa kể đến những điều lầm lỡ. Và
điều
kinh khủng của hôn nhân
không phải là quá
trình lầm lỡ mà tiếp tục lầm lỡ trong
cả quá trình. Chúng
tôi đã có
những
điều
lầm
lỡ và đã trả gía
cho sự lầm lỡ của mình. Trong cuộc sống chung, mọi vấn đề luôn luôn
được
đặt
ra, cũ và
mới.
Cũ phát triển thành
cái mới và mới gợi lại cái
cũ. Trong hoàn cảnh của chúng tôi hiện nay, những vấn đề lại được đặt ra
dưới một góc cạnh khác,
một
ánh sáng khác. Tôi tiếp tục nghiền ngẫm về ý nghĩa
của
hôn nhân và điều này chi phối tôi
mạnh
mẽ không kém gì,
có khi còn
hơn
những
vấn
đề chính trị thời cuộc.
Có người
hiểu
tôi và từng nói:
Chính trị và tình
yêu là hai
trò chơi chết người mà anh
đã tham dự vào,
lại
dấn
thân một cách hết mình.
Tôi không còn cách nào
khác là mở hết tâm
hồn
ra để nhận lãnh mọi vinh
quang và nhọc nhằn của cuộc-chơi- đời
mà tôi đã
sống
trọn.
(Trích Mảnh trời xanh trên thung
lũng của TDBC)

Ăn năn, sám hối, cầu nguyện
Ăn năn
Dù sao những giờ phút
ăn năn và
tràn đầy thiện ý cũng là
những
giờ
phút hạnh phúc. Có
thể
chỉ
là phút giây
thôi. Nhưng trong những phút
giây này những đóa hoa nở ra
trên con đường thiên lý
của
cuộc
làm người.
Sám hối
Chính sự sám hối sẽ cứu rỗi dân tộc và
con người
chứ
không phải là những lời lẽ ba
hoa về chính nghĩa
và chiến thắng.
Cầu nguyện
Từ trước
tôi chưa hề biết và khinh
bỉ cầu nguyện.
Nay tôi cầu nguyện và chúc
lành cho những người thân yêu, cho
bạn
bè, cho cả những người coi
tôi là "kẻ thù" dù tôi
không có kẻ thù. Nhưng cầu nguyện không phải là
thôi đấu tranh.
(Trích Mảnh trời xanh trên thung
lũng của TDBC)

Một thoáng phù du điên rồ
Phải chăng anh
chỉ
là một sự say mê phù phiếm trong
cuộc
đời
này. Anh không thuộc về anh, không thuộc về em,
không thuộc về ai cả. Anh chỉ là một thoáng
phù du điên rồ.
"Cái gì của riêng anh"
có đưa em ra
khỏi
anh không? Hỡi "sự
say mê phù phiếm trong cuộc đời này"?
Đã bao đêm, đã bao ngày, từng giây từng phút,
em tự hỏi cái gì
đã giữ em có mặt trong cuộc đời anh suốt gần hai
mươi
năm
qua. Lòng yêu thương! Sự cảm thông ! Chia sẻ! Và nếu không
hiểu
anh thì làm
sao được ???
Dù sao trong em duy nhất chỉ là
"Tấm
lòng"!.
(Trích Mảnh trời xanh trên thung
lũng của TDBC)

Khuôn-mặt-tượng-đá-khổ-đau
Trên khuôn mặt người phụ nữ tôi
đã từng quen biết hơn hai
mươi
năm
này,
vẻ đẹp liêu trai mê
hồn
năm xưa đã hóa
thân
thành
nỗi
đau thương cô đặc,
đúc thành tượng đá thịt da, được phủ lên một lớp bụi thời gian
từ thiên cổ.
Tôi không dám nhìn vào khuôn-mặt-tượng-đá-khổ-đau
của
chị
nữa.
Câu chuyện văn chương, triết lý
giữa
Trăng Đầu Núi (Sao Trên Rừng - Nguyễn Đức Sơn) và
tôi
bỗng
trở
nên tẻ nhạt. Tôi chợt hiểu rằng không
có gì quý
hơn
hạnh
phúc của con người. Bất cứ điều gì, dù
là chính trị, văn chương, triết lý... nếu phá
vỡ hạnh phúc của con người, chỉ có thể trở thành
thuốc
độc
dán nhãn hiệu hoa hòe để lừa bịp mà
thôi.
(Trích Mảnh trời xanh trên thung
lũng của TDBC)

Những đoản khúc trong bản trường ca
1*
Tình yêu đâu nơi môi hôn
Tình yêu đâu nơi đầu mày cuối mặt
Tình yêu đâu nơi gối chăn mải miết
Tình yêu chìm trong im sâu
2*
Khi anh nhìn em thẫn thờ trước cửa
Khi anh nhìn em thất thểu đi
về
Khi anh nhìn em thâu
đêm vất vả
Khi anh nhìn em nước mắt lưng tròng
Tình yêu nhói như cơn đau
3*
Khi em nhìn anh ngập tràn quá
khứ
Khi em nhìn anh chập chờn tương lai
Khi em nhìn anh ngổn ngang
hiện
tại
Khi em nhìn anh thổn thức tủi hờn
Tình yêu buốt như cơn đau
4*
Khi em mua cho anh điếu thuốc lá
lẻ
Khi em nhổ cho anh mấy sợi tóc
sâu
Khi em lau mặt anh bằng chiếc khăn
nồng
ấm
Khi em vá cho anh
chiếc
áo cổ sờn
Tình yêu mặn đầm muối biển
5*
Khi anh dắt cho
em chiếc xe đạp lên
dốc
Khi anh xoa bóp cho
em cơn đau nhức
cơ thân
Khi anh ủ cho em đêm khuya lạnh gía
Khi anh hát cho em
nghe những bài tình
ca xưa
cũ
Tình yêu nồng nàn
ngọn
lửa
6* Khi ta nhìn nhau im
lặng
Khi ta ngoảnh mặt quay đầu
Khi ta nhìn về hai phía
Khi ta bên nhau cô
đơn
Tình yêu quặn thắt cơn đau
7* Khi ta đi bên nhau
dưới
cơn
mưa
Khi ta cùng ngóng trông
thư
con nơi
xa
Khi ta thức cùng nhau nửa khuya
mất
ngủ
Tình yêu ngọt đắng café.
8* Ta đã trong nhau
tận
cùng ước vọng
Ta đã trong nhau
hết
nỗi
đau đời
Ta đã uống chung cạn ngàn
chén đắng
Ta đã bay lên chín
tầng
mây trắng
Tình yêu ngân nga
9* Tình yêu đâu nơi lời yêu
thương
Tình yêu đâu nơi dòng thư rạo rực
Tình yêu đâu nơi hình hài
quấn
siết
Tình yêu chìm trong im sâu.
(Trích Mảnh trời xanh trên thung
lũng của TDBC)

Các con
Dù sao các con cũng tôn trọng suy
nghĩ và việc làm
của
tôi. Tôi không làm ra
tiền
bạc,
không có địa vị nhưng chúng
kính
trọng
tôi vì tôi
sống
trung thực và không
hèn, như thế là được rồi. Tôi
cũng tôn trọng và ít can thiệp vào
cách sống của các con. Chúng có tinh
thần
tự lập cao, kiếm sống khó khăn
nhưng
hào
hiệp
với
bạn
bè, có tình
có nghĩa.
Tôi nói cho con hiểu rằng hiện nay
có những luật lệ đi ngược lại hiến pháp
và ngay cả hiến pháp
cũng có những điều đi
ngược
lại
nhân quyền. Tôi chỉ chấp hành
những
luật
lệ nào tôn trọng con người, còn
những
luật
lệ nào chà đạp con người, tôi
phải
đấu
tranh xóa bỏ. Luật lệ không phải là cái
gì thiêng liêng, toàn hảo mà
do con người,
chế
độ đặt ra thôi.
(Trích Mảnh trời xanh trên
thung lũng của TDBC)

Dã quỳ
Thời gian này, hoa quỳ dại đã
bắt
đầu nở vàng
chung quanh vườn nhà tôi nhưng tôi không
chú
ý lắm. Mấy ngày qua, trên đường đi lên
công an, dọc theo các
con dốc,
các sườn đồi, hoa quỳ
dại
đã vàng rực lên
bốn
bề trong nắng sớm. Chao ôi, màu hoa hoang
dã chói chang
này năm nào
chúng tôi làm cuộc đi xuyên
Việt
để đấu tranh cho tự do báo
chí và xuất bản, cho
tự
do dân chủ và đổi mới thực sự, đã
rực
lên khắp núi rừng Tây
nguyên, dấy lên trong
lòng chúng tôi biết bao cảm xúc. Tôi
nhớ
lại,
cũng vào thời gian này, một tháng
cuối
đông cách đây tám năm,
chúng tôi đã lên đường, giữa mầu hoa
nồng
nàn thúc giục. Bao
nhiêu thay đổi thăng trầm đã trôi
qua. Bây giờ tôi lại vào cuộc chiến đấu, có lẽ khó
khăn hơn, nhưng không phải trở về từ khởi điểm, mà bắt đầu từ một mốc dấu mới. Cám
ơn hướng
dương
- dã
quỳ đã nhắc nhở tôi
luôn hướng vọng về mặt trời -ánh sáng.
(Trích Mảnh trời xanh trên
thung lũng của TDBC)

Người cầm bút
Chúng tôi vừa là
người
trong cuộc, vừa là nhân
chứng
của
một
giai đoạn lạ lùng của lịch sử, trong
đó thiện-ác, chân thực-gỉa trá,
cao cả-thấp
hèn, trung thành-phản
bội,
thân thiện-thù địch, lý tưởng-cơ hội... đan xen, làm nên một mớ bầy nhầy khó
phân biệt rạch ròi.
Chúng tôi là những người cầm bút chỉ mong đủ sức viết lên
sự thực mô tả được toàn cảnh hoành
tráng nhưng nồng nặc mùi hôi
thối
của
một
thời
kỳ phi thường dân tộc đang sống trải.
(Trích Mảnh trời xanh trên thung
lũng của TDBC)

Thủy tạ (Đà
Lạt)
Thủy Tạ là
nơi
chúng
tôi
có
nhiều
kỷ niệm. Ngày mới về với nhau gần 30 năm
trước,
trong những ngày trăng
mật
muộn,
chúng tôi đã nhiều lần ngồi với nhau nơi đây
thưởng
thức
sương
mù,
khí
lạnh
trên mặt hồ bên ly
café sóng sánh vàng bốc khói. Thỉnh thoảng khi
có dịp kỷ niệm sinh nhật hay ngày
về với nhau hoặc các con ở xa về,
chúng tôi vẫn ra đây ngồi uống café. Lần này chúng tôi
quyết
định
đến
đây để thưởng thức lần cuối, một nơi dễ chịu, nhiều kỷ niệm trước khi mất tự do trong
hai năm tới.
Tôi nhìn những người đang
hò reo trước màn
hình (xem đá bóng trên
TV) và ngẫm nghĩ. Đây
đúng là dịp cho
họ giải tỏa ức
chế.
Chỉ
những
lúc như thế này họ mới được tự do bộc lộ cảm xúc
của
mình còn bình thường ai cũng phải căng thẳng vì đủ mọi chuyện cơm áo,
việc
làm, cạnh tranh, o ép từ đủ mọi phía. Họ hoàn
toàn khác chúng tôi và
có lẽ cả thành phố này
không ai giống chúng tôi
cả.
Trong khi mọi người đều say mê theo
dõi đường lăn của quả bóng
thì chúng tôi ngồi đây, giữa tiếng ồn
ào và bầu khí phấn khích, nhưng lại hoàn
toàn tách biệt để ưu
tư về việc mình sắp mất tự do. Có một cái
gì như hư như thực, phi lý và
cay đắng
trong buổi uống café tạm biệt Thủy Tạ này của chúng
tôi.
Phải chăng tôi là kẻ cô
đơn,
tự mình đứng bên lề dòng
cuốn.
Có một cái gì
phi lý vẫn cứ diễn ra trong
đời
sống
này, trên đất nước này.
Và đất
nước
trong tôi vẫn chỉ là một niềm đau nhức không
nguôi.
(Trích Mảnh trời xanh trên thung
lũng của TDBC)
![]()
Động hoa vàng
Buổi chiều tôi
ra cổng viết lại số nhà, tên
đường
đã bị lu mờ. Từ hôm
qua tôi đã quét vôi và
sơn
lại
cổng,
cái cổng ghép bằng gỗ, sắt và
chuồng
gà công nghiệp cũ
do tôi tự làm đã
mấy
năm nay. Tôi gắn thêm một miếng thiếc sơn trắng và nắn nót
viết
ba chữ "Động Hoa Vàng" mà tôi đã
tìm kiểu chữ đẹp nhất trong font chữ của máy vi tính. Đây
là tên của khu vườn và nhà tôi
mà tôi đã
nghĩ từ ít lâu
nay. Đúng là vườn tôi có nhiều hoa
vàng: hoa bướm, hoa kim châm,
hoa sans souci, hoa quỳ dại, hoa súng,
hoa mimosa...Tôi đang tu thiền theo
Yoga và mầu vàng là
mầu
giác ngộ. Khu vườn của tôi tĩnh
mịch,
có đôi chút
hoang sơ nên tôi tự nghĩ tên
"Động
Hoa Vàng" cũng khá thích hợp. (Ấy
vậy
mà sau đó
công an hỏi dò hàng
xóm tôi viết như thế có
ý đồ
gì, mật mã gì,
cho ai…???!!!)
(Trích Mảnh trời xanh trên thung
lũng của TDBC)

Quyền lực
Hãy cảnh
giác với quyền lực. Câu nói
đó đã vang lên nhiều lần ngay trên
đất
nước
này do chính những lãnh tụ cộng sản nói
ra.
Bây giờ
lời
cảnh
báo đó lại càng
khẩn
thiết.
Quá rõ ràng
đất
nước
này nào phải của riêng
những
người
cộng
sản
và cái gì
gọi
là "bách chiến bách thắng muôn năm"
chỉ
là một ước mơ không nên
đeo đuổi nữa.
(Trích Mảnh trời xanh trên thung
lũng của TDBC)

Diệt cái ác
Tôi dùng cuốc phạt ngang
thân cỏ dại. Chẳng bao lâu chúng lại mọc lên. Tôi
nỉa
đất ba lần xuống sâu nửa thước để nhặt cho hết rễ cỏ. Chúng
không mọc được nữa. Một mẩu rễ bé tí
còn sót trong
đất
ẩm,
một
thời
gian sau sẽ đâm chồi và nếu không
ngăn cản nó sẽ lan
tràn. Hàng đống rễ cỏ đem phơi nắng thật khô sẽ bốc cháy
thành tro bụi khi châm vào
ngọn
lửa.
Muốn
tiêu diệt cái ác,
không thể vội vàng, thô
bạo
mà phải kiên trì
tách nó ra
khỏi
môi trường thuận lợi cho nó
phát triển. Đó là
một
trong những bài học tôi
rút ra được khi
làm vườn mỗi ngày.
(Trích Mảnh trời xanh trên thung
lũng của TDBC)
![]()
Yoga
Việc chúng tôi đi học Yoga không
phải
chỉ
để học phương pháp
dưỡng
sinh hay chữa bệnh như đối với nhiều người khác
mà là một cơ duyên. Chúng
tôi
biết
mình sẽ dấn thân và
gắn
bó với con đường lạ lùng này.
Con đường
nhỏ
ngoằn
ngoèo chạy từ đỉnh Himalaya huyền bí
đi vào giữa nhân
gian thời hiện đại sẽ dẫn tôi đi
bình an qua mọi nẻo đường khổ lụy của cuộc sống chông
gai này.
Dada U cùng với các Dada Didi khác đã giúp chúng
tôi nhìn thấy một thế giới khác, một thế giới không biên
cương
hòa
bình
và
an lạc
mở rộng ra đến toàn vũ
trụ.
Khác với thế giới đó, thế giới hiện nay của những biên
cương
và
mâu
thuẫn,
xung đột giữa các quốc gia,
dân tộc, chủ nghĩa, tôn
gíáo... thật quá chật hẹp, tầm thường, tồi tệ và
khổ
đau. Tiếc thay đây
lại
là thế giới thật của hôm nay.
(Trích Mảnh trời xanh trên thung
lũng của TDBC)

Hư vô
Cô gái nói thầm vào tai tôi: "Nơi đây
yên
nghỉ
những
người
xa lạ,
những
bạn
bè và cả những người ghét
bỏ anh. Một ngày nào
đó anh có
cần
một
chỗ
bên họ cho ấm
cúng không?" Lần này tôi
trả
lời
cô, giọng rõ ràng
vang lên trong khung cảnh tịch mịch: "Tôi không cần một nấm mồ. Tôi muốn trở về hư vô. Nhưng sau khi tôi chết đi, những người sống làm gì
với
thân xác tôi cũng không quan
trọng.
Tôi bây giờ chỉ là
một
dấu
chấm
nhỏ
của
cát bụi trong cuộc đời. Đến một lúc
nào đó nó
sẽ
tan đi không còn lưu vết. Tôi không
có gì phải lưu luyến đâu".

Đối kháng quyền lực
Vậy là trong vòng 2 năm
nữa
tôi sẽ bị giam lỏng ở đây. Tôi không thể chống lại chuyện này vì
Nhà nước có công
an, quân đội và nhà
tù. Tôi chỉ là
một
cá nhân nhỏ bé.
Dĩ nhiên tư tưởng là chuyện khác. Nhưng phải chăng
đây là định mệnh, cái
giá phải trả của những người như tôi. Có lần Hồ Hiếu nói với tôi : "Chúng ta là những người đi
giữa
hai lằn đạn, bên nào
cũng bắn”. Riêng tôi, trong
chế
độ cũ tôi đã
ở tù, bây giờ
"chính quyền cách
mạng"
lại
giam lỏng tôi. Nhiều bạn bè
đã lạnh nhạt hoăc xa lánh
tôi vì những việc tôi
đã làm. Tôi
là kẻ không biết tùy
thời,
suốt
đời
phản
kháng. Và những kẻ nắm quyền lực, từ xưa đến
nay, bất
kể đông tây, cộng sản hay tư bản, chủ yếu vẫn là
củng
cố quyền lực, còn chuyện lý tưởng vì
dân vì nước chỉ là
thứ
yếu
và là ngôn
từ trên giấy hoặc đầu môi chót
lưỡi.
Tôi đã lỡ dấn thân
vào con đường đối kháng với quyền lực và
đã tham dự vào
một
trò chơi chí mạng, trong đó
phần
thiệt
thòi nhất định thuộc về mình. Dù
sao tôi không
có chọn lựa nào khác.
(Trích Mảnh trời xanh trên thung
lũng của TDBC, viết năm
1997, Văn Mới,
Hoa Kỳ xuất bản năm 2007)

Cảm nhận Mảnh trời xanh
– Nguyễn Mạnh Trinh (Hoa Kỳ)
Viết hồi ký,
kể chuyện thực tại. Viết tiểu thuyết tự truyện, kể chuyện qúa khứ, có phải ? Hình
như
tác
giả
không có dụng ý ấy.
Bởi
chất
thơ,
chất
mơ mộng đã ăn sâu
vào xương tủy ông. Những bài
thơ,
những
đoản
văn, những hồi ức về tình
yêu, về một đời sống đã thành
kỷ niệm hay cả những lúc lao đao
rối
bời
bị vùi dập, bị mất tự
do của hiện tại, đều phảng phất cái lãng
mạn
của
người
trí thức miệt mài đi tìm
chân lý nhưng muôn đời
vẫn
là những hư ảo rỗng không.
Trong cái chân thành soi rọi lại chính bản thân vẫn có
ý hướng
tin tưởng
vào công việc mình làm hiện tại và được sự giúp
đỡ của những người tốt.
Đọc " Mảnh Trời Xanh Trên
Thung Lũng ", cảm giác
sau cùng vẫn là nỗi ngậm ngùi. Có
những
quyết
định,
đã làm thay
đổi
cả cuộc đời. Và cũng có,
những
người
bình tâm nhìn lại quá khứ, để trong
góc sâu thẳm nào
đó của tâm linh
thấy
được
những
ánh sáng . Chiến tranh đã qua, bây
giờ
là lúc phải ngoái
cổ nhìn lại lịch sử để trong tương lai,
những
kẻ
broker đấu
thầu
chiến
tranh hưởng lợi không thể nào
tạo
chiêu bài lợi dụng những tâm huyết của người yêu nước. Đến đoạn kết, tôi
lại
càng chia sẻ hơn với cái tâm
viễn
mơ của Tiêu Dao Bảo Cự, khi gặp một cô gái
và cùng nắm tay
phiêu du vào một thế giới nửa hư nửa thực có bóng dáng anh chàng
công an ngăn trở. Kỳ lạ thay, cây
súng và máy
bộ đàm là vũ
khí đàn áp
của
công an lại trở thành hoa
súng 16 cánh nở rộ. Và người đẹp hoa súng
đã trở về nguồn nước trong mặt ao
để thành bóng gương soi lại dáng hình hai vợ chồng chàng thi
sĩ. Giấc mơ hoa súng trổ bông ấy có phải là tâm nguyện của một người đang
lao đao trong
chế
độ công an trị khắc nghiệt và tàn
bạo?
Tác giả muốn nói gì
với
chúng ta, bây giờ ?
Sách do nhà xuất bản Văn Mới ấn
hành. Địa chỉ liên lạc: PO Box 287, Gardena Ca
90248. Điện
thoại
(310)3666867.
Nguồn:
http://phusaonline.free.fr/ButViet/NMTrinh/100_GTSM_ManhTroiXanh.._TDBC.htm
![]()
Cảm nhận Mảnh trời xanh
– Trần Kiêm Đoàn (Hoa Kỳ)
Tạm quên đi những thể loại văn chương quy
ước
để gọi cuốn sách dày 730 trang
này là “bút
sự”
vì đây là
một
tập
hợp
tuyển
văn mang đậm nét tự sự. Nhưng đây cũng là
một
sự phối hợp đầy mầu sắc của ký sự, hồi ức, khảo luận, chính
luận,
triết
luận,
thơ,…
qua những
dòng tâm bút của tác giả. Đã
viết
ra những hoài niệm, suy
tư và
cảm
xúc của mình thì
có con chữ, dòng chữ, mớ chữ nào
mà không là… tâm bút
nhỉ?
Đành vậy, nhưng khi tính hư cấu và lý luận mờ nhạt; nhường lại cho
một
nhịp
độ cảm xúc, suy tư, trăn trở dồn dập, dâng trào và
chiếm
lĩnh gần hết dòng văn
của
tác giả thì chất “tâm
bút” sẽ đậm đà hơn.
Đọc
văn của Tiêu Dao Bảo Cự
là đọc… Văn Tình. Một nguồn tình cảm lãng mạn, vỡ bờ; nhưng cũng rất đậm tình người và chân
thật.
Mấy
năm trước đây, khi
đọc
tác phẩm đầu tay Nửa đời nhìn lại; và bây
giờ
đọc
Mảnh
trời
xanh trên thung lũng của Tiêu Dao Bảo Cự, tôi như thấy được thấp thoáng bóng
mình một thời trong đó.
Thấy
được
mình là thấy được bạn bè,
những
người
tuổi
trẻ
Việt Nam thuộc thế hệ Chiến tranh
Việt Nam đã lớn lên bằng tuổi chiến tranh và
bằng
nỗi
tự hào cùng khổ nhục của đất nước – hơn một nửa đã
ra đi và
còn một ít quanh
đây – nên Bảo Cự
tự nguyện làm trang sách
mở rộng. Anh
viết
về những mảnh đời riêng của chính mình
mà ngỡ như đang nói đến
những
vết
thương
xã
hội,
những
ung nhọt còn đau
nhức
và những vết sẹo chưa lành qua những chặng đường thăng
trầm
của
đất
nước.
Bảo Cự vẫn còn
lại
giữa
lòng đất nước, bạn bè và
chính anh; trong khi nhiều nhân
vật
đồng
thời
còn sống nguyên tại chỗ mà
lại…
đã ra đi!
Napa Valley, mùa Lá xay Rượu vàng 2008
© 2008 talawas
Nguồn: http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=14459&rb=0102
![]()
TRÍCH ĐOẠN TỪ CÁC BÀI
CHÍNH
LUẬN
Đọc thơ Đông
Trình
Thế hệ chúng tôi
là
một
thế
hệ đầy ưu tư và chất men lý tưởng. Ở tuổi hai mươi, đang ngồi trên ghế giảng đường đại
học,
vẫn
học,
vẫn
yêu
và
lao vào những cuộc đấu
tranh trên đường phố với tâm trí luôn bị ám ảnh bởi niềm đau của một đất
nước
đầy bất hạnh:
Ta đã ngồi chờ bao nhiêu
năm
Nhìn cảnh binh đao ruột tím bầm
Sống giữa quê hương làm người đất
trích
Tự gõ mà ca một khúc
lưu
vong
(Đêm nghe pháo kích,
dậy
đọc cổ thi – thơ Đông Trình)
Hơi
thở
của
lịch
sử đã thấm đẫm
vào
máu
thịt
của
chúng
tôi
từ khi nghe mẹ kể chuyện cổ tích, nói
tục
ngữ,
hát
ru ca dao và
từ những trang viết vụng dại đầu
đời học sử của tiền nhân:
Chúng
tôi hòa mình
trong niềm đau chung
của
tổ quốc, nỗi bất hạnh của cả một dân
tộc
anh hùng nhưng chịu nhiều tai ương. Chúng
tôi
không
sao có thể bình yên để
hưởng
thụ
cho riêng mình mặc dù chúng tôi có khả năng để
hưởng
thụ
nếu
mình
nuốn,
như
một
số người khác
ở thế hệ chúng tôi
đã làm:
Đất
nước
ta nhỏ
bé,
nghèo
thật
nhưng
quyết
không
thể
hèn
hạ
hay đi ăn xin. Nói “Không có gì quý hơn độc lập tự do” mà luôn quỳ
gối
trước
Nga, Tàu,
đổi thù thành bạn, đổi bạn thành thù
như
chong chóng. Theo Liên Xô, chống xét lại rồi lại thân Liên Xô, rồi lại chống cải tổ. Tình hữu nghị “núi liền núi, sông liền sông”, “môi hở răng lạnh”, đổi
ngay thành “kẻ thù truyền kiếp, trực tiếp và nguy hiểm”, rồi lại đổi tiếp thành “hữu
nghị
lâu
đời”, rồi chưa biết sẽ đổi
thành
gì
nữa.
Đế quốc Mỹ là “kẻ thù trực tiếp, nguy hiểm và lâu dài” nhưng sau
chiến
thắng
lại
năn
nỉ,
khẩn
cầu
Mỹ bỏ cấm vận và
thiết
lập
quan hệ bình thường. Mỹ bỏ cấm vận là đúng và cần thiết nhưng không phải vì thế mà chỉ biết van xin một cách hèn
hạ.
…
Hoàn cảnh đất nước ta cần hết sức đề cao sự nghiệp giữ nước, có chính sách
ngoại
giao khôn khéo và thông minh. Đó không phải là điều mới mẻ gì. Những người lãnh
đạo đất nước ta hàng ngàn
năm
qua đã chứng minh và làm được điều
đó, dù là dưới chế độ “phong kiến thối nát” như cách đánh giá của những người cộng sản.
…
Trong cuộc đấu tranh
giải
phóng
dân
tộc
và
giành
quyền
lãnh
đạo, ban đầu những người cộng sản đã chiến thắng nhờ có nhân dân ủng hộ và sách lược đúng. Chiến thắng này
không
phải
là
một
lần
và
mãi
mãi.
Thuận
lòng
dân
thì
còn,
nghịch
lòng
dân
thì
mất.
Lịch
sử đã chứng minh chân lý
ấy. Ngày xưa ông cha ta nói
“Được làm vua, thua làm giặc.” Các
triều
đại phong
kiến
ngày
xưa
cũng
tự cho mình là thiên tử, thay trời để trị dân, cho ai chống lại mình
là
nghịch
mệnh
trời,
tự
tung hô
mình
vạn
tuế
nhưng
mấy
triều
đại quá
được
trăm
năm?
Những
người
cộng
sản
phê
phán
phong kiến sao vẫn tự mình hô
muôn
năm
và
đòi mãi mãi độc quyền lãnh đạo? Hãy tự xem mình còn
đủ năng lực và tín mhiệm để lãnh đạo không chứ đừng tự huyễn hoặc mình và
dùng
bạo
lực
đè đầu
cỡi
cổ nhân
dân,
buộc
nhân
dân
phải
phục
tùng
độc quyền lãnh đạo.
Phải chăng chính tình tự dân
tộc
và những khát vọng có
tính lâu dài, phổ quát mới là
những
giá trị vĩnh cửu và
đẹp
đẽ,
trong sáng nhất mà mỗi người có thể cảm nhận thuở mới vào
đời.
Còn chủ nghĩa, tất cả các
chủ
nghĩa chỉ là phương tiện để đạt tới cứu cánh.
Các chủ
nghĩa có thể sai lầm và phải được kiểm nghiệm trong
thực
tiễn.
Thực
tại
biến
chuyển
không ngừng và không
chủ
nghĩa nào có thể có giá
trị
vĩnh cửu. Lịch sử nhân lọai không
phải
đã chứng minh điều đó
quá rõ hay sao? Thế tại sao chúng
ta, kể
cả các nhà chính
trị,
các nhà trí
thức,
các nhà văn,
lại
có thể tin tưởng vào một chủ nghĩa,
một
giáo điều, tự mình huyễn hoặc làm
nhận
thức
sai lạc đi đến trở thành
cuồng
tín?
…
Văn nghệ không
phi chính trị nhưng văn nghệ không thể phục vụ mù quáng,
làm công cụ tuyên truyền cho một chủ nghĩa.
Văn nghệ,
về một phương diện, phải là tiếng nói của lương tri. Lương tri phải
nhận
biết
đúng sai, phải biết phản kháng, phải nói lên
sự thật. Nếu văn nghệ có sứ mệnh thì
sứ mệnh của văn nghệ phải chăng là
đi theo con đường của tự do và chân lý,
mang lại cái đẹp, cái
thiện
cho cuộc sống của con người. Chính trên
con đường
thênh thang này, văn nghệ mói có
thể
thể
hiện
tài năng của người nghệ sĩ.
Trước Cách Mạng Tháng Tám, một thế hệ nghệ sĩ
đầy
tài năng đã xuất hiện, tác phẩm của họ thời đó
đã làm rung động tâm hồn, chiếm lĩnh tình
cảm
của
cả dân tộc qua mấy thế hệ, cho đến tận ngày
hôm nay. Thơ Thế
Lữ,
Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính … Văn của Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng, Nam Cao, Nguyễn Tuân, Nguyễn Công Hoan, nhóm
Tự
Lực Văn Đòan …
Nhạc
Phạm Duy, Văn Cao, Lê Thương, Cung Tiến, Đặng Thế
Phong …
Trong cuộc kháng
chiến
chống
Pháp, khi người nghệ sĩ
với
lòng tự nguyện, dấn thân cho
sự nghiệp độc lập dân tộc, với hào khí
vinh quang của người chiến sĩ ra trận, các
tác phẩm của họ cũng đã
đi vào cuộc sống, trở thành
tiếng
hát chính trái tim mỗi người. Nhưng khi
người
nghệ
sĩ đã “giác
ngộ”,
tôn thờ một chủ nghĩa, phục vụ cho
một
chế
độ chính trị, tác phẩm của họ chỉ còn
là những bài tuyên
truyền
gượng
gạo,
lố bịch, những bản tụng ca một chiều. Nếu người nghệ sĩ thực sự đầy tài năng
thì tài hoa
của
họ cũng chỉ phết được lớp sơn màu mè lên một nội dung thô nhám.
…
Người
nghệ
sĩ
tự hủy hoại chính
mình
và
tác
phẩm
của
mình
khi phục vụ cho một chủ nghĩa, một chế độ chính trị hay chủ nghĩa và chế độ chính trị đã làm thui chột tài năng, hay cả hai
điều
này
cộng
lại
đã tạo nên sự tàn phá khủng khiếp cho văn học nghệ thuật trong những thời kỳ
lịch
sử?
…
Ở
đây, tôi cũng muốn nói đôi
lời
về khía
cạnh
tổ chức đào tạo, giáo dục của một chế độ đối với hoạt động văn học. Chế độ xã hội chủ nghĩa có
các
tổ chức đào tạo, bồi dưỡng những ngưởi viết văn, có trường đại
học
viết
văn, trả lương cho những người viết văn chuyên
nghiệp
nhưng
đã sản sinh ra
bao nhiêu
nhà
văn,
trong đó có bao nhiêu
nhà
văn
lớn?
Ý thức phục vụ chính trị và
tính
chất
rập
khuôn
đã làm hạn chế tài năng và
tinh thần tự do sáng tạo của nhà văn như thế nào? lại còn các tổ chức văn học nghệ thuật mang tính chất nhà
nước
. Những
hội
gọi
là
sáng
tạo
mà
cũng
phải
gò
vào
một
tổ chức bất kể quan điểm, xu hướng, phong cách
sáng
tác.
Trong những
tổ chức này
người
ta lại
điều
hành
theo kiểu hành chính, quan liêu,
lôi
bè kéo phái,
tranh giành quyền lực, chia chác quyền lợi, đấu
đá lẫn nhau, không còn
gì
gọi
là
văn
học
nghệ
thuật
nữa.
Những
người
lãnh
đạo văn nghệ có
khi lại không có khả năng sáng tác văn nghệ hoặc khi đã trở thành lãnh đạo, những người làm quan lại không
còn
khả
năng
sáng
tác.
Văn nghệ sĩ chân chính
cần
quái
gì
các
tổ chức này.
Cùng
xu hướng,
tâm
đắc với nhau
thì
tự động tập hợp lại thành nhóm,
thành
hội
hoặc
cứ một mình
mà
đi trong thênh thang trời rộng, giữa dân
tộc
và
loài
người,
cần
chi phải
chui đầu vào tổ chức.
Có người nói môn văn là môn học làm người và ai cũng thừa nhận, nói chung, ngành
giáo
dục
là
nơi
đào tạo con người, đào tạo những người chủ tương lai
của
đất nước. Đào tạo con người ngoài kiến thức, chuyên
môn,
kỹ thuật, còn
có
đạo lý, nhân
cách,
bản lãnh. Thế nhưng một điều lạ lùng là trong các
chế
độ không phải là xã hội chủ nghĩa, mà là "thực dân phong kiến", "ngụy quyền tay
sai", sinh viên
học
sinh lại đầy
lòng
phản
kháng,
nhận
thức
rất
rõ
và
dám
đứng lên đấu tranh
cho độc
lập
tự
do của
tổ quốc, cho công bằng xã hội (trong đó có nhiều người sau này là
lãnh
tụ cộng sản), nhưng sinh viên học sinh trong
chế
độ xã hội chủ nghĩa ưu
việt
ở Miền Bắc trước 1975 và cả nước sau
1975 lại
hầu
như
tê
liệt
lòng
phản
kháng,
chỉ
biết
phục
tùng
và
sa vào chủ nghĩa thực dụng. Nếu giải thích điều này bởi chủ nghĩa
xã
hội
ưu việt thực, không
có
bất
công
áp bức và có đầy đủ mọi quyền tự do dân chủ nên
không
ai muốn
kêu
đòi gì nữa, nói như thế chắc chẳng ai tin. Vậy phải chăng chỉ có thễ giải thích đây
chính
là
sự ưu việt của chủ nghĩa xã hội trong việc đàn áp, thống trị tư tưởng và
hành
động của con người?
…
Nội
dung, đề tài của văn nghệ là vô tận. Văn nghệ ca ngợi tình yêu, thiên nhiên, tuổi thơ, đắm
mình
trong huyền thoại, ước mơ về một tương lai
viễn
tưởng… Không thể cưỡng bức văn
nghệ
phải
chuyên
chở
nội
dung này,
khai thác đề
tài
kia như
các
chế
độ độc
tài,
nhất
là
độc tài cộng sản đã làm. Văn nghệ không phi chính trị nhưng không phục vụ chính trị một cách mù quáng. Văn nghệ không cần mang tính đảng mà phải phi đảng. Văn
nghệ
không
tôn
thờ
chủ
nghĩa.Văn nghệ phụng sự cho dân tộc và con người. Văn nghệ không
biên cương quốc gia, biên cương thời gian và biên cương chủ nghĩa. Nhưng nếu văn nghệ vì
con người
thì
không
thể
né
tránh
thân
phận
con người,
nhất
là
khi thân phận hàng triệu người bị quy định, chi phối bởi các chế độ độc tài tàn bạo. Văn nghệ lúc đó phải biết và dám nói
tiếng
nói
của
lương
tri. Đó là văn nghệ dấn thân và phản kháng.
Văn nghệ phải đến được với công chúng, đối tượng, mục đích, môi
trường
và
đất sống của mình. Các chế độ
độc tài luôn
ngăn
chặn
văn
nghệ
tự
do, chỉ muốn lùa văn nghệ vào các chuồng nuôi thú làm cảnh. Văn nghệ phải biết cách
chiến
đấu. Từ xa xưa, ông cha ta đã biết điều này. Đó là truyện tiếu lâm, câu đối, ca dao, hò vè, thơ ca châm
biếm,
sau này còn có cách viết "lách" trên sách
báo hợp pháp, xuất bản sách báo bất hợp pháp, tổ chức "hát cho đồng bào tôi
nghe"… Văn
nghệ
phải
ươm mầm phản kháng, thức tỉnh lương tri, kêu gọi đấu
tranh, đánh thẳng vào mặt cường quyền, đóng đinh tội ác vào giá
của
lịch
sử.
…
Chính trị bao giờ cũng
cần
thiết
cho một dân tộc, một xã hội và toàn thế giới. Đường lối chính trị có thể đúng hoặc sai.
Người
làm
chính
trị
có
thể
tốt
hoặc
xấu.
Làm
chính
trị
phải
nắm
được quyền lực. Quyền lực là sức mạnh vạn năng và
là
con dao hai lưỡi. Quyền lực xây dựng và
cũng quyền lực hủy hoại con người, hủy hoại ngay chính người làm
chính
trị.
Cám
dỗ quyền lực rất lớn và
nguy hiểm.
…
Dù sao người làm chính
trị
cũng
có
lương
tri. Tiếng
nói
của
lương
tri và
sức
mạnh
của
quần
chúng
nhân
dân
sẽ ngăn
chặn
được sai
lầm
và
tội
ác. Mục đích chính trị có
tốt
đẹp tới đâu
nhưng
phương
tiện,
con đường đi là độc tài, chà đạp nhân quyền, vi phạm tự do, khủng bố bằng bạo lực, gây ra nội chiến, trả gía bằng máu và nước mắt đều
không
thể
tự biện minh, không đạt đến
mục
đích.
…
Văn nghệ và chính trị đều phải biết sám hối. Tốt hơn là
đừng để phải sám hối nhưng đã lỡ sai lầm thì phải sám hối trước khi quá muộn.
Hòa giải hòa hợp và giao lưu văn
học
Mặc
dù
dân
tộc
Việt
Nam có
một
lịch
sử rất lâu
dài
với
bao nhiêu
bài
học
quý
giá
nhưng
có
lẽ mỗi người, mỗi thế hệ chỉ có
thể
nhận
ra được
điều
gì
thật
sâu
sắc
khi chính mình có một độ lùi lịch sử của chính
thời
đại mình. Trong những cuộc chiến gần đây của đất
nước,
dù
ai dùng
ngôn
từ nào,
với
bất
cứ lập luận nào,
đứng trên bất cứ lập trường nào,
những
cuộc
chiến
đó đều
mang tính nội chiến, vì người Việt đã nổ súng vào nhau trên
chiến
trường,
đã hận thù nhau trong tim óc. Đó là một giai đoạn
lịch
sử phân
ly và bi thảm.
Những người quốc gia đã kêu gọi cộng sản "chiêu hồi, trở về với chính nghĩa quốc gia". Những người cộng sản đã hô hào những người quốc gia "bỏ hàng
ngũ
địch, trở về với nhân
dân".
Chưa
kể những người quốc gia với nhau, cộng sản với nhau,
cũng
đã từng đấu
tranh, hận thù, truy bức, hủy diệt nhau.
Dấu mốc 30/4/75 dù quan niệm đó là "ngày chiến thắng, giải phóng
hoàn
toàn
Miền
Nam Việt
Nam, thống
nhất
tổ quốc"
hay "ngày
quốc
hận"
thì
đó cũng là một việc đã có , đã rồi và là một dấu mốc, một cơ hội lớn của dân tộc. Sau ngày
đó, người cộng sản đã tuyên truyền một cách đại lượng: "Trong cuộc chiến này, người Việt Nam không có
kẻ thắng người bại, chỉ có
dân
tộc
Việt
Nam chiến
thắng".
Dĩ
nhiên
câu
nói
đó những người quốc gia khó lòng chấp nhận. Nhưng nếu câu
nói
đó được
thực
hiện
đúng tinh thần của nó , nghĩa là không
có tước đoạt, truy bức, cải tạo… mà thực hiện ngay
hòa
giải
hòa
hợp
dân
tộc,
rõ
ràng
dân
tộc
Việt
Nam đã chiến thắng và đất nước đã đi lên mạnh mẽ trong 18 năm qua chứ không phải vẫn còn
là
một
trong những nước nghèo đói
nhất
thế
giới.
Câu
nói
đó không được thực hiện, dân tộc Việt Nam chỉ là kẻ chiến bại và chỉ có nhân dân Việt Nam là đau khổ.
Hòa giải hòa
hợp
dân
tộc
chỉ có thể được
thực
hiện khi đó là niềm thôi thúc,
là
sự nghiệp của cả dân
tộc
chứ
không
phải
chỉ
là
vấn
đề của một số cá nhân. Nếu nhiều người cộng sản còn nghĩ rằng: Ta đang nắm quyền lực (và quyền lợi), tội gì phải hòa giải hòa hợp với ai, lơ mơ sẽ bị lật đổ. Nếu nhiều người quốc gia
ở nước ngoài còn
nghĩ:
Ta đang giàu có, sống thoải mái,
đâu có thể hạ mình xin nói
chuyện
hay về
nước
để lọt vào vòng kềm tỏa của bọn cộng sản độc
tài.
Nếu
nhiều
người
khác
còn
nghĩ:
Ta chỉ
cần
yên ổn làm ăn sinh sống, dại gì dính vào
những
chuyện
chính
trị… Nếu đa số người Viêt Nam còn nghĩ
như
thế,
rõ
ràng
khó
có
hòa
giải
hòa
hợp
dân
tộc.
Nhưng nếu đối với nhiều người, đất nước nghèo đói là niềm đau, nỗi nhục của mọi người Việt Nam; sự phân ly, hận thù
là
vết
thương,
căn
bệnh nặng nề của cả dân tộc; thiếu dân chủ tự do là
sự phản tiến hóa,
bầu
khí
ngột
ngạt
nhiễm
độc của toàn xã
hội… Đó vẫn còn là cơ may cho hòa giải hòa
hợp
dân
tộc.
Thực
ra chưa có quyền lực chính trị, quyền lực thế gian nào là
vĩnh
viễn,
bất
khả
chiến
bại.
Ý chí của một người phát huy đến
mức cao nhất cũng
rất
mãnh
liệt
và
tác
động đến toàn xã
hội,
đè nặng lên
số phận hàng
triệu
người.
Lịch
sử thế giới đã chứng minh điều
đó. Dĩ nhiên, một mình họ không đủ,
sau lưng họ còn là cả một tập đoàn. Nhưng một tập đoàn không thể mạnh hơn một dân
tộc,
mạnh
hơn
cả nhân
loại.
Vậy
thì
tại
sao đa số người cùng chung một nguyện vọng, một ý chí lại sợ hãi, bất lực trước một tập đoàn.
Những người cầm quyền thường lộng hành và chế ngự nhân dân bằng cách dùng bạo lực gây ra nỗi sợ. Muốn chống lại cái
ác, mỗi người bằng cách nào đó của mình, phải
"vượt"
qua nỗi
sợ để làm một cái gì đó. Ý chí của đám đông lương thiện, nếu được thể hiện và tập hợp lại, dù dưới hình thức bất bạo động, nhất định sẽ gây sức ép, chuyển hóa
và
buộc thiểu số phải chấp nhận hòa giải hòa hợp, dù thiểu số đang nắm quyền lực, được tổ chức và trang
bị bằng bất cứ vũ
khí
nào.
Đó là hòa giải hòa hợp đi đôi với việc chống lại cái
ác bằng những phương tiện hòa
bình,
…
Thực
ra chưa có quyền lực chính trị, quyền lực thế gian nào là
vĩnh
viễn,
bất
khả
chiến
bại.
Ý chí của một người phát huy đến
mức cao nhất cũng
rất
mãnh
liệt
và
tác
động đến toàn xã
hội,
đè nặng lên
số phận hàng
triệu
người.
Lịch
sử thế giới đã chứng minh điều
đó. Dĩ nhiên, một mình họ không đủ,
sau lưng họ còn là cả một tập đoàn. Nhưng một tập đoàn không thể mạnh hơn một dân
tộc,
mạnh
hơn
cả nhân
loại.
Vậy
thì
tại
sao đa số người cùng chung một nguyện vọng, một ý chí lại sợ hãi, bất lực trước một tập đoàn.
Những người cầm quyền thường lộng hành và chế ngự nhân dân bằng cách dùng bạo lực gây ra nỗi sợ. Muốn chống lại cái
ác, mỗi người bằng cách nào đó của mình, phải
"vượt"
qua nỗi
sợ để làm một cái gì đó. Ý chí của đám đông lương thiện, nếu được thể hiện và tập hợp lại, dù dưới hình thức bất bạo động, nhất định sẽ gây sức ép, chuyển hóa
và
buộc thiểu số phải chấp nhận hòa giải hòa hợp, dù thiểu số đang nắm quyền lực, được tổ chức và trang
bị bằng bất cứ vũ
khí
nào.
Đó là hòa giải hòa hợp đi đôi với việc chống lại cái
ác bằng những phương tiện hòa
bình,
…
Tôi vẫn nhớ những giọt lệ chảy dài trên má mình lúc còn bé đọc "Tâm hồn cao thượng" của E.D.
Amicis và
cả về sau mỗi khi đọc lại. Tôi vẫn không
sao quên được cảm giác đau đớn
lạ lùng
khi ở trong tù thời sinh
viên
đọc "Giờ thứ
25" của
C.V Gheorghiu mà tác phẩm chảy dạt dào
trong tôi như một cơn nước lũ.
Bây
giờ
và
chắc
cả về sau này nữa, tôi vẫn ứa nuớc mắt khi
đọc một trang
sách,
xem một cảnh phim cảm động, không
sao cầm giữ và cũng không muốn cầm giữ. Điều gì đó của phận người đã rung lên trong tôi
như
một
sợi
tơ đàn tạo nên hòa điệu. Đằng sau
những
giọt
nước
mắt
là
cái
gì
sâu
xa hơn
giúp
tôi
đi suốt cuộc làm người một cách mạnh mẽ, tốt đẹp
và
hạnh
phúc
hơn.
Tôi hiểu như thế nên khi viết về một tác
phẩm,
tôi
ước ao và mong
chờ
một
điều
gì
đó tương tự nơi người đọc
tác
phẩm
của
mình,
những
người
đọc "có
tâm
hồn"
và
tự
do đối với bất cứ tù ngục tinh
thần
và
cụ thể nào.
Tôi tin tưởng giao lưu văn học sẽ tạo nên
sự đồng cảm và nối kết có vẻ mong manh
nhưng
lại
hết
sức
bền
vững
và
có
khả
năng
công
phá,
bền
vững
hơn
và
có
thể
công
phá
được cả những bức tường sắt thép, kẽm gai
hay những
rào
cản
của
hận
thù
và
ý thức hệ.
Thư ngỏ gởi những người cộng sản Việt Nam
Ðể nắm được quyền lãnh đạo đất nước, trong
suốt
lịch
sử hơn 60 năm
của
mình,
Ðảng Cộng sản đã chịu đựng biết bao gian khổ, hy sinh không ít máu xương và đã chứng tỏ tài vận động, tổ chức, lãnh
đạo đấu tranh
của
mình.
Ðiều
đó, dù kẻ thù cũng phải nhìn nhận.
Khi đã trở thành
đảng cầm quyền, đảng tự hô và bắt toàn dân
phải
hô
"Ðảng Cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm" và coi
đất nước như của riêng mình.
Ðiều
này
không
khác
gì
các
triều
đại phong
kiến
ngày
xưa.
Triều đại nào lên làm vua cũng
tự
tung hô
"vạn
tuế".
Nếu
các
triều
đại đó đạt
được như thế thì làm gì
đến lượt người cộng sản.
Trong giai đoạn lịch sử vừa qua, trong nhân dân, và ngay trong đảng, không phải chỉ Hồ Chí Minh là người duy nhất biết suy
nghĩ
và
sáng
tạo.
Thế
nhưng
tất
cả mọi việc đều quy
về Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh là người sáng lập ra đảng, sáng lập ra nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa,
sáng
lập
ra các lực lượng vũ trang, Mặt trận và
các
đoàn
thể
công
nông
thanh phụ, thiếu niên nhi đồng, các
ngành
văn
hóa
nghệ
thuật,
báo
chí
và
cả các
ngành
chuyên
môn
khác
nữa.
Hồ
Chí
Minh gởi
thư
cho ngành nào, giới nào, đến thăm địa phương, cơ sở nào cũng thành những sự kiện trọng đại,
những
ngày
lịch
sử.
Có
nơi
còn
dựng
bia kỷ niệm Hồ Chí Minh đi tắm biển. Mới hơn 50 tuổi, Hồ Chí Minh đã trở thành "vị cha già
của
dân
tộc".
Chao ôi, như thế nếu không
có
Hồ
Chí
Minh thì
sẽ không
có
dân
tộc
Việt
Nam, không
có
cách
mạng
Việt
Nam hay sao? Toàn đảng, toàn
dân
tộc
không
ai làm
được một việc gì nếu không có
Hồ
Chí
Minh hay sao?
Ðó chính là
tệ sùng
bái
cá
nhân
và
cái
tệ này
đã gây ra biết bao
tai họa
trong lịch sử nhân loại đông tây kim cổ.
Hơn
nữa,
xu thế
của
người
cầm
quyền
ở bất cứ nơi đâu cũng là lạm quyền. Càng độc quyền càng dễ lạm quyền vì người cầm quyền tự cho mình là
đúng đắn
và
có
thể
làm
tất
cả khi có quyền lực.
Nói đa nguyên chính trị và đa đảng đưa
đến rối loạn là không đúng. Biết bao quốc gia thực hiện đa nguyên chính trị và đa
đảng nhưng không rối loạn và
quyền
dân
chủ
lại
càng
được phát huy. Sự cạnh tranh chính đáng bao giờ cũng lành mạnh và nhân dân có quyền lựa chọn người cầm quyền có năng lực và thực sự đại
diện
cho mình.
Tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do báo
chí,
tự
do lập
hội
là
khởi
đầu của đa nguyên chính trị, đa đảng. Ít ra bước đầu đảng phải chấp nhận tiếng nói đối lập. Ðối lập không đồng nghĩa với đối kháng. Ðối lập với đảng không có
nghĩa
là
đối lập với nhân dân
vì
đảng không thể đồng hóa với nhân
dân.
Ðảng sợ đối
lập,
sợ đa nguyên chính trị, đa đảng vì đảng không đủ tự tin vào uy tín
và
bản
lĩnh
của
mình
khi đứng trước sự cạnh tranh tự do và bình đẳng với các thế lực chính
trị
khác
trước
nhân
dân.
Ðảng quy mọi hoạt động đấu tranh
cho dân chủ, nhân quyền đều
là
"diễn
biến
hòa
bình".
Chỉ
trên
phương
diện
ngôn
từ,
khái
niệm
"chống
diễn
biến
hòa
bình"
đã cực kỳ phi lý. Diễn biến hòa bình là vận động, thuyết phục, tạo ra những chuyển biến bằng phương tiện hòa bình,
tại
sao lại chống. "Diễn biến hòa bình" nhất định phải tốt hơn "diễn biến chiến tranh".
Diễn
biến
hòa
bình
là
cuộc
đấu tranh
cần
thiết
giữa
con người
với
con người,
giữa
các
thế
lực
chính
trị
để thủ thiêu cái ác,
giành
phần
thắng
cho điều thiện bằng những phương tiện hòa bình.
Ðảng có thói quen nhìn
những
ai khác
mình
là
phản
động, kẻ thù.
Thực
tế cuộc sống vô
cùng
đa dạng và phong phú,
làm
sao bắt mọi người đều
phải
nghĩ
như
mình.
Ðất nước là của nhân dân,
sao đảng lại cứ độc
quyền
yêu
nước.
Xét cho cùng,
nói thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, chống đa nguyên chính
trị
và
diễn
biến
hòa
bình
thực
chất
là
cốt
duy trì sự thống trị của đảng. Ðó là lợi ích của đảng chứ không phải lợi ích của nhân dân nhưng vẫn nhân danh nhân
dân
để củng cố quyền lực của mình.
Hà Sĩ Phu, biểu tượng của trí
tuệ
và
tự
do tư
tưởng
Những người Cộng Sản tự cho đã được
lịch
sử giao phó sứ mệnh lãnh đạo cách mạng, lãnh đạo đất
nước.
Thực
ra, những người Cộng Sản đã giành được quyền đó trong một gian
đoạn
lịch
sử và
đã có những đóng góp nhất định cho
đất nước (dù cũng có
người
không
thừa
nhận
sự đóng góp này). Tuy nhiên, việc nắm quyền lãnh
đạo đó, không phải một lần là mãi mãi. Những người lãnh đạo phải ngang tầm với đất nước và được sự chấp nhận của đa số nhân dân. Nếu không thế, sớm hay muộn, nhất định những người lãnh đạo không xứng đáng sẽ bị loại bỏ. Lịch sử rất công bình
và
nghiêm
khắc.
Bao nhiêu
triều
đại, chế độ đã hưng phế theo thời gian.
Làm
sao những người Cộng Sản có thể cứ tự mãi hô muôn năm?
Liên Xô là cái nôi
của
chế
độ Cộng Sản, là nước đứng đầu
hùng
mạnh
của
hệ thống Xã
Hội
Chủ
Nghĩa
toàn
thế
giới,
sau 75 năm đã sụp đổ tan tành. Trên đất nước Xô Viết đa số nhân dân
đã không còn chấp nhận chế độ Cộng Sản, tại sao
những
người
Cộng
Sản
Việt
Nam vẫn
"bảo
hoàng
hơn
vua", vẫn còn cố nêu
lên
định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa khi chưa rõ
hình
thù
nó
như
thế
nào?
Tại
sao như Hà Sĩ Phu nói, những người Cộng Sản qua sông rồi, vẫn còn vác thuyền trên vai mà
đi, không chịu can đảm
tuyên
bố
chia tay ý thức hệ, một ý thế hệ ngoại lai có một số đóng góp cho đất nước trong
một
giai đoạn, nhưng cũng
đã tàn phá đất nước đến
tận
cùng?
Những người Cộng Sản Việt Nam muốn độc
quyền
chân
lý,
độc quyền yêu nước nhưng điều
đó không thể được.
Bộ máy
thông
tin tuyên
truyền
báo
chí
hùng
hậu
của
cả chế độ không trấn áp nổi mấy bài viết hơn 100 trang của Hà Sĩ Phu nên phải dùng tới bạo lực nhà tù. Trấn áp không phải lúc
nào
cũng
chỉ
đưa tới sợ hãi mà
còn
tạo
ra sự căm phẫn và phản kháng. Cai trị bằng sự sợ hãi không
phải
là
một
phương
cách
lâu
bền.
Tất
cả mọi chế độ độc
tài
trên
thế
giới
này
đều đã thử nghiệm và cuối cùng đã thất bại. Những người Cộng Sản, trong
một
giai đoạn, từng đấu tranh
cho độc
lập
dân
tộc
và
công
bằng
xã
hội
tất
phải
thấu
hiểu
hơn
ai cả
về điều
này.
Dù đất nước Việt Nam vẫn còn nghèo nàn lạc hậu, dù đang thời kinh tế thị trường, con người nhất định không phải chỉ là
con vật
kinh tế. Dù Đông hay Tây, dù với đặc
thù
nào,
một
quốc
gia nói tôn trọng Nhân Quyền mà không tôn trọng tự do tư tưởng và các quyền dân chủ của nhân dân thì thực chất chỉ coi con người như con vật, nói gì
đến việc xây dựng chiến lược con người.
Hà Sĩ Phu và cuộc hành
trình
gian nan của dân tộc
Trong chế
độ cộng sản, ngày xưa, phản động là một từ, một cái mũ thật khủng khiếp đối
với
những
ai bị
gán
cho. Tuy nhiên, ngày
nay, không
phải
chỉ
có
nhà
cầm
quyền
kết
án người dân là phản động, mà người dân cũng có thể kết án nhà cầm quyền là phản động, đi ngược lại quyền lợi của nhân dân, của đất
nước,
đi ngược lại trào lưu tiến hóa của lịch sử. Đó mới thật là phản động!
Đâu là bản chất của sự vận động lịch sử hiện nay? Chúng ta nên
bi quan hay lạc quan?
Tôi
nghĩ
trong cuộc hành trình gian nan về tương lai của dân tộc, không một ai có thể hoàn toàn quyết định bước đi của lịch sử. Tình hình
tùy
thuộc
nhiều
yếu
tố nội tại và
ngoại
tại.
Nhiều
cuộc
vận
động tự thân của các
thành
phần
dân
tộc,
nhiều
cuộc
đấu tranh
giằng
co giữa
các
thế
lực
hiện
đã lên đến cao điểm, và
cuối
cùng
nhân
dân
sẽ biết nên
đi con đường nào.
Cuộc
hành
trình
lắm
gian nan nhưng không phải như chiếc xe lửa trên đường ray cố định, mà
trái
lại,
có
tìm
kiếm,
lựa
chọn
không
ngừng.
Trong cuộc
hành
trình
đó, có những người tiên phong. Những người tiên
phong, tuy chịu nhiều hy sinh, nhưng không bao giờ cô
độc, không
bao giờ
vô
ích. Hà
Sĩ
Phu là
một
trong những người đó. Mong rằng khi
ra tù, Hà Sĩ Phu vẫn lại có mặt ở vị trí hàng đầu và tìm được những lý giải sáng suốt cho những vấn nạn đang đặt
ra.
Nhưng tiếng gọi tự do và lòng phản kháng chính trực cứ vang động, thôi
thúc
trong lòng tôi. Tự bao giờ những điều này đã thấm vào máu
xương
và
hơi
thở.
Làm
sao tôi và người khác có thể sống mà không được quyền nghĩ, nói
theo ý mình. Làm sao những người làm việc cật lực, đổ mồ hôi sôi nước mắt vẫn sống nghèo khổ trong khi
những
kẻ lười biếng chỉ múa
môi
mép
lại
sống
xa hoa phè phỡn. Làm sao nhiều kẻ bất tài
tham lam độc đoán lại muốn độc
quyền
cai trị đất
nước,
chi phối
cả thế giới trong khi nhiều người trí tuệ, tài năng
lại
chỉ
biết
phải
vâng
lời,
khuất
phục.
Làm
sao những ý thức hệ, chủ nghĩa và cả lòng tham, sự ngu dốt và phi nhân, độc ác vẫn cứ thống trị toàn xã hội... Những điều này có thể xẩy ra với bất cứ chế độ
chính
trị,
bất
cứ người lãnh
đạo nào nếu xã
hội
không
có
một
cơ chế hãm
cần
thiết
và
thích
hợp.
Do đó, hơn ai hết, những người lãnh đạo cần được
phê
phán
và
phải
lắng
nghe phê phán hơn ai hết.
Vì thế, tôi
thấy
cần
phải
làm
một
cái
gì
đó khác hơn tu, sáng tác
hay trồng
cây.
Điều
nhỏ
bé
đầu tiên có
thể
làm
là
viết
và
nói
thẳng,
nói
thật.
Nhưng
trong hoàn cảnh Việt Nam hiện nay, chỉ chừng đó thôi cũng không phải dễ dàng.
…
Tôi cần bình yên nhưng có thứ bình yên lại là bình yên trong phản bội. Tự do là
tự
do trong nô lệ. Sống làm người lại là sống như con vật - kinh tế.
Suy nghĩ cho cùng, vượt qua sự yếu đuối
của
bản
thân,
sự sợ hãi
trước
bạo
lực,
tôi
chỉ
có
một
lựa
chọn:
Sống
như
một
con người
tự
do, tôi
sẽ có
bình
yên
đích thực dù cho phải trả một giá
nào.
Tôi tin vào luật nhân quả. Tôi
làm
điều
tốt
hay xấu
sẽ có
hậu
quả
tương
xứng.
Và
cả đảng Cộng sản, dân tộc này,
nhân
loại
này
cũng
không
thoát
khỏi
luật
nhân
quả.
Tôi
không
có
gì
phải
lo lắng.
Thông cảm, bao dung và
chiến
đấu với điều
ác, nhất định sẽ mang lại một cái gì
tốt
đẹp hơn cho
con người
và
xã
hội.
Những
chế
độ chính trị rồi sẽ thay đổi, qua đi nhưng con người vẫn còn tồn tại. Chỉ có tình thương mới mang lại cho
đất nước, trần gian
này
cuộc
sống
hạnh
phúc
dù
phải
trải
qua nhiều
thiên
niên
kỷ.
Khoan thai mùa
xuân và hối hả đi về thế kỷ 21
Thiên nhiên
lặng
lẽ và
từ tốn chuyển mình theo quy luật tự nhiên của muôn đời. Những cây khô đã trút hết lá
trong mùa đông chậm rãi đâm
chồi,
từng
chiếc
một.
Những
chiếc
lá
xanh non đầu tiên xuất hiện, lác đác
trên
cành
khô.
Từng
ngày,
từng
ngày
nhựa
sống
âm thầm chuyển dịch. Và một lúc nào đó, ta ngạc nhiên
thấy
dáng
cây
in sẫm
màu
lên
trời
xanh, tỏa bóng mát dịu dàng giữa trưa nắng nồng. Cùng với bóng lá, hương mùa xuân của vô vàn bông hoa hữu danh và vô danh thoảng đưa trong
gió,
gửi
tín
hiệu
đến
những
chàng
bướm
đa tình, những chú ong cần mẫn bay lượn. Rồi những trái
non tơ
bé
xíu
tượng
hình,
tiếp
nối
mầm
sống
cho các thế hệ mai sau.
Và
những
con chim én
nữa.
Từ đâu những cánh chim bé
nhỏ
phiêu
lãng
này
hội
tụ về đây chao liệng trên
vùng trời đầy
nắng gió báo hiệu một mùa xuân.
Cứ thế, thiên nhiên
khoan thai chuyển mình
trên
đôi cánh thời gian đi về vĩnh cửu. Nhưng con người đã mất thói quen chậm rãi.
Hối
hả.
Vội
vàng.
Tăng
tốc.
Để kịp bước chân vào thế kỷ 21.
Mỗi
người
và
đất nước này có
lý
do chính
đáng để chạy đua với thời gian. Cần phải nhanh
hơn
và
nhanh hơn nữa. Điều đó cần thiết. Cần nhưng chưa đủ. Vì cuộc sống đích thực lại cần phải có những dấu lặng, những chỗ dừng, những lúc chờ đợi, những phút
lắng
lòng,
những thời khắc yên nghỉ, những trầm tư sâu sắc, những câu hỏi phản tỉnh.
Con người có thể lên mặt trăng,
sao kim, sao hỏa nhưng nội chiến và hận thù, khủng bố diễn ra khắp mọi nơi. Các nước phát triển đã giàu có vẫn không ngừng toàn cầu hóa chiến lược kinh tế của mình trong khi hàng triệu trẻ em Châu
Phi chết
đói. Đã có nhiều cố gắng hoạt động cho dân quyền và
nhân
quyền
nhưng
lợi
nhuận
vẫn
mạnh
hơn
tình nhân đạo, lòng tham vẫn lớn hơn từ tâm,
độc ác phi nhân vẫn lấn át chính nghĩa.
Phải chăng con người cần sống vội vàng nhưng cũng phải biết dừng lại để tự hỏi ta là ai, đang làm gì, sẽ đi về đâu.
Những
câu
hỏi
muôn
đời nhưng con người vẫn hay quên vì
đã đánh mất mình trong dòng cuốn của cuộc sống.
Những nước phát triển vì muốn có quan hệ làm
ăn kinh tế có lợi cho
mình,
đã gác qua một bên các
vấn
đề nhân quyền khi bàn bạc hợp tác
với
các
nước
theo chế độ độc tài, có xứng đáng là những quốc gia
văn
minh luôn đề
cao tự do dân chủ cho con người hay không?
Lên án bạo lực nhưng lại ngầm bán vũ khí cho bọn khủng bố, cho các đội quân khát
máu
hủy
diệt
chính
đồng bào, đồng loại mình. Phát
triển
đất nước mình bằng cách
xâm
lăng
đất nước láng giềng. Bảo vệ tự do và quyền sống của dân tộc nhưng lại khủng bố, tàn
sát
người
vô
tội
của
dân
tộc
khác.
"Độc quyền lãnh đạo sáng suốt"
bằng
cách
hủy
diệt
trí
tuệ
và
làm
thui chột tiềm năng của dân tộc. Chống độc
tài
áp bức bằng cách kêu gọi hận thù, đòi
máu
trả
máu…
Tất cả những điều này sẽ mang lại gì cho
từng
đất nước và cả loài người?
Không phải vô căn cứ và mê tín dị đoan khi
có
những
nhà
tiên
tri tiên
đoán
đầu thế kỷ 21 sẽ là thời điểm
diễn
ra thảm họa trên nhiều quốc gia, thậm chí là
một
sự hủy diệt lớn lao gần như tận thế. Thiên tai kinh hoàng trên
khắp
các
lục
địa vừa qua và máu đổ, người chết, hận thù, xung đột diễn ra
khắp
nơi
không
phải
là
dấu
hiệu
cho bi kịch lớn sẽ xảy ra cho
con người
đó sao? Không phải Thượng đế hủy diệt mà chính con người hủy hoại môi truờng và
hủy
diệt
chính
mình.
Con người có thể xác, tinh thần và tâm linh. Đất nước có núi sông,
môi
trường
sinh thái và lịch sử, truyền thống. Xã hội có kinh tế và
quan hệ nhân bản giữa con người và con người. Những người lãnh đạo phải có tài năng,
trí
tuệ
và
đạo đức. Con người chỉ có
thễ
tự cứu, sống còn
và
hạnh
phúc
khi có được sự hòa hợp, cân bằng giữa các yếu tố như thiên nhiên đã làm nở một nụ hoa vàng trong nắng gió
mùa
xuân.
Con người có trí tuệ nên thông
minh hơn và cũng tàn bạo hơn con vật. Lý thuyết "mục đích biện minh
cho phưong tiện" là phát kiến đốn
mạt
và
độc ác nhất trong lịch sử tư tưởng và chính trị của loài
người.
Phát
triển
kinh tế rất cần thiết và là điều kiện thuận lợi cho
công
bằng
xã
hội,
tự
do dân
chủ
nhưng
không
thể
quan trọng hơn công
bằng
xã
hội
và
tự
do dân
chủ
trong thế giới văn minh này,
không
chỉ
trong phạm vi quốc gia mà toàn thể nhân
loại.
Kinh tế
thị
trường
và
toàn
cầu
hóa
kinh tế nhưng không có nền tảng nhân
bản
chỉ
là
sự bóc
lột
của
người
giàu
và
quyền
thế
đối với người nghèo, sự xâm
lược
của
các
quốc
gia phát triển và các công ty siêu quốc gia đối
với
các
đất nước kém phát
triển.
Thế kỷ 21 là niềm hy
vọng
gần
kề và
loài
người
đang hối hả dấn bước. Nhưng nếu thiếu tình thương, sự huy hoàng của nền văn
minh đã mang
sẵn
mầm
hủy
diệt.
Tiếng vọng lẻ loi và tự do báo chí.
Cũng như nhiều người khác, quan điểm
của
tôi
thật
rõ
ràng: Ủng hộ dân chủ, không tán thành độc quyền lãnh đạo nhưng không chủ trương bạo động, lật đổ, gây hận thù,
đổ máu mà thúc đẩy quá trình dân chủ hóa đất nước bằng những phương tiện hòa bình, chủ yếu là thông qua việc bày tỏ trung thực và thẳng thắn quan điểm
của
mình,
thực
hiện
quyền
tự
do tư
tưởng,
ngôn
luận
và
báo
chí.
Trong ý hướng đó, tôi không coi vấn đề nào là cấm kỵ, không cần lựa lời nói cho dễ lọt tai, vừa lòng
lãnh
đạo. Cũng
như
nhiều
người
khác,
tôi
không
phủ
nhận
và
ít viết về những thành tựu mà tập trung phân tích,
phê
phán
những
thiếu
sót
hay sai lầm. Điều đó dễ hiểu. Đã có gần 500 đài, báo
của
trung ương và các địa phương do đảng và nhà nước lãnh đạo thông tin về đường lối chính sách và ca ngợi thành tích rồi, chúng tôi không cần thiết phải làm việc đó.
Tôi cho rằng đảng và nhà nước không thể đứng trên nhân
dân
và
luật
pháp.
Đảng và nhà nước phải lắng nghe
và
chấp
nhận
sự phê
phán
của
công
luận
dù
điều
này
rất
khó
chịu
đối với một đảng đã từng tự cho mình luôn
sáng
suốt,
lãnh
đạo xã hội toàn diện, triệt để và tuyệt đối,
theo một ý thức hệ "bách chiến bách thắng muôn năm" và không muốn chia
sẻ quyền lãnh
đạo với ai khác.
Vụ Nhân văn-Giai
phẩm
năm
1956-57 là
một
vụ án báo chí-văn
nghệ
thảm
khốc,
một
bi kịch
lớn,
không
những
đã hủy hoại tài năng, trí tuệ, tâm huyết và cả sinh mệnh của bao nhiêu văn
nghệ
sĩ,
nhà
báo
tài
năng,
trung thực, dũng cảm nhất ở trong cuộc, đày đọa
họ cho đến
cuối
đời mà còn làm
thui chột óc sáng tạo, tinh thần phản kháng chính trực của cả mấy thế hệ cầm bút, làm cho họ không
chỉ
mặc
đồng phục, xếp hàng đi trong đội ngũ và hướng đi định sẵn mà còn tự mình
nằm
trong gông cùm của chính mình do sự sợ hãi, sự quy phục trong chính đầu óc mình dù tự nguyện hay không tự nguyện. Đôi người muốn đi ra ngoài hàng,
lập
tức
bị nghiền nát.
Đừng vội dẫy nẩy lên và
cho rằng đây là luận điệu
phản
động của bọn thù địch. Giáo
sư Hòang
Ngọc
Hiến
là
ai khi ông viết về văn nghệ "phải đạo"?
Có
ai dám
nghi ngờ về quan điểm
lập
trường
và
lòng
trung thành của nhà văn đại tá quân đội Nguyễn
Minh Châu
khi ông viết "Đọc lời ai điếu
cho một giai đoạn
văn
nghệ"?
Không
phải
nhiều
văn
nghệ
sĩ
đã nói đến ông kiểm duyệt nằm ngay
trong đầu mình khi sáng tác và
một
vị tổng bí
thư
đã lớn tiếng hô hào cởi trói cho văn
nghệ
sĩ
đó sao? [Đáng tiếc chẳng bao lâu cũng chính ông đã cho trói lại.]
…
Nhân dân ta đã
rất
yêu
nước,
rất
thông
minh làm sao có
thể
chấp
nhận
những
luận
điệu
xằng
bậy,
nhưng
nếu
có
những
ý kiến tốt, những lý luận sắc sảo và thuyết phục, những quan
điểm
đúng đắn
thì
nhân
dân
sẽ ủng hộ, đảng và nhà nước cũng phải tiếp thu nghiên cứu nghiêm
túc.
Tại
sao cái gì cũng hô hoán, quy kết là
âm mưu "diễn biến hòa bình". Diễn biến hòa bình
không
tốt
hơn
diễn
biến
chiến
tranh sao. Trong diễn biến hòa
bình
phần
thắng
sẽ thuộc về người có
chính
nghĩa,
chinh phục được
trái
tim và khối óc của người dân. Đó là cuộc đấu
tranh thẳng thắn, công bằng và không đổ
máu,
tại
sao lại không chấp nhận luật chơi văn minh này.
Lịch sử thế giới và Việt Nam đã cho thấy độc quyền dù trong
tư tưởng, chính
trị
hay kinh tế cũng không bao giờ tốt, chỉ dẫn đến sai
lầm,
độc tài và
độc ác như nhiều người đã nhận xét. Phải có đối thoại, đối
lập
và
cạnh
tranh một cách hòa bình, lành mạnh mới có thể xây dựng một xã hội, một chế độ tốt đẹp và văn minh, mang lại tự do và quyền lợi cho
đa số nhân dân. Trong vấn đề này, tự do báo chí là một trong những phương tiện hữu hiệu nhất.
Đó là những tiếng vọng lẻ loi
ư? Không. Tiếng vọng lẻ loi không còn là tiếng vọng lẻ loi mà đã trở thành tiếng chim báo bão.
Đây không phải là bão tố cuồng nộ của hận thù, máu lửa và áp
bức
mà
là
những
ngọn
gió
phóng
khoáng
của
dân
chủ,
tự
do, của
sự thật, bao
dung, nhân
bản
và
hòa
bình,
những
giá
trị
đích thực của con người sẽ chiến thắng trên đất nước và cả hành tinh này.
Hữu Loan: “Cây gỗ vuông chành chạnh….”
Cuộc
sống
của
Hữu
Loan thời
kỳ
đêm dài 30 năm đúng là “vô cùng căng thẳng”, đặc
biệt
khi “cuồng tín nhân
dân” còn bị nhồi sọ và
kích
động bởi bộ máy tuyên
truyền
hùng
hậu.
Thời
kỳ
đó đã qua và hiện nay những nhà văn chân chính như Hữu Loan không cô độc nữa, dù cũng còn phải chịu đựng không ít
khó
khăn
trù
dập.
Trung thực
và
dũng
cảm
vẫn
là
điều
không
thể
thiếu
khi nhà văn muốn nói lên sự thật.
Riêng Hữu
Loan, ông đã giữ vững sự lựa chọn đó đến
cuối
đời. Theo tôi
biết,
nếu
không
lầm,
sau thời kỳ đổi mới, Hữu Loan là người duy nhất không làm
đơn xin
khôi
phục
hội
tịch
Hội
Nhà
văn
Việt
Nam.[*] Cuộc
sống
của
ông cho đến tận hôm nay, dù trải qua bao nhiêu
gian nan khốn cùng, đó vẫn là một cuộc sống làm người tử tế đúng nghĩa. Hơn nữa đó còn là một cuộc đời
bi tráng
rực
rỡ,
lấp
lánh
niềm
đau và khí phách như những bài thơ của chính ông.
Cuộc
đời Hữu Loan chính là
một
tượng
đài của nhân cách, lòng trung thực và
khí
phách
anh hùng. Tượng đài đó có thể biểu trưng bằng “cây gỗ vuông chành
chạnh” và một chữ Tâm. Người xưa nói “ Dụng nhân như dụng mộc”. Cây gỗ vuông
này
thời
đại của ông không dùng nhưng lịch sử sẽ dựng lên thành một tượng đài, cũng
là
một
loại
bút
“ tả thanh
thiên” lồng lộng giữa đất trời.
Ngòi bút không
chỉ
thù
tạc
và
vẽ vời phong hoa tuyết nguyệt. Ngòi bút
không
chỉ
viết
những
bài
tụng
ca chế
độ. Ngòi bút viết lên trời xanh chỉ có thể là viết về nỗi thống khổ của con người, về sự hà khắc tàn bạo của thế lực cầm quyền. Viết lên
trời
xanh là để
kêu
gào.
Viết
lên
trời
xanh là để
gởi
tới
con người
và
gởi
tới
mai sau khi
ngòi
bút,
những
người
cầm
bút
bị kềm hãm,
phong toả. Viết lên trời xanh là hành động can đảm của người cầm bút chống lại chế độ độc
tài
thống
trị…. Có thể hiểu như thế được chăng?
Đọc
lại
tiểu
sử của hai người bạn “thần Siêu, thánh
Quát” và về việc Nguyễn Văn Siêu dựng Tháp Bút, ta tự hỏi phải chăng Nguyễn Văn Siêu đã ký thác nhiều tâm
sự của chính
mình
và
của
người
bạn
ngang tàng Cao bá Quát khi viết ba chữ ‘Tả thanh thiên” lên Tháp
Bút.
Và
ta suy ngẫm gì khi đứng dưới chân ngọn tháp
mang chứa nỗi niềm và khát vọng của người xưa?
Có người nói kẻ sĩ - trí thức Việt Nam hèn nhát, không đóng được
vai trò lịch sử của mình. Điều đó có thể đúng khi
nhìn
nhận
kẻ sĩ
- trí
thức
như
một
giai cấp có nhiệm vụ chỉ đường và lãnh đạo xã hội. Nhưng kẻ sĩ - trí thức thường chỉ thể hiện như một cá nhân và những cá nhân ưu
việt
tiêu
biểu
cho một tầng lớp. Xét cho cùng
trong những tình huống cực đoan của lịch sử, sứ mạng của kẻ sĩ- trí
thức
không
gì
khác
hơn
là
“Tả thanh thiên”.
Sứ mệnh của người cầm bút không
phải
chỉ
là
“Tả thanh thiên”. Còn biết bao nhiêu
điều
để kẻ sĩ - trí thức - văn nghệ sĩ theo đuổi
và
hiến
dâng
trên
con đường suy
ngẫm,
nghiên
cứu
và
sáng
tạo
của
mình:
ngợi
ca tình
yêu
và
cái
đẹp, đi tìm chân lý cho cuộc sống, soi
rọi
những
trang lịch sử u ám, bị bỏ quên
hay bóp
méo,
lang thang trên
những
nẻo
tâm
linh muôn thuở…
Tất cả đều
mang lại giá trị tinh thần cho
con người.
Tuy nhiên,
trong hoàn cảnh mà con người bị chà đạp, tước mất quyền sống như con người, ngọn bút
“Tả thanh thiên” là cần thiết. Dù
tình hình bi đát đến đâu, kể cả khi tưởng như tuyệt vọng, nhưng nếu vẫn còn những ngọn bút
“Tả thanh thiên”,
dân
tộc
hãy
còn
có
hy vọng.
Nhưng để hoàn thành
một
cuộc
đổi đời, cách
mạng
cho đất
nước,
những
ngọn
bút
“Tả thanh thiên” không đủ. (Và cũng không thể đòi hỏi ở các ngọn bút
nhiều
hơn).
Điều
này
đòi hỏi một sự nghiệp khác, lớn lao hơn, với sự huy
động toàn diện sức mạnh và
tiềm
năng
của
cả dân
tộc.
Chiến Tranh, Nghệ Thuật Tuyên Truyền và Chân Lý Lịch Sử
Quân đội Mỹ không tự ý hành động mà thực hiện chính sách
của
chính
quyền
Mỹ.
Tại
sao chính quyền Mỹ lâm chiến ở Việt
Nam sau khi hiệp định Genève được ký kết,chia đôi
đất nước? Nếu không có
cuộc
chiến
tranh giải phóng của miền Bắc, được
chuẩn
bị ngay từ năm 1954 khi cài
cấy
cán
bộ ở lại và sau
đó từng bước đưa
vũ
khí
và
quân
đội vào miền Nam và
cuộc
chiến
lan rộng thì Mỹ có trực tiếp đưa
quân
vào
miền
Nam không?
Miền
Nam có
cần
được giải phóng không
khi lúc đó hai
miền
đều có chính quyền và
do hoàn
cảnh
lịch
sử đều có mức độ lệ thuộc nước ngoài không khác nhau là
mấy
và
không
thể
nói
là
bị xâm
lược?
Nếu
không
có
xâm
lược
thì
không
thể
có
chiến
tranh giải phóng mà đó đích thực là nội chiến. Nội chiến kết với chiến tranh ủy nhiệm đã tạo ra chiến tranh
xâm
lược
khi Mỹ trực tiếp đưa
quân
vào
Việt
Nam. (Thực
ra vai trò của Liên Xô và Trung Quốc lúc đó đối
với
Miền
Bắc
không
khác
gì
vai trò của Mỹ ở
Miền
Nam, nhưng
vì
Mỹ sai lầm trong việc đưa quân vào
Việt
Nam nên
bị mang tiếng là xâm lược và đây
cũng
là
nguyên
chính đưa đến
sự thất bại của Mỹ trong cuộc chiến, đặc
biệt
là
cuộc
chiến
tuyên
truyền
của
những
người
cộng
sản.)
Tuy nhiên trong cuộc chiến vừa qua, chính người Việt Nam đã giết người Việt Nam, giết đồng bào của mình nhiều nhất, nhưng không thấy ai nói lời xin lỗi, không thấy ai sám
hối
mà
lại
chỉ
tiếp
tục
những
lời
lăng
nhục
hay hận
thù.
Buồn
thay cho một dân
tộc
vẫn
tự hào
là
bao dung và
giàu
lòng
nhân
ái!
Điều
gì
đã dẫn tới bi kịch đó? Một phần chính là do nhiễm độc tuyên truyền. Nhiễm độc tuyên truyền gây
hậu
quả
tệ hại không
kém
nhiễm
độc màu da cam, cũng
di hại
qua nhiều
thế
hệ với bao nhiêu
dị tật nguy hiểm trong tâm hồn con người.
Lịch sử đã đi qua, là
quá
khứ
không
thể
thay đổi nhưng sự phán xét lại lịch sử không bao giờ muộn và vô ích khi muốn rút ra bài học cho tương lai.
Người
chiến
thắng
không
phải
bao giờ
cũng
là
người
có
chân
lý.
Ông cha ta vẫn nói “Được là vua, thua là giặc”,
không
phải
điều
gì
mới
lạ.
Hơn
lúc
nào
hết
lúc
này
nhà
cầm
quyền
phải
thành
tâm
nhìn
nhận
lại
vấn
đề để sửa sai
những
gì
cần
phải
sửa
sai chứ không phải cứ tiếp tục luận điệu tuyên truyền cũ rích. Dù với một nghệ thuật tuyên truyền bậc thầy có thể đổi
trắng
thay đen, che đậy sự thật, nhưng rồi chân lý vẫn lộ ra khi
chân
lý
không
còn
là
độc quyền của thế lực thống trị và không chế độ nào có thể “thiên thu trường trị” như những lời hô "vạn tuế, muôn
năm"
trong lịch sử nghe đã chán ngấy.
Cuối
cùng,
người
quyết
định vận mệnh của đất nước vẫn là nhân dân.
Khi nhân
dân
đã nhận thức được
chân
lý,
nhân
dân
sẽ tự lựa chọn bước đi của mình trong lịch sử. Khi đó, không lực lượng thống trị nào, không nghệ thuật tuyên truyền nào có thể ngăn cản hay lèo lái bước đi của dân tộc.
Thư ngỏ gửi ông Võ Văn Kiệt về vấn đề đại đoàn kết dân tộc.
Tuy nhiên, không thể đổ hết cho
cơ chế, guồng máy
vì
cơ chế, guồng máy
do con người
tạo
ra và chi phối, nhất là đối với những người lãnh đạo có quyền lực như ông. Hơn nữa ông lại là người có bản lĩnh và
nhận
thức
sâu
sắc,
ông không thể không biết đến
tầm
quan trọng và tác hại sâu xa của nghị định phản động đó.
Tôi nêu ra
vấn
đề này vì hiện nay nghị định 31/CP vẫn còn hiệu lực và như thế những kiểm điểm nghiêm túc và lời hô hào tốt đẹp
của
ông về đại
đoàn
kết
chẳng
có
ý nghĩa gì.
Nếu
ông không ngỏ lời công khai xin lỗi và yêu cầu hủy bỏ nghị định này ( dù ông không còn đương chức, ông vẫn có thể làm điều
này),
người
ta sẽ
không
tin tưởng
điều
ông nói, dù ông chân thành đến đâu.
Trong những giai
đoạn
mà
theo ông, đảng cộng sản đã thực hiện chính sách đại đoàn kết thành công, thực chất chỉ là sách lược đối
với
từng
thời
kỳ,
từng
đối tượng. Sách lược đó là đoàn kết với những ai có thể đoàn kết được, nghĩa
là
những
người
chấp
nhận
sự lãnh
đạo của Đảng. Ngược lại, những thành
phần
khác,
dù
là
tốt,
cũng
sẽ bị phân
hóa,
cô
lập
hay tiêu
diệt
để giữ vững độc
quyền
lãnh
đạo.
Ngày nay điều đó không thể thực hiện được
nữa
vì
mọi
người
đã nhìn thấy và hiểu rõ. Đại đoàn kết phải có nội dung và phương thức mới. Đại
đoàn
kết
phải
trên
cơ sở hòa
giải
hòa
hợp,
bình
đẳng, đồng thuận. Đại đoàn
kết
phải
thành
tâm
vì
lợi
ích chung, không dùng
thủ
đoạn
để triệt hạ những người khác quan điểm.
Đại đoàn
kết
phải
tôn
trọng
quyền
tự
do dân
chủ
của
nhân
dân
và
chia sẻ
quyền
lực
với
những
người
tài
đức do nhân
dân
lựa
chọn.
Rõ ràng chỉ có hành động mới chứng tỏ được gía trị của một con người, một chế độ. Nếu ông và những người cầm quyền hiện nay làm được như lời kêu gọi đại
đoàn
kết
trong bài viết của ông, riêng
tôi
và
tôi
tin rất
nhiều
người
sẽ sẵn sàng
đại đoàn
kết
với
các
ông để chung sức xây
dựng
đất nước. Nếu không, như ông nói, khẩu hiệu “Đoàn
kết,
đoàn
kết,
đại đoàn
kết,
Thành
công,
thành
công,
đại thành công” trên quảng trường Ba
Đình "chỉ là một khẩu hiệu bằng sắt, bằng gỗ, bằng vải màu” hoàn toàn vô nghĩa.
Một
vấn
đề khác là những cuộc đấu
tranh trên đường phố của sinh viên học sinh và nói rộng ra là của các tầng lớp nhân
dân,
trong đó có trí thức, không chỉ ở Miền Nam mà còn ngay chính ở Mỹ và nhiều nước trên thế giới, nhằm phản đối
chiến
tranh và sự can thiệp của Mỹ ở
VN có
phải
hoàn
toàn
do cộng
sản
giật
dây
không?
Đối với sinh viên học sinh, ngoài một số ham vui vì được nghỉ học, đi theo bạn bè la hét,
phần
lớn,
nhất
là
sinh viên đều có nhận thức, ở nhiều mức độ khác nhau, về việc mình làm. Điều nổi bật là tinh
thần
dân
tộc,
khát
vọng
hòa
bình,
công
bằng
và
tự
do dân
chủ
với
nhiệt
tình
trong sáng nhất của tuổi trẻ. Dĩ nhiên trong phong trào cũng có những "cơ sở cách mạng" được cài cấy để kích động hoặc lèo lái
nhưng
không
phải
lúc
nào
họ cũng
có
thể
nắm
được phần chủ động. Ai cho rằng cộng sản hoàn toàn
lãnh
đạo các cuộc tranh đấu
này
là
vô
tình
đã quá đề
cao cộng sản (dù nghệ thuật tuyên truyền vận động quần chúng của cộng sản là bậc thầy nhưng không phải họ có thể làm được mọi chuyện) và xem thường trình
độ nhận thức của trí thức, sinh viên học sinh và các tầng lớp nhân dân. Ngược lại, sau này, khi tổng kết phong trào, bao giờ người cộng sản cũng
tự nhận là
đã lãnh đạo, chỉ đạo
mọi
cuộc
tranh đấu để tự đề
cao và giành lấy thành tích. Vậy thì những người có nhận định như trên, lại một lần nữa "trúng kế cộng sản".
Việc
Mỹ
can thiệp
quá
sâu,
đưa quân vào
Việt
Nam, rải
bom trải thảm và chất độc
khai quang, oanh tạc miền Bắc, đưa
chiến
tranh lên độ
khốc
liệt
đã gây nên sự phản kháng khắp thế giới. Phản ứng này xuất phát
từ điều
mà
người
ta gọi
là
"lương
tri nhân
loại"
và
cộng
sản
đã dựa vào tình hình đó để mở rộng cuộc chiến tuyên truyền và ngoại giao. Những người lên tiếng đòi hòa bình cho VN, trong đó có những trí thức chính hiệu, có xu huớng khuynh tả, thuộc tầm cỡ số 1 thế giới như Jean Paul Sartre và
nhiều
người
khác nữa có phải là người ngu, bị cộng sản giật dây không?
Sinh viên học sinh tranh đấu, thành
phần
thứ
ba, trí thức khuynh tả có "đâm sau lưng chiến sĩ" VNCH không? Không hề. Họ đã hiên ngang đứng trước mũi súng
của
cảnh
sát,
trong làn khói lực đạn
cay và
phi tiễn,
kể cả trong nhà tù để
đòi độc
lập,
hòa
bình,
tự
do dân
chủ.
Đây có phải cũng chính là lý tưởng của các chiến sĩ VNCH không?
Kẻ
"đâm sau lưng chiến sĩ" thực sự là
những
tướng
tá
và
chính
trị
gia bất tài, tham nhũng,
tranh giành địa vị, lệ thuộc vào Mỹ đã làm cho chính
quyền
Miền
Nam mất
chính
nghĩa,
cuối
cùng thất trận và họ là những kẻ tháo chạy trước tiên, để
mặc
cho binh lính
ở lại "tử thủ" với kẻ thù hay "tùy
nghi di tản". Chính họ chứ không phải ai khác.
Đâu là con đường hòa giải hòa
hợp
để chống lại guồng máy độc
tài
toàn
trị?
Còn nhân dân,
tiếp
nối
đời này sang đời khác, là
một
thực
thể
trường
tồn
có
sức
mạnh
vô
địch. Không
có
chế
độ độc
tài
chuyên
chế
nào
có
thể
bền
vững
muôn
năm.
Nhân
dân
sẽ có
tự
do dân
chủ
nhưng
tùy
theo mức độ phản kháng của mình,
nhân
dân
sẽ còn
đau khổ nhiều hay ít trong
quá
trình
đòi hỏi quyền làm người của mình.
Tôi không phải là người làm chính
trị
chuyên
nghiệp.
Tôi
không
cần
đánh bóng uy tín
chính
trị
của
mình
cho tham vọng quyền lực hay điều
gì
khác.
Tôi
chỉ
là
người
cầm
bút
phản
kháng.
Tôi viết về chính trị và đã từng tham
gia vào một số hành động chính trị trong đời mình nhưng thực tâm
tôi
không
hoàn
toàn
tin tưởng
vào
hiệu
quả
của
chính
trị
đơn thuần trong
việc
mang lại hạnh phúc cho con người.
Bao nhiêu
cuộc
cách
mạng
đã gào thét trên hành tinh này.
Bao nhiêu
giải
pháp
chính
trị,
đường lối, chính sách
đã được
thực
thi tự cổ chí kim, từ đông sang tây nhưng rút cục cho đến hôm nay, số đông nhân loại vẫn còn đầm mình trong biển khổ.
Phải
chăng
trong chính trị còn thiếu một chữ “Tâm” của con người. Những người làm chính trị thừa thủ đoạn mà thiếu một chữ “Tâm” nhân bản, một tấm lòng yêu thương chân thực với từng phận người cụ thể chỉ hô hào “ vì hạnh phúc của nhân dân” nghe rất kêu nhưng bên
trong là tiếng súng gươm loảng xoảng và những thủ đoạn tàn bạo đê hèn.
Tôi đã từng thiền trong
10 năm
với
hai câu “mantra” bằng tiếng Sanskrit có nghĩa “Mọi vật đều là biểu hiện của ĐấngTối Cao”
và
“Tôi
là
một
với
Đấng Tối Cao” để
mở rộng lòng
yêu
thương
và
trở
về cội nguồn nguyên
thủy
của
mình,
như
giọt
nước
trong con suối nhỏ trở về biển cả.
Tôi có chút
kinh nghiệm về tâm linh, có
thể
giải
quyết
phần
nào
những
vấn
nạn
cá
nhân
nhưng
chưa
thấy
rõ
giải
pháp
hiệu
quả
cho dân tộc và nhân loại. Tôi vẫn ở trên đường tìm kiếm và tôi tin trên thế gian này không ít
những
người
bạn
đồng hành.
Tỉnh thức, cảnh giác nhưng thông cảm và bao dung.
Điều
đáng buồn là về sau này khi những người lính Mỹ, lính Đại Hàn, lính Úc
tham dự cuộc chiến năm xưa đã trở lại Việt nam để
sám
hối
về tội ác của họ trong cuộc chiến nhưng chưa thấy người lính Việt Nam nào, chính
quyền
hay tổ
chức
nào
ở cả hai
phía,
tỏ lòng
ăn năn về những tội ác đã gây ra cho chính đồng bào mình. Chỉ nghe thấy tiếng reo
hò
của
lòng
kiêu
hãnh
về chiến thắng, lời lăng
mạ khinh miệt đối
với
kẻ địch hay sự nguyền rủa đầy hận thù của kẻ chiến bại. Nhân dân
làm
sao có thể quên được những tai họa và thảm cảnh mà cuộc chiến đã gây ra dù
cuộc
sống
vẫn
không
ngừng
đi tới.
Trước
đây, khi đọc lịch sử Trung Quốc thời cách mạng văn hóa, tôi rất ngạc nhiên không hiểu sao giới trí thức Trung Quốc lại có thể trải qua những hoàn cảnh bi thảm nhục nhã
mà
không
dám
phản
kháng.
Cách
phản
kháng
mạnh
bạo
duy nhất là tự sát. Còn lại tất cả đều
bị hành
hạ,
phải
kiểm
điểm,
tự thú
và
đi cải tạo. Sau này qua hoàn cảnh Việt Nam và chiêm nghiệm cá
nhân,
tôi
hiểu
ra rằng dưới một chế độ độc tài toàn trị sắt máu và khi "cuồng tín
nhân
dân"
được kích động bản năng lên
đến tận cùng (theo cách nói của Hữu Loan), lương tri và sự phản kháng của trí thức vốn chân yếu tay mềm và không quyền lực hầu như đã bị đè bẹp.
Sau việc đàn áp nhóm "Nhân
văn
- Giai phẩm",
trong một thời gian dài, giới trí
thức
Miền
Bắc
hầu
như
đã bị tê liệt tinh thần phản kháng. Một hai trường hợp lẻ tẻ của các nhà văn phê phán chế độ, dù là bóng gió,
bị trù
dập
ngay, cộng thêm với việc trí thức bắt buộc phải gắn chặt về mọi mặt với chế độ, nhất là việc làm và
đời sống, đã củng cố thêm sự "liệt kháng" này. Sau 1975, tình
hình
vẫn
không
khá
hơn
nhưng
càng
về sau này, nhất là mấy năm gần đây, trong bối cảnh chung của việc hội nhập quốc tế, việc nâng cao nhận thức của toàn xã hội và tác động của phong trào dân
chủ
hóa
đất nước, một số trí thức dần dần đã khôi phục lại phần nào vị thế của mình.
Trong cuộc chiến vừa qua, giữa bối cảnh chiến tranh
ý thức hệ toàn cầu và
sự mặc cả của các
cường
quốc
để sắp xếp số phận của các nước nhược tiểu, phần lớn người Việt Nam vừa là nạn nhân vừa là người tham dự chủ động vào tấn bi kịch lịch sử. Cho nên nói đến một sự sám hối toàn dân tộc không phải là không có lý. Sử dụng từ và khái niệm của Phật giáo, có thể nói chính chúng ta đã tạo ra
"nghiệp",
một
thứ
"cộng
nghiệp"
nên
cần
tự mình
"giải
nghiệp".
Tại
sao dân tộc Việt Nam sau bao nhiêu chiến đấu, hi sinh và đau khổ đến nay vẫn còn
phải
chịu
áp bức, mất tự do trong chế độ
độc tài toàn
trị?
Điều
này
có
phần
nào
gần
với
câu
"Nhân
dân
nào
chính
phủ
ấy"? Đó cũng là luật nhân quả. Một số người, trong đó có Nguyễn Tường Bách trong tùy
bút
"Mộng
đời bất tuyệt" đã đề cập và lý giải vấn đề này, dù chỉ thoáng qua.(3)
Cộng
nghiệp
này
chỉ
có
thể
được giải bằng sự chuyển nghiệp của toàn dân
tộc,
bằng
hành
động cụ thể được hướng dẫn bằng minh triết chứ không phải là
hận
thù,
u mê
hay tham lam, bạc nhược. Đây không phải chỉ là niềm tin tôn giáo
mà
còn
là
quy luật đấu
tranh xã hội.
Tôi là người đã từng ở trong guồng máy và
đã ở
tù
dưới
cả hai chế độ. Tôi chưa từng cầm súng
để bắn giết ai hay có kẻ thù cụ thể ở
bất
cứ phe nào. Ngược lại, tôi có bạn bè thân thiết ở cả hai phía. Những điều
tôi
suy nghĩ có thể đúng, có
thể
sai nhưng không phải là nhận định của kẻ đứng ngoài, đứng bên lề hay thuần lý
mà
là
tình
cảm
và
suy tư của một người luôn luôn ở trong cuộc, luôn luôn
tự vấn, phản tỉnh và lắng nghe một cách chân
thành
trong từng ngày sống.
Có bạn đọc
trên
mạng
than thở
giùm
tôi,
đại ý nói Tiêu
Dao Bảo
Cự ơi, cuộc sống có bao lâu mà phải bầm dập lận đận
làm
khổ
đời mình…Tôi
cũng
biết
cuộc
đời ngắn ngủi và vô thường. Tôi vẫn hay băn
khoăn
dằn
vặt
về thái
độ sống của mình. Dù sao tôi
đã lựa chọn và cố gắng sống với điều mình chọn lựa. Tôi cũng biết cách im lặng và
chỉ
im lặng khi thấy điều
đó thực sự là giải thoát.
Cùng nhau hướng tới tương lai.
Tuy nhiên sự thật lớn nhất là niềm đau của nhân dân
Việt
Nam, là
những
gì
mà
người
dân
hai miền nam - bắc đã gánh chịu trong cuộc chiến tàn khốc đó chứ không phải là ngôn từ trong các bản hiệp định. Dù
hiệp
định đó đã được
viết
với
những
tính
tóan
như
thế
nào
của
các
bên,
ai ký,
ai không
ký,
ai vi phạm
thì
sự thật là
đất nước đã bị chia cắt làm hai miền trong bấy nhiêu năm. Cho nên nói
“Hiệp
định Genève chia đôi
đất nước”, như cách nói
thông
thường
của
phần
lớn
người
Việt
Nam, không
có
gì
sai mà còn diễn tả đúng sự thật lớn nhất, đau lòng nhất của đất
nước
trong một thời kỳ.
Năm 1964, thời còn là sinh viên,
có
lần
tôi
đã đi cùng với tráng
đòan hướng đạo
Bạch
Mã
trong một chuyến du khảo ra thăm cầu Hiền Lương, đứng bên này sông nhìn sang bên kia bờ và
lắng
nghe trong mình
dậy
lên
niềm
đau chia cắt. Hơn 20 năm sau ngày
thống
nhất
đất nước, tôi mới có
dịp
dến
thăm
cầu
Hiền
Lương
lần
nữa.
Lần
này
tôi
có
thể
đi sang bờ bên kia, đến tận nơi, chụp hình
bên
cạnh
một
tượng
đài không ra hình
thù
gì
cả,
trên
đó có ghi “Cột mốc giới tuyến quân sự tạm thời 54-75” như ngôn từ trong văn bản của hiệp định Genève
và
tôi
thấy
nó
không
có
nghĩa
gì
cả.
Tôi
nhìn
con sông
Bến
Hải,
con sông
đã đi vào lịch sử như một nhát
dao chia cắt, một vết chém ngang lưng đất nước, tôi thấy tội nghiệp vô
cùng
cho con sông bé nhỏ và đất nước Việt Nam nhược tiểu trong cuộc tranh
chấp
kinh hòang của ý thức hệ, của lợi quyền dân tộc, phe phái, tập đòan trên phạm vi tòan thế giới mà Việt nam là một nạn nhân đau thương nhất. Cũng tương tự, Hiệp định Paris năm
1973 có
tên
gọi
là
“Hiệp định về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa
bình…”
(tôi viết theo trí nhớ) nhưng chiến tranh
chấm
dứt
và
hòa bình lập lại không
phải
do hiệp
định mà bằng cuộc tổng tiến công và
chiến
thắng
của
một
phía.
Chưa
kể cho đến
tận
hôm
nay có
nguời
vẫn
còn
đặt câu hỏi mọi hình
thái
chiến
tranh đã chấm dứt chưa và hòa bình
đã thực sự có chưa nơi tâm hồn của những con người vẫn còn những vết thương không sao kín
miệng.
Những
câu
chữ
trong các văn bản, hiệp định, tuyên bố, tuyên ngôn, diễn văn gì gì đó nhiều lúc chẳng có
nghĩa
lý
gì
trước
thực
tiễn
của
con người
và
đất nước, đôi khi chẳng có gì khác hơn là
sự lìa
bịp.
Vậy
thì
sự thật, chân
lý
lịch
sử nằm ở đâu?
Hình
như
chân
lý
nói
chung và chân lý lịch sử nói riêng cũng rất tương đối.
Nhiều
người biết rõ lịch sử do các thế lực thống trị đất nước viết nên đều luôn luôn
viết
có
lợi
cho mình và không ngần ngại bóp méo cái gọi là sự thật lịch sử, nhất là những gì liên quan đến các triều đại, chế độ, thế lực đã bị lật đổ.
Và
từng
cá
nhân
cũng
chỉ
nhìn
nhận
lịch
sử theo hòan cảnh mình sống. Bài viết của Hùynh Phan tham gia cuộc tranh
luận
trên
talawas nói lên khá rõ điều đó. Người ở thành thị miền nam sống bình yên,
no đủ thường đứng về phe quốc gia
và
lên
án các hành động pháo kích, đặt mìn… của cộng sản. Người ở nông thôn nghèo khổ, chịu đựng các cuộc hành quân bố ráp, lùng bắt cộng sản của quốc gia thường có cảm tình với Mặt trận và
tham gia du kích
hay “vô
bưng,
nhảy
núi”. Người ở miền bắc căm thù
đế quốc Mỹ xâm lược và quyết tâm giải phóng miền nam. Dĩ nhiên nói
cho rõ, đây
chỉ
là
xác
định hiện tượng, chưa truy
tìm nguyên nhân và không
phải
tất
cả nhưng phần lớn thái
độ và lựa chọn của nhân dân ở các miền là như thế. Vậy thì ai đúng ai sai? Ai có quyền lên án và ai đáng bị lên án?
Chân
lý
nằm
ở đâu
và
tiêu
chuẩn
nào
để xác định chân lý trong cuộc tranh luận khi chỉ vì những lựa chọn hay “bị lựa chọn” đó mà máu đã đổ và thù hận đã dậy lên ngút ngàn lịch sử?
Điều
quan trọng bây giờ là cùng nhau hướng tới tương lai.
Tương lai đó là đấu tranh
cho một Việt Nam hòa bình, tự do, dân chủ và phồn vinh. Trong cuộc đấu tranh này, đấu tranh
chính
trị
là
quan trọng nhưng không
phải
là
tất
cả.
Bài học lịch sử “Nhân văn” và “Xét lại”.
Vụ án
“Nhân
văn
– Giai phẩm” chấn động xã hội mang
lại
nhiều
tai họa,
tai tiếng
và
tranh cãi là một vụ như thế nào chưa hề được
xem xét lại sau gần nửa thế kỷ. Đây không phải là một vụ hòan tòan đã qua, đã mất mà vẫn còn là một vấn nạn lịch sử và hệ quả của nó vẫn còn tồn tại, nhức nhối trong đời sống văn học và
xã
hội
hiện
tại.
Ở
Việt
Nam, có
hai từ rất đẹp
đã bị những vụ án chính trị làm
hoen ố. Đó là từ “nhân văn” và “xét lại”. Đã có một thời gian
dài
hai từ này bị hiểu như là cái gì xấu xa, phản trắc, phản động, chống lại đảng cộng sản, chống lại tổ quốc. Ai bị quy là “bọn
nhân
văn”, “bọn xét lại” hay có liên quan, dây mơ rễ má với “bọn” này thì chỉ có nuớc bị đi tù, cải tạo, trù
dập
hay không
ngóc
đầu lên nổi. Nhưng “nhân
văn” chính là
phẩm
cách
cao quý nhất của một nền văn hóa và cả chính trị, “xét lại” là động lực phát triển của khoa học và
cũng
của
chính
trị.
Khi hô
hào
xây
dựng
một
xã
hội
“công bằng và văn minh” thì đó chính là “nhân văn” và “đổi mới”
có
khác
gì
“xét
lại”. Như thế không phải đảng và nhà nước không hiểu rõ giá trị của hai từ này nhưng đảng và nhà nước không cho ai “nhân văn” và “xét
lại” nếu việc này đe dọa đến
sự độc quyền lãnh đạo của mình. Đây là một mâu thuẫn lớn đã gây ra bi kịch và
sự “tụt
hậu” của Việt Nam trong thời hiện đại nói chung và trên hai lãnh
vực
văn
hóa,
chính
trị
nói
riêng.
Qua vụ NVGP,
vói
các
tài
liệu
liên
quan mới được
công
bố lại trên
talawas, ta thấy những nhà văn, nhà
báo
đã trở thành công an, mật vụ, chỉ điểm và trở mặt nói xấu, quy chụp, đưa
bạn
bè,
đồng nghiệp vào chỗ tù
đày, thân bại danh liệt như thế nào. Những người cần có
nhân
cách
nhất
lại
vì
vụ “nhân
văn” trở thành những người mất nhân
cách
tệ hại nhất. Mà
các
tác
phẩm
đăng trên NVGP có
gì
khác
hơn
là
đòi tự do tư tưởng, tự do sáng tác, chống quan liêu, chống tham ô lãng phí và không ít tác
phẩm
khẳng
định sự ủng hộ đối
với
đảng để diệt trừ những tệ nạn xấu xa làm hại đến
nhân
dân,
đến đất nước và cả đến đảng khi đảng đã nắm được
quyền
lực.
Không dừng lại ở đó, sau vụ NVGP,
tất
cả nhà
văn
khi sáng tác đều chịu hai cái vòng
“kim cô”, một ở bên ngòai do chính sách
kiểm
duyệt
của
nhà
nước
khi biên tập, cho đăng báo, xuất bản, một ở bên trong đầu từng nhà văn khi luôn luôn nghĩ mình phải sáng tác như thế nào để
khỏi
phạm
vào
những
điều
cấm
kỵ có
thể
đưa mình đến chỗ thân bại danh liệt. Vậy là có tác phẩm “phải đạo”, “đồng
phục”. Nhiều người đã băn khoăn tại sao Việt Nam không có
tác
phẩm
lớn
đạt tầm nhân lọai khi hòan cảnh Việt Nam là một hiện thực lớn vô cùng phong phú
và
văn
nghệ
sĩ
Việt
Nam không
thiếu
tài
năng.
Phải
chăng
tình
hình
trên
đây đã là một câu trả lời hiển nhiên. Làm sao có
tác
phẩm
lớn
khi văn nghệ sĩ không có tự do sáng tạo?!
Sự liêm khiết tinh thần và cái “dũng” của người cầm bút hay bi kịch của trí
thức
Việt nam.
Nhà phê bình
Phạm
Xuân
Nguyên
nhận
xét:
“Nhất đội nhì giời” - câu nói một thời, ám ảnh một đời. Nó là sự thực đời sống. Còn hơn thế, nó là sự thật lịch sử. Nhưng mà đọc trong sách thấy cứ như một trò đùa số phận. Một vô thức lịch sử. Một chứng điên tập thể. Và rồi cuộc sống cứ trôi theo quy luật vốn có, những gì bị phá đi thì phải làm lại, đánh mất phải tìm lại, quẳng đi phải lấy lại.”
Vậy thì đây là sự thật lịch sử hay vô thức lịch sử? Cái gì là vô thức lịch sử và trò đùa của số phận? Chứng điên tập thể nào? Nguyên nhân gì? Ai trực tiếp gây ra? Dĩ nhiên nông dân căm thù áp bức bóc lột của địa chủ, không phải riêng địa chủ mà cả thực dân đế quốc và bất cứ bọn cường hào ác bá cũ mới bất cứ thời kỳ nào, nhưng đi đến chỗ đấu tố, con tố cha, vợ tố chồng, bà con hàng xóm láng giềng tố cáo và tàn sát, cướp bóc lẫn nhau thì chỉ do đội cải cách phát động, cưỡng ép mới có được thôi. Đây là sản phẩm đặc hiệu có một không hai của cuộc cải cách ruộng đất do đảng cộng sãn lãnh đạo. Đúng là nông dân Việt Nam cần một cuộc cải cách ruộng đất nhưng không phải theo cách điên rồ này.
Trong “Ba người khác”, ba anh đội, ba nhân vật chính của tác phẩm là những nguời đã tạo ra “cơn điên tập thể” đó. Qua tác phẩm rõ ràng đó là ba tên cặn bã. Nhưng ba
tên
này
từ đâu đến?
Có phải “ba cái anh lăng nhăng”, thứ “đồ ba láp” không biết từ đâu đến lại có thể làm nên những chuyện đảo lộn trời đất? Có thực như vậy không? Hay mọi người đều biết những tên khốn nạn này do đảng cộng sản phái xuống làm công tác cải cách và cho chúng
quyền
uy đến
mức
nhân
dân
khiếp
sợ phải gọi chúng
là
“nhất
đội nhì giời”. Không có
đảng cộng sản, chúng nó
có
thể
lộng
quyền,
tác
oai tác quái làm những chuyện kinh thiên động địa như thế không? Đảng cộng sản Việt Nam đựợc “lịch sử giao phó sứ mạng lãnh đạo đất nước” và trong
chuyện
cải
cách
ruộng
đất này đảng đã làm theo sự chỉ đạo của đảng cộng sản Trung quốc với một phương thức tàn bạo, phi luân,
làm
đảo lộn mọi giá trị văn hóa
tinh thần của dân tộc Việt Nam và ảnh hưởng lâu dài trên lịch sử đất
nước.
Tác
giả
biết
rõ
điều
đó và tác giả đã làm gì, suy nghĩ
gì,
sống
và
viết
như
thế
nào
trong những năm tháng tiếp theo sau
những
sự kiện kinh hòang mà tác giả không những đã chứng kiến mà còn trực tiếp tham gia
như
người
trong cuộc? Có phải chính vì thế mà Hà Văn
Thùy
đã có lý khi đề cập đến
vấn
đề nhân cách nhà văn của tác giả? (Trong bài “Về cuốn Ba người khác
của
nhà
văn
Tô
Hòai” đăng trên talawas)
Ở
đây không đặt vấn đề phê phán cá
nhân
mà
người
viết
muốn
đặt ra
một
vấn
đề chung: Đến bao giờ trí
thức
nói
chung và những người cầm bút nói riêng mới dám nói thẳng, nói thật, nói hết những điều mình nghĩ? Dĩ nhiên con người bao giờ cũng có
giới
hạn
và
từng
con người
cụ thể, trong những hòan cảnh cụ thể lại càng có giới hạn. Không thể đòi hỏi nhiều ở con người, nhất là những người trí thức sống trong
một
xã
hội
tòan
trị
độc quyền chân lý
và
không
cho ai được quyền nghĩ khác, nói khác. Tuy nhiên cũng
không
phải
vì
thế
mà
trí
thức
hòan
tòan
“liệt
kháng” phó mặc cho
số phận khi thiên chức của trí thức là nói lên tiếng nói lương tri và soi đường cho lịch sử bằng trí tuệ của mình.
Lịch sử Việt Nam hiện đại
có
cả
bi hùng,
bi tráng,
bi thảm,
nhuộm
đầy máu, mồ hôi
nước
mắt
của
con dân.
Đảng cộng sản đóng vai trò lớn trong
giai đọan lịch sử này. Chừng nào đảng còn chậm chuyển biến, trí thức không dám nói lên tiếng nói trung thực và
phản
kháng,
nhân
dân
chậm
nâng
cao nhận thức và đi
vào
hành
động, chừng đó đất
nước
còn
dậm
chân
trong vòng nghèo đói,
lạc
hậu
và
khổ
đau. Đó là định mệnh của dân tộc và chỉ có tòan thể dân tộc mới có thể tự thay đổi số phận mình.
Một cuộc đại hội thảo và những cuộc gặp gỡ văn nghệ tự do. Tại sao không?
Nhiều luận điểm và
ngôn
từ mang tính thù hận cũ rích từ hơn 30 năm qua vẫn được đem ra dùng lại, tấn công đối phương, với sự khoái
trá
hả hê
không
che giấu, làm như chưa hề biết cuộc chiến máu lửa đã ngưng lại từ ngần ấy năm.
Hình
như
ở một số người tư duy đã bị đông cứng, không có khả năng lắng lòng lại để chiêm nghiệm về bi kịch lịch sử mà
nhân
dân
Việt Nam đã gánh chịu, trong đó mỗi người đều có phần trách nhiệm của mình.
Cái
gọi
là
“chính nghĩa” mà các bên đã nhân danh và tự hào lại chính là bình phong cho những thủ phạm giấu mặt nguy hiểm nhất gây ra biết bao tai hoạ. Sự bảo thủ và cưỡng bức chân lý hình như không phải là độc quyền của riêng
ai. Vì
đủ mọi thứ lý do, sự giải thích và diễn dịch quá khứ hầu như không thể đạt đến sự đồng thuận nơi phần lớn thế hệ đã từng kinh qua cuộc chiến.
Vậy thì có lẽ không nên
tiếp
tục
tranh cãi về quá khứ. Hãy để thế hệ sau phán xét,
những
người
không
bị cuộc chiến trói
buộc
sẽ vô
tư và
công
bình
hơn.
Nhưng
còn
hiện
tại
và
tương
lai? Cũng như trong quá khứ, mỗi người dù làm gì
hay không
làm
gì,
làm
như
thế
nào
đều có trách nhiệm và góp phần chi phối tình hình đối với hiện tại và
tương
lai của đất nước. Không thể đổ lỗi cho ai khác nếu ta chưa đóng góp được phần mình. Nếu dân tộc này quay lưng lại số phận của mình, sống như lục bình
trên
dòng
nước
chảy
thì
việc
gánh
chịu
thảm
kịch
là
điều đương nhiên. Không ai cứu vớt được ta nếu chính ta không ra sức vùng vẫy để làm chủ số phận. Dân
tộc
chỉ
có
thể
bước
tới
nếu
không
bị
chia rẽ
và
xung đột, làm
suy yếu tiềm lực.
“Nhóm Đà Lạt”, một cách gọi, thực ra chẳng có phe
đảng, tổ chức gì cả. Chúng tôi chỉ là những người cầm bút tự do, có tính cách, quá khứ và sở trường khác nhau, quan điểm về những vấn đề lớn cũng có độ chênh nhất định nhưng “đồng thanh tương ứng, đồng khí
tương
cầu”. Khi có bài, tác phẩm mới viết hoặc có rượu ngon, có bạn ở xa đến, chúng
tôi
họp
nhau để trao đổi, tâm tình và bàn chuyện thế sự. Từ 20 năm nay chúng tôi
vẫn
làm
như
thế
dù
có
một
khoảng
thời
gian 8 năm, chỉ mấy người trong cùng một thành
phố
nhỏ
xíu,
nhà
cách
nhau chỉ có mấy cây số, nhưng không gặp được nhau đầy đủ vì khi
người
này
bị tù,
lúc
người
kia bị
quản
chế.
Nếu
quy bày tỏ tư tưởng là vận động chính trị thì
chúng
tôi
đã làm như thế từ bao năm
nay, không
có
gì
mới.
Chúng
tôi
đã và sẽ luôn nói
và
viết
lên
quan điểm độc lập của mình
về mọi vấn đề, không coi điều gì
là
cấm
kỵ.
Vậy thì hôm nay tại sao văn nghệ sĩ và công chúng không tự mình làm công việc hoà giải hoà hợp này. Tôi có ý kiến
hơi
khác
với
Bùi Minh Quốc và Nguyễn Kim Bình về việc xin
phép
tổ chức một cuộc gặp gỡ văn
nghệ
đông đảo, chính
thức.
Nếu
làm
được như thế cũng tốt. Nhưng luật pháp không cấm, nhà nước không cấm, tại sao chúng ta không
tự làm?
Chúng
ta cứ
tự
do tổ
chức
những
cuộc
gặp
mặt
giữa
văn
nghệ
sĩ
với
nhau, với công chúng thuộc mọi miền, mọi thành phần để trò chuyện và trao
đổi tâm tình. Gặp mặt ở nhà riêng, ở quán café, ở nhà hàng, ở trường đại học, ở các cơ sở văn hoá, trên các tạp chí, trên không gian ảo… với năm ba người, năm
ba chục người… và
công
bố nội dung như cách
làm
trên
talawas vừa qua. Ai cấm cản điều này nếu không
phải
là
chính
ta tự
mình
đứng trong vòng
vôi
cấm?
Trong những
cuộc
gặp
này,
chúng
ta không
cần
tuyên
ngôn
tuyên
bố chống ai,
ủng hộ ai cả mà chỉ để cảm thông và chia sẻ. Sự hoà giải hoà hợp thực sự của nhân dân
sẽ chống lại mọi chủ trương
hay âm mưu chia cắt, thúc đẩy sự chuyển biến của tình hình chung, mang lại hoà bình trong lòng
người
và
cho đất nước. Nếu chúng ta không
làm,
nhân
dân
không
làm,
tình
hình
chung của đất nước sẽ còn trì
trệ,
trong đó mỗi người đều có phần trách nhiệm của mình.
. Nan đề nào? Nan đề cho ai?
Lời hận thù và lời yêu thương.
Lời
nào
nói
dễ hơn? Tiếc thay, trong nhiều trường hợp, thực tế cho
thấy
lời
hận
thù
nói
dễ hơn, đặc biệt trong
vấn
đề chính trị và tôn giáo, khi người ta khác
biệt
chính
kiến.
Ai là người có
thể
đưa cuộc đấu tranh
cho dân chủ đến
thành
công?
Rõ
ràng
không
phải
chỉ
là
những
cá nhân và tổ chức đang hoạt động ở
hải
ngoại
và
những “nhà dân chủ”
hiện
nay trong nước mà còn phải có sự đóng góp của rất nhiều thành
phần
khác:
Những
“dân
oan” đang khiếu kiện, những công nhân
đang đình công để đòi quyền lợi chính đáng của mình (người cộng sản rất hiểu điều này mà họ gọi là từ dân sinh đến dân chủ, từ tự phát
đến tự giác). Những trí
thức,
văn
nghệ
sĩ
bất
bình
vì
thiếu
tự
do tư
tưởng,
tự
do sáng tạo. Những nhà báo ức
chế
vì
bị siết chặt trong vòng kiểm duyệt. Những công chức có lương tâm trong guồng máy
nặng
nề kém
hiệu
quả.
Những
doanh nhân năng động nhưng bị cơ chế ràng buộc, gây khó khăn. Những đảng viên còn lý tưởng phục vụ nhân dân, kể cả những người ở trong cấp cao
của
guồng
máy.
Sau cùng
là
tuyệt
đại đa số nhân dân đang thất vọng trưóc
sự tham nhũng vô phương cứu chữa của guồng máy và sự xuống dốc của toàn xã hội trên lãnh vực văn hóa và đạo đức.
Chỉ
đến khi
tất
cả những thành
phần
dân
tộc
này
đều ý thức và tham
dự ở một mức độ nào đó, cuộc đấu tranh
dân
chủ
hóa
đất nước mới có thể thành công.
Khi người dân còn
có
cảm
giác
lo sợ
khi đối
diện
với
công
an, kể
cả lúc
công
an đang làm việc sai trái như đòi tiền mãi lộ, lúc đó chưa có dân chủ. Khi người dân
còn
khúm
núm
trước
một
nhân
viên
chính
quyền
hách
dịch,
lúc
đó chưa có dân chủ. Khi văn nghệ sĩ còn tự kiểm duyệt mình trong sáng
tác,
lúc
đó chưa có dân chủ. Khi công chức nhà nước còn im lặng trước sự lộng hành
độc đoán
của
thủ
trưởng
cơ quan, dù đó chỉ là một anh
thủ
trưởng
bé
tí,
lúc
đó chưa có dân chủ. Khi cử tri còn nhìn trước nhìn sau, không
dám bỏ phiếu theo ý mình, dù
là
đang trong phòng phiếu kín,
lúc
đó chưa có dân chủ. Khi vẫn là “đảng cử, dân bầu”,
lúc
đó chưa có dân chủ. Khi các “ông độc
quyền” như ông điện, ông nước, ông hàng không còn tự ý
làm
mọi
việc
bất
chấp
quyền
lợi
chính
đáng của khách hàng không cần giải thích, xin lỗi hay đền bù, lúc
đó chưa có dân chủ…
Có
thể
kể ra hàng trăm ví dụ như thế. Những tuyên ngôn, tuyên bố rất hay nhưng đằng sau không có
một
lực
lượng
quần
chúng
đông đảo
có
ý thức và ý muốn hành động tán thành
và
ủng hộ, sẽ chóng chìm trong quên
lãng
và
bộn
bề sôi
động của cuộc sống đời thường.
Hòa giải
hòa
hợp
dân
tộc
và
cuộc
vận
động dân chủ hóa đất
nước
bằng
phương
thức
diễn
biến
hòa
bình.
Điều quan trọng tôi
muốn
nhấn
mạnh,
tôi
xem hòa giải hòa hợp dân tộc là phương thức tối ưu sau chiến tranh để lấy lại, củng cố và phát huy sức mạnh dân
tộc
trên
đường phát triển, trong đó văn học nghệ thuật đóng vai trò
đặc biệt vì sự thẩm thấu, tạo đồng cảm và sức lan
tỏa
của
mình.
Công việc này có
nhiều
trở
lực
vì
có
một
số thành
phần,
trong đó quan trọng nhất là một số người cầm quyền, vì quyền lực và quyền lợi, không chấp nhận hay không có thực tâm. Tuy nhiên nếu đa số những thành phần còn
lại
trong đại khối dân
tộc,
kể cả những người cộng sản thức tỉnh, có
được hòa giải hòa hợp, tạo nên sức mạnh tuyệt đối, thiểu số cầm quyền này buộc phải khuất phục. Sự diễn đạt
quan điểm trong
cả hai bài trên như thế có lẽ đã khá rõ ràng.
Mặt
khác
cần
phải
cảnh
giác
trước
những
lời
kêu
gọi
hi sinh cá nhân cho tập thể, hi sinh thiểu số cho đa số, hi sinh hiện tại cho
tương
lai. Mới nghe, tưởng chừng những lời kêu gọi này
và
sự thực hiện chúng
là
rất
cao cả nhưng thực chất chúng rất phi nhân và độc ác. Bao nhiêu
cuộc
cách
mạng
với
lý
tưởng
ngời
sáng
ban đầu đã tắm máu nhân dân để
lên
ngôi
thống
trị,
bao nhiêu
vị tướng đã “công thành” nhờ “vạn
cốt
khô”. Trừ những
trường
hợp
hết
sức
đặc biệt, cực đoan, thí
dụ để chống lại tội ác man rợ hay đày đọa phi nhân,
mà
sự
hi sinh trở thành tự nguyện đích thực, còn ngoài
ra, không có gì đáng quý hơn sinh
mạng
và
hạnh
phúc
của
cá
nhân,
của
bất
cứ tập thể nhỏ lớn nào,
trong giây phút này, ngày hôm nay.
Trong rất
nhiều
trường
hợp,
những
tuyên
truyền
nhồi
sọ,
những
lời
kêu
gọi
hoa mỹ thúc đẩy người khác hi sinh, rút
cục
chỉ
là
sự lừa bịp thâm
hiểm
của
những
kẻ đầu cơ tội ác. Lịch sử Việt Nam và thế giới trong quá khứ và hiện tại đã cho thấy rõ điều
đó.
Dĩ nhiên, hạnh phúc cá
nhân
cũng
như
tự
do, dân
chủ,
nhân
quyền,
phồn
vinh của một dân tộc không phải từ trên trời rơi xuống mà là thành quả của các cuộc đấu
tranh lâu dài. Ai nói rằng mọi chuyện sẽ đâu vào đó, cái
gì
phải
tới
sẽ tới, không
cần
phải
làm
gì
cả chỉ là
một
thái
độ ngụy tín và né tránh đấu tranh. Tuy nhiên đấu tranh
bằng
những
phương
tiện
hòa
bình,
từ chối bạo lực, để khỏi gây tổn thất cho con người là phương thức tối ưu mà con người có
thể
chọn
lựa,
trừ
những
trường
hợp
bất
khả
kháng.
Bố ơi bố đã
ra về
Con ở lại làm thơ và
chữa
bệnh
Chúng ta đến nơi này để phát huy một tấm lòng
son
Thành hay bại chỉ là chuyện vặt
(Nguyễn
Bắc
Sơn,
Chuyện
hai bố con tôi)
Đây là tâm
trạng
của
con người
lạc
quan trong ý nghĩa của kiếp nhân
sinh, vượt lên trên bình diện thời cuộc và cả lịch sử, không phải là chủ nghĩa thất bại. Còn dĩ nhiên đối với những người dấn thân trong cuộc đấu tranh
cho những điều tốt đẹp,
điều
quan trọng là phải thành công và khi thành
công
tất
sẽ thành
nhân.
“Không thành công thì thành nhân” hay “chớ
đem thành bại luận anh hùng”cũng
là
những
điều
đẹp đẽ nhưng đó cũng lại chính là bi kịch của lịch sử.
Trung quốc
xâm
lược:
cơ hội vàng
cho dân tộc và đảng
Cộng
sản
Việt Nam.
Với
Trung quốc,
ông cha ta đã không hề khiếp sợ và đã chống xâm lược, giữ được đất nước qua hàng ngàn
năm
chiến
đấu. Ai học lịch sử mà
không
biết
và
tự hào
với
những
chiến
công
hiển
hách
của
người
xưa.
Hai Bà
Trưng
đánh quân Nam Hán, vua tôi nhà
Lý
đánh Tống, quân dân nhà Trần ba lần đại phá quân Nguyên, Lê Lợi
– Nguyễn Trãi và nghĩa quân trường kỳ kháng chiến đánh đuổi
giặc
Minh, Quang Trung Nguyễn
Huệ
với
những
đội quân thần tốc đánh bại giặc Thanh…
Nước
ta là
một
nước
nhỏ
nhưng
đã đánh thắng những đoàn
quân
xâm
lược
hùng
mạnh
của
phương
bắc
nhờ
sự đoàn
kết,
lòng
dũng
cảm
của
toàn
dân,
cùng
với
trí
tuệ
và
khí
phách
anh hùng của những người lãnh đạo. Ta cảm phục biết bao khi ôn lại những hành động và lời của người xưa.
Nói một cách hài
hước,
đó là tại ông Lê Dũng, phát ngôn nhân của chính phủ. Ông tuyên bố liên
quan đến việc biểu tình: “Đây là việc làm tự phát chưa được
phép
của
các
cơ quan chức năng Việt Nam. Khi các vụ việc trên xảy ra, các lực lượng bảo vệ của Việt Nam đã kịp thời có mặt, giải thích và
yêu
cầu
bà
con chấm
dứt
việc
làm
này."
Một
tuyên
bố tệ hại, phản chính
trị
nhất, thể hiện chủ trương và khí phách của nhà cầm quyền hiện tại: Kìm hãm nhân dân trong sự phục tùng
nô
lệ và
run sợ
trước
thế
lực
của
bá
quyền
Trung Quốc.
Đó không phải là đường lối ngoại giao khôn ngoan, chính là sự khiếp nhược tự đưa
mình
vào
thế
yếu.
Đó là không dựa vào sức mạnh của nhân dân. Đó là nghi
ngờ
lòng
yêu
nước
và
lo sợ
trước
tinh thần phản kháng của nhân dân.
Biểu
tình
chống
xâm
lược
phải
xin phép. Tự cổ chí kim mới có
một
nhà
nước
tuyên
bố như thế.
Trong thời đại ngày nay, chống xâm
lược
không
nhất
thiết
phải
bằng
vũ
khí
chiến
tranh. “Đường vinh quang
xây
xác
quân
thù” chỉ là một con đường bất đắc dĩ, vì
xác
quân
ta hẳn
nhiều
hơn
xác
quân
thù
và
xác
quân
thù
cũng
là
xác
nhân
dân
một
quốc
gia khác bị đẩy
ra cầm súng.
Với
tinh thần nhân bản và khát vọng hòa bình của toàn nhân loại, không có dân tộc nào được quyền hưởng hạnh phúc trên xương máu và lầm than của các dân tộc khác. Tài nguyên thiên nhiên là tài sản chung của toàn nhân
loại.
Chủ
nghĩa
dân
tộc
hẹp
hòi,
tư tưởng bá
quyền
nước
lớn
là
những
gì
xấu
xa, rừng
rú,
không
phù
hợp
với
con người
văn
minh. Hận thù dân tộc chỉ là di sản của những thời kỳ man dã.
Ngày hôm nay chống xâm lược trước hết phải bằng trí
tuệ,
bằng
những
biện
pháp
tư tưởng, ngoại giao, kinh tế, chính trị trên
nền
tảng
ý chí và sự đồng thuận của toàn dân chứ không phải bằng những biện pháp cực đoan, bạo động, xuất phát
từ hận thù
dân
tộc.
Dĩ
nhiên
cuối
cùng
khi không thể làm khác phải cầm lấy vũ khí, nhưng trước đó phải làm cho các
dân
tộc
ý thức được tinh
thần
nhân
bản
và
hòa
bình
để ngăn chặn các chính quyền và những thế lực hắc ám giành quyền lực và
quyền
lợi
bằng
máu
của
nhân
dân
dưới
những
ngôn
từ hoa mỹ và bịp bợm.
Chim
Chim và tiếng hót.
Tiếng hót bay trên
trời
xanh
Trong gió ngàn
Lảnh lót
Tiếng hót trong bụi mận gai
Máu tứa buồng tim
Mở toang lồng ngực
Tiếng hót trong lồng
Ấm ức
Nghẹn thở
Ai vui tai tiếng hót trong lồng
Ta suốt đời
Muốn đập tan mọi chiếc lồng thô bỉ
Dù có thứ
Gọi là lồng son.
Đà Lạt 26/1/08
Giao lưu,
hội
nhập
văn
học
Việt Nam trong và ngoài nước
Gặp
gỡ,
trao đổi, chia sẻ, đối
thoại,
tranh luận nhất định sẽ làm người ta hiểu thêm, thông cảm nhau, đi đến đồng thuận, kết tình thân, chung sức cho tương lai. Lẽ nào những điều
này
là
vô
ích? Lẽ nào lại không“được”gì?
Hội
nhập
văn
học
Việt
Nam trong và ngoài nước nhất định là cần thiết. Văn học Việt Nam bao gồm toàn bộ tác phẩm văn học của người Việt Nam bằng tiếng Việt, bất kể ở
đâu, trong hay ngoài nước, bất kể thời đại nào, ngay cả những sáng tác viết bằng chữ Hán ngày xưa, do hoàn cảnh lịch sử đặc
biệt
của
dân
tộc,
đã được
đương nhiên thừa nhận. Trên
nguyên
tắc,
đồng thời cũng là
nguyện
vọng
chính
đáng của người đọc,
người
Việt
Nam có
quyền
đọc bất cứ tác phẩm nào
trong nền văn học Việt Nam.
Thế nhưng hiện nay người trong
nước
không
được đọc hầu hết tác phẩm văn
học
của
miền
Nam trước
1975 và
của
hải
ngoại.
Ngược
lại,
ở hải ngoại, mấy ai được đọc tác phẩm của tác
giả
trong nước. Đó là một sự thiếu sót, phi lý, què
quặt.
Làm
sao sách dịch của các tác giả nước ngoài tràn ngập mà sách của người Việt lại bị cấm? Nếu văn chương là tâm tình, là suy tưởng, là
cảnh
đời, là
hoài
niệm
mang chứa diện mạo và nội tâm của con người, nhưng cùng là người Việt đồng bào, không đọc nhau làm sao hiểu được
nhau, nói chi đến hòa giải hòa
hợp.
Chưa
kể
do đặc điểm
của
lịch
sử trong giai đoạn
đất nước phân ly, còn biết bao điều trong nội dung các tác
phẩm
này
cần
được nhìn nhận lại, trong bao dung và tỉnh thức. Chế độ này có
thể
ngăn
cấm
trong một thời kỳ nào đó nhưng chế độ
nào
cũng
sẽ thay đổi,
mất
đi và văn học, dân tộc sẽ mãi trường tồn.
Nghe nói đến “hòa
giải
hòa
hợp”, “giao lưu, hội nhập trong ngoài”, một số người chỉ coi
đó là chiêu bài của cộng sản. Đúng là đã có những chiêu bài lừa bịp nhưng không phải tất cả đều
là
chiêu
bài
và
tất
cả đều là độc quyền của người cộng sản. Qua kinh
nghiệm
lịch
sử,
cho đến
nay, người
dân
đã có thể phân biệt cái gì đúng, cái gì giả và cần làm gì để
cho cái đúng được
thực
hiện.
Chân lý cũng
rất
tương
đối. Chỉ có
thực
tiễn
kiểm
nghiệm
chân
lý
chứ
không
ai có
thể
tự mình
tuyên
bố chân
lý.
Mỗi
người
sống
theo nguyên tắc của mình nhưng không nên, không thể áp đặt, buộc người khác
phải
làm
theo, dù chỉ trên lý luận. Chỉ có những chế độ độc tài toàn trị làm như thế. Và rõ ràng điều đó chẳng hay ho gì.
“Đáy địa ngục được
lót
bằng
những
thiện
chí
tốt
đẹp”. Nhiều trường hợp đã là như thế, nhưng nếu không có thiện chí, bao dung, chia sẻ và yêu thương, cả thế giới này
chắc
chắn
đã trở thành địa ngục.
Chỉ tranh cãi trên
câu
chữ,
bắt
bẻ tiểu tiết, cuộc tranh luận sẽ bất tận và không có kết quả gì nên tôi nghĩ, tốt hơn để cho cuộc sống trả lời.
Hầu
như
mọi
người
cầm
bút
đều biết và hiểu giá trị của câu nói
nổi
tiếng:
“Mọi
lý
thuyết
đều là màu xám, chỉ có cây đời
mãi
mãi
xanh tươi”.
Từ “Bi kịch Hoàng Phủ Ngọc Tường” đến “Hội chứng chính nghĩa” và “Bi kịch của chúng ta”
Trong cuộc chiến Việt Nam, hai miền Nam
Bắc
đều nhân danh chính nghĩa và cho đến tận hôm nay, phần lớn những người trong cuộc đều
giữ
vững
niềm
tin đó, cho nên, những người cộng sản, hằng năm
vào
những
dịp
kỷ niệm, đều tổ chức ôn lại và đề
cao chiến thắng, trong khi
những
người
thuộc
phía
Việt
Nam Cộng
hòa
ở hải ngoại vẫn tổ chức ngày “quốc
hận” và tố cáo tội ác của cộng sản.
Dù đứng trên quan điểm
nào,
phần
đông mọi người đều
phải
thừa
nhận
“chiến
tranh là tội ác”. Trong nhiều loại tội ác của chiến tranh,
việc
giết
thường
dân
là
tội
ác tàn bạo mang tính phi nhân
cao độ nhất và đối với hai
phía,
thảm
sát
Tết
Mậu
Thân
và
thảm
sát
Mỹ
Lai là
hai vụ điển hình trong chiến tranh Việt Nam, với chỗ khác biệt là vụ Mỹ Lai do người Mỹ, đồng minh của miền Nam, trực tiếp gây ra. Tuy nhiên người cộng sản không hề nhắc đến
“thảm
sát
Tết
Mậu
Thân” và người Việt Nam Cộng hòa cũng
không
mấy
khi nhắc đến
“thảm
sát
Mỹ
Lai”.
Đó cũng là một biểu hiện của “hội chứng chính nghĩa”.
Lịch sử Việt Nam cận đại
là
một
cơn
mê
cuồng,
một
mớ bùng
nhùng
không
dễ gì
phân
định cho
rạch
ròi.
Chiến
tranh Việt Nam bắt nguồn từ đâu? Nếu tính
xa phải
kể đến từ chủ nghĩa Marx, chủ nghĩa
cộng
sản
ở Liên Xô, Trung Quốc, chủ nghĩa tư bản ở các nước phương Tây, cuộc chiến tranh lạnh của thế giới; từ việc đi tìm giải pháp cho dân
tộc
của
những
người
Việt
Nam yêu
nước,
kết
quả
của
cuộc
Thế
chiến
2, sự
suy tàn của đế quốc thực dân Pháp, sự trỗi dậy của chủ nghĩa thực dân
mới,
sự thỏa hiệp của các
cường
quốc
trên bàn cờ thế giới; từ việc đấu tranh
giành
chính
quyền
của
các
đảng phái ở Việt Nam, sự vận hành của hai chế độ
ở hai miền Nam
- Bắc… Bằng một lát cắt từ đâu trong thời gian
gần
thì
nguyên
nhân
trực
tiếp
của
chiến
tranh sẽ xuất phát ở đó.
Phần
lớn
người
Việt
Nam có
liên
hệ đến cuộc chiến còn sống hiện nay sinh ra và lớn lên trong dòng cuốn đó. Những người có lý tưởng phải chọn lựa cho mình một con đường trong
thế
trận
thiên
la địa võng đã thành hình. Và họ đã đứng về một phía chiến tuyến. Những người không có lý tưởng hay không muốn lựa chọn cũng phải chọn lựa hay bị lựa chọn. Không ai có thể đứng bên lề lịch sử. Và cuộc chiến cuốn mọi người vào dòng xoáy khốc liệt của nó, hun đúc nên chính nghĩa của phe mình và
của
từng
cá
nhân
từ một bên
chiến
trận.
Nó
giúp
cho người ta có thể sống, chiến đấu,
tồn
tại
trong hận thù và biện minh cho
những
việc
mình
làm,
phê
phán
phe đối
địch.
Con sông Bến Hải này có
phải
là
một
vết
chém
ngang lưng tổ quốc chia đôi
đất nước từ khi
có
Hiệp
định Genève, bất kể nội dung nó nói gì
hay do ai ký?
Trịnh Công
Sơn
là
một
nghệ
sĩ,
một
trí
thức.
Trong chiến
tranh Việt Nam ông có lập trường phản chiến và dưới hai
chế
độ ông có một số sáng tác
“theo thời”
để có thể tồn tại. Điều đó không hay lắm nhưng chưa đến mức tệ hại, bán rẻ nhân
cách
để có thể quy là văn nô,
bồi
bút.
Nếu
nói
là
văn
nô,
bồi
bút,
thì
dưới
hai chế độ trước đây và cả hiện nay, vô số người còn “xuất sắc” hơn Trịnh Công Sơn.
Trong dòng
xoáy
kinh hoàng của cuộc chiến và sự vận hành tàn bạo của các chế độ chính trị, giữ được thái độ như Trịnh Công Sơn, dĩ nhiên chưa hoàn hảo, cũng đã là một điều
đáng quý. Có thể vì thế mà hiện nay, đông đảo
người
hâm
mộ nhạc Trịnh, cả trong
và
ngoài
nước,
không
quan tâm đến khía cạnh đó mà chỉ quý trọng và ngưỡng mộ tài năng của ông qua những bản nhạc về tình
yêu
và
phận
người
có
ma lực
phi thường
và
sức
sống
vượt
không
gian, thời gian.
Trong một bài hát,
Trịnh
Công
Sơn
viết:
“Chúa đã bỏ loài người, Phật đã bỏ loài người”. Tôi nghĩ khác. Không phải Chúa, Phật đã bỏ loài người mà chính loài người bỏ Chúa, Phật. Năm nào trong dịp lễ Phục sinh người ta cũng
ôn lại câu chuyện Chúa Jésus
bị hành
hình
tàn
khốc
trên
cây
thánh
giá
nhưng
đã cầu nguyện xin tha
thứ
cho những kẻ giết hại mình vì những người đó không biết mình làm gì. Phật đã dạy hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi
và
“quay đầu là bờ”.
Con người
mấy
ai học
được bài học tha thứ và tỉnh thức dù họ tự nhận theo
Chúa,
theo Phật và không ngừng đọc
kinh, cầu nguyện.
Bài học tâm linh không
hề
xa vời
mà
chính
là
một
thái
độ sống hàng ngày góp phần giải quyết những nan đề
của
cuộc
sống.
Trong lĩnh
vực
chính
trị,
bài
học
này
cũng
không
phù
phiếm
nhưng
dĩ
nhiên
không
phải
vì
thế
mà
thủ
tiêu
cuộc
đấu tranh
với
những
chính
quyền
độc tài toàn
trị
gây
tội
ác và coi nhân
dân
như
nô
lệ.
Tuy nhiên
nếu
lẫn
lộn,
đánh đồng mọi thứ thì chỉ rơi vào bi kịch của cuộc hỗn mang lịch sử.
Từ Lạc đường, Phản tỉnh đến
những
Lã
Bất
Vy…
Trong cuộc chiến tranh
trước
đây, mọi người ở hai miền Nam-Bắc đều đã lựa chọn hay bị lựa chọn, không ai thoát khỏi dòng
cuốn
của
lịch
sử.
Sau 1975 dù
mọi
chuyện
đã ngã ngũ, khi nhìn
lại,
nhiều
người
vẫn
còn
nhìn
nhận
khác
nhau vì Miền Bắc đã thắng trận, thống nhất đất nước nhưng lại xây dựng một chế độ và xã hội quá tệ hại. Những người thuộc Việt Nam Cộng Hòa cho rằng dù
thất
bại,
mình
vẫn
có
chính
nghĩa
vì
đã chiến đấu
bảo
vệ Miền Nam,
một
chế
độ xã hội có tự do dân chủ hơn hiện nay. Những người thuộc thành phần thứ ba, theo
Mặt
Trận
Giải
Phóng
và
ngay cả một số người ở Miền Bắc cũng cho rằng mình
bị lừa bịp, phản bội. Nếu sau 1975, Việt Nam trở thành một quốc gia phát triển, có
dân
chủ
tự
do, nhận
thức
của
mọi
người
sẽ không
chia rẽ
đến thế. Nhưng lịch sử không có
chữ
“Nếu”.
Về phương diện cá nhân, mọi người có
nhiều
chọn
lựa.
Hoặc
làm
một
kẻ lãng
du trong cuộc đời
này,
không
cần
đến ý niệm quốc gia.
Hoặc
làm
những
việc
từ thiện, tuy nhỏ nhoi, nhưng có thể cứu vớt được một đôi người. Hoặc chạy theo cuộc sống và hạnh phúc cá
nhân,
không
đếm xỉa đến số phận dân tộc. Hoặc tham dự vào cuộc đấu
tranh cho tự do dân
chủ… Nhưng đối với đất nước vấn đề không đơn giản, trong
đó có hai việc trọng yếu phải giải quyết là
nâng
cao dân trí và xây dựng chính quyền. Dân trí có nâng cao mới có
thể
nhận
thức
được tình hình, quyền hạn và trách nhiệm trong làm chủ đất nước, xây dựng được một chính quyền có
đủ trí tuệ, tài năng, bản lĩnh và đạo đức để đương đầu với những thách thức của thời đại và mang
lại
hạnh
phúc
cho nhân dân. Đó không gì
khác
hơn
là
cuộc
đấu tranh, vận động dân chủ hóa
đất nước. Trong hoàn cảnh hiện nay, đây là cả một cuộc phấn đấu đầy gian
nan.
Trong giai đoạn này,
và
có
lẽ bất cứ lúc
nào,
mọi
người
cũng
đều phải lựa chọn hay bị chọn lựa, tuy
mức
độ gay gắt khác nhau. Và
sự lựa chọn “dấn
thân” lúc này
cũng
không
dễ dàng
chút
nào.
Nhiều
người
cho rằng chế độ cộng sản ở Việt Nam, hiện nay biến tướng thành độc tài toàn trị, đã cai trị nhân dân
bằng
nỗi
sợ hãi
nhưng
người
ta cũng
ngạc
nhiên
tại
sao nỗi sợ hãi này có thể kéo dài đến thế. Nhân dân Việt Nam vốn tự hào rất anh hùng trong chống ngoại xâm, điều lịch sử đã khẳng định chứ không phải tự tôn
vô
lối,
nhưng
lại
hầu
như
tê
liệt
trước
nạn
nội
xâm,
trước
sự áp bức đè đầu
cởi
cổ của một thiểu số tập đoàn
thống
trị.
Trước
tình
hình
đó, thất vọng hay nguyền rủa không ích gì mà cần phải tìm ra căn
nguyên
của
vấn
đề để có được lời giải cho
một
vấn
nạn
lớn
của
dân
tộc.
Từ khi cả nước quy về một mối, hai miền cùng dưới một chế độ, người dân Miền Nam không có “bề dày sợ hãi” lâu dài như dân Miền Bắc, nhưng lại có “cường độ sợ hãi” nặng nề hơn, vì thuộc phe chiến bại, dính líu
đến “ngụy
quân
ngụy
quyền”. Do đó, tuy thời gian trước, sống trong
chế
độ tương đối
có
tự
do dân
chủ,
người
dân
có
tinh thần phản kháng và đã được tập dượt, rèn luyện qua những cuộc đấu
tranh chống chính quyền, đến
giai đoạn này cũng
trở
nên
liệt
kháng,
không
khác
gì
người
dân
Miền
Bắc.
Thống nhất đất nước đã đi kèm theo với thống nhất nỗi sợ dưới chế độ độc tài toàn
trị.
Qua phân tích trên đây,
ta có thể thấy tại sao sự liệt kháng vì
sợ hãi
lại
có
thể
kéo
dài
đến thế. Sự sợ hãi càng
lớn,
càng
lâu
thì
chế
độ độc
tài
càng
được củng cố vì không có
ai dám chống lại. Tuy nhiên, niềm hi vọng của dân tộc vẫn còn vì tinh thần phản kháng
trong nhân dân chưa bị triệt tiêu hoàn toàn mà đã từng bước hồi sinh,
tuy có chậm chạp. Các tầng lớp nhân dân, từ trí thức, văn nghệ sĩ, chức sắc các tôn giáo, các “dân oan” bị cướp nhà cướp đất, sinh viên và bộ phận trí thức trẻ, cho đến các cán
bộ,
đảng viên có
tư tưởng cấp tiến trong guồng máy đã dần dần bộc lộ sự phản kháng đối với chế độ
độc tài toàn
trị,
ngày
càng
mạnh
mẽ hơn.
Sức
mạnh
tinh thần của một dân tộc đã bị chế độ độc tài toàn trị làm cho suy yếu trong một thời gian
dài
nên
sự hồi phục cũng
cần
có
thời
gian và những biện pháp thích hợp. Chỉ đến lúc dân
tộc
thoát
ra khỏi sợ hãi, biết và dám phản kháng trước cái xấu, cái ác, trước bất công
áp bức, lúc đó dân tộc mới có
thể
xóa
bỏ chế độ độc tài toàn
trị,
sống
như
những
con người
tự
do và
xây
dựng
được một đất nước văn minh trong cộng đồng nhân loại.
Tổ chức và cuộc đấu tranh, vận động dân chủ hóa đất
nước.
Trong mọi cuộc tranh
đấu nói chung, tổ chức là vấn đề quan trọng hàng
đầu. Ai cũng
biết
điều
đó. Qua lịch sử đấu
tranh gian khổ của mình
từ những ngày
đầu, những người cộng sản hiểu rõ
và
có
kinh nghiệm về vấn đề này hơn bất cứ lực lượng nào.
Khẩu
hiệu
của
họ nói
rất
rõ
điều
đó: “Tổ
chức,
tổ chức và
tổ chức”. Họ lại càng có
kinh nghiệm trong việc đánh phá các tổ chức chống lại họ và làm theo kiểu “phá vỡ từ trong
trứng
nước”, nhất là khi
họ đã nắm được
chính
quyền.
Do đó vấn đề tổ chức trong
cuộc
đấu tranh,
vận
động dân chủ hóa
đất nước ở Việt Nam hiện nay là việc cực kỳ khó khăn.
Không thể khắc phục được những khó khăn khách
quan nhưng vẫn có thể vượt qua khó khăn chủ quan. Không thể thống nhất mọi tổ chức trong và ngoài nước nhưng có thể hình thành một liên minh, dù
là
lỏng
lẻo.
Từng
tổ chức cứ phát
huy thế mạnh của mình, hỗ trợ cho nhau,
tránh
việc
đả kích nhau và từng bước trao đổi, thảo luận để đi đến thống nhất mục tiêu và
phương
pháp
là
một
tiến
trình
cần
thiết
và
cần
suy nghĩ. Nếu không vì mục đích chung, chỉ muốn giữ vị trí, bản sắc, quan điểm riêng của mình
làm
sao có thể có được sức mạnh cần thiết khi
đối đầu với một chế độ độc tài toàn
trị
phải
thừa
nhận
là
rất
hùng
mạnh
và
cực
kỳ
tàn
bạo.
“Biết người biết ta, trăm trận trăm
thắng” là một châm ngôn
không
bao giờ
cũ.
Nhiều
người
mơ đến cách mạng xanh, cách mạng nhung hay một sự bùng
nổ nào
đấy nhưng bùng nổ thực ra chỉ là đỉnh điểm của một quá trình vận động lâu dài, tiệm tiến, hội đủ nhiều điều
kiện,
như
giọt
nước
làm
tràn
ly, chứ không phải tự dưng mà có. Và giả thử khi có bùng nổ, tổ chức nào
có
đủ năng lực để nắm được tình thế khi không có lực lượng trong tay?
Khi bước
đầu thực hiện dân chủ đa nguyên, tổ chức nào có đủ
sức
đương đầu với đảng cộng sản trong
một
cuộc
bầu
cử dân
chủ
tự
do?
Trở lại với cụm từ “hòa giải hòa hợp”. Rõ ràng
đây là một từ có nội dung đẹp, tốt lành,
có
thể
sử dụng trong nhiều trường hợp, nhiều lãnh vực. Thế nhưng bây giờ nó trở thành một từ bị nhiều người hoài nghi, thậm chí
căm
ghét.
Nguyên nhân là người ta cho rằng đảng cộng sản đã độc chiếm từ này với một nội hàm
xấu
xa che đậy nhiều âm mưu thủ đoạn và nó chẳng khác gì
là
một
cái
bẫy
giương
ra cho những người chống cộng.
Định nghĩa thế nào là hòa giải hòa hợp có lẽ quá rõ ràng và ít
ai tranh cãi. Vấn đề là ai có
nhu cầu hòa giải hòa hợp?
Nói tổng quát là
hòa
giải
hòa
hợp
dân
tộc,
nghĩa
là
giữa
mọi
thành
phần
dân
tộc,
trong đó có những người cộng sản và người Việt ở nước ngoài. Nhưng vì
những
người
cộng
sản
đã trở thành giai cấp thống trị nên
trước
tiên
là
hòa
giải
hòa
hợp
giữa
các
thành
phần
dân
tộc
không
có
người
cộng
sản,
nghĩa
là
những
người
bị trị. Đây là tuyệt đại đa số nhân dân nhưng lâu nay đã bị chia rẽ nên mất đi sức mạnh. Trước đây trong
lịch
sử,
khi có ngoại xâm, chỉ có toàn dân đoàn kết một lòng mới có
thể
chống
lại
địch, bây
giờ
là
nội
xâm,
một
cách
nói,
nếu
nhân
dân
không
đoàn
kết,
cũng
không
thể
nào
chống
lại
được chế độ
độc tài toàn
trị.
Không thể hòa giải với kẻ ác hay với giai cấp thống trị mà chỉ có thể hòa giải với kẻ ác đã hoàn lương hay
kẻ thống trị đã từ bỏ lòng tham quyền lực. Nhưng muốn thế phải có cách cảm hóa kẻ ác và chuyển hóa kẻ thống trị. Cách duy
nhất
là
có
sức
mạnh
và
có
chính
nghĩa.
Hiện
nay nhân
dân
Việt
Nam có
chính
nghĩa
nhưng
chưa
đủ sức mạnh vì bị chia rẽ, vì bị nỗi sợ khống chế. Có thể vượt qua tình trạng này nếu nâng cao dân
trí,
nâng
cao nhận thức về dân chủ và có được sự hòa giải hòa hợp giữa các thành phần dân tộc trong mục đích chung đấu tranh cho
tự
do dân
chủ.
Những người cộng sản quá khôn ngoan khi đưa
ra chiêu bài hòa giải hòa hợp. Nó có hiệu quả lôi cuốn những người có thiện chí hay nhẹ dạ, đồng thời cũng làm
phân
hóa
những
người
chống
đối. Với sự chống đối của nhiều người Việt ở hải ngoại, những người cộng sản mặc nhiên độc quyền về hòa giải hòa
hợp. Thực ra
không phải tán thành
hòa
giải
hòa
hợp
mà
chính
là
dị ứng, chống hòa
giải
hòa
hợp
mới
rơi
vào
bẫy
của
những
người
cộng
sản,
tự làm
cho mình yếu đi. Một phương thức lợi hại lại đem trao
cho đối
phương
độc quyền sử dụng có phải là điều
phi lý?
Tại
sao không tương kế tựu kế, dùng hòa giải hòa hợp như một biện pháp để
củng
cố sức mạnh dân
tộc
và
như
một
phương
thức
diễn
biến
hòa
bình
trên
mọi
lãnh
vực.
Chính
diễn
biến
hòa
bình
là
một
trong những điều người cộng sản lo sợ nhất chứ không phải là những lời phê phán, tố cáo dù rầm rộ tới đâu.
Đại
bộ phận nhân
dân
có
thể
chống
lại
sự thống trị của một thiểu số người không?
Câu
hỏi
lịch
sử đó có lời đáp thế nào tùy
thuộc
vào
sự tỉnh táo
và
nhận
thức
của
nhân
dân
chứ
không
ai khác.
Đó cũng chính là số phận của đất
nước.
Bài học lớn nhất khi nhìn lại cuộc chiến tranh Việt Nam không phải là chiến lược, chiến thuật mà phải chăng là dù ai thắng, ai thua thì
nhân
dân
đều là kẻ chiến bại. Nếu chiến tranh
là
lỗi
lầm
của
lịch
sử thì
trách
nhiệm
của
trí
thức
hôm
nay là
gì?
Trí
thức
để làm gì nếu không góp phần mang lại hạnh phúc cho nhân dân và phồn vinh cho
đất nước? Bài học về quá
khứ
để làm gì nếu không giúp xây dựng tốt hơn hiện tại và tương lai?
Vấn
đề quả thực không đơn giản. Phân tích về quá khứ là việc phải làm, và như Phùng Nguyễn nói rất đúng, không
được đồng lõa với cái
ác, phải công bằng đối
với
mọi
phía
nhưng
quả
thật
khó
khăn
khi phân tích quá khứ mà không gây ra xung đột
mới
cho hôm nay. Cách làm
tốt
nhất
phải
chăng
là
phân
tích,
khêu
gợi
phản
tỉnh;
có
thể
phê
phán,
nhưng
không
kết
án, trừ những trường hợp hiển nhiên là tội ác; đứng trên lập trường dân
tộc
và
nhân
bản
chứ
không
trên
một
phía
của
chiến
tranh? Ở đây ranh
giới
rất
mong manh và người ta thường dễ vượt qua dù đã có chủ ý chỉ để
truy tìm chân lý. Ở đây có lẽ phản tỉnh tốt hơn truy
bức,
cảm
thông
và
bao dung tốt
hơn
lên
án. Ai có đủ
tư cách
đứng trên cao để làm quan tòa trong giai đoạn hỗn mang máu, nước mắt và
hận
thù
kinh hoàng nhất của lịch sử, nhất là đối với người trong cuộc?
. Cuộc
xung đột
giữa
Công giáo và nhà nước cộng sản trong bối cảnh phong
trào
dân
chủ
Việt Nam.
Cuộc
xung đột giữa Công giáo và nhà nước trong vụ Thái Hà và Tòa Khâm Sứ cho thấy một bước ngoặt
trong cuộc đối đầu giữa Công giáo
và
cộng
sản. Lần đầu
tiên,
Công
giáo
đã công khai đối kháng chính
quyền
tại
một
nơi
nhạy
cảm
là
thủ
đô Hà
Nội.
Cuộc
đối kháng có
quy mô khá lớn với sự tham dự của hàng chục ngàn
giáo
dân
tại
chỗ
và
sự hiệp thông
ở nhiều địa phương khác. Tính
chất
là
công
khai, gần như thách thức, mặt đối
mặt,
với
các
lực
lượng
đàn áp ở cơ sở và với cả các quan chức cao nhất của Hà Nội và chính phủ. Diễn biến của sự việc được thông tin hàng
ngày
không
những
trên
mạng,
báo
chí
nước
ngoài
mà
còn
cả trên
các
phương
tiện
truyền
thông
của
nhà nước, một việc chưa hề có trước đây, dĩ
nhiên
với
những
quan điểm trái ngược nhau. Sự việc đã vượt khỏi địa
phương,
mang tầm vóc quốc gia và quốc tế khi
người
Việt
ở hải ngoại và các nhân
vật
chính
trị,
các
tổ chức phi chính
phủ
của
nhiều
nước
tham gia lên
tiếng.
Từ khi cộng sản cai trị ở
miền
Bắc
vào
năm
1954 và
cả nước từ 1975,
Công
giáo
cũng
như
các
tôn
giáo
khác
bị trấn áp, chèn ép,
tước
đoạt
và
hầu
như
chỉ
chịu
trận,
không
có
khả
năng
phản
kháng.
Bây
giờ
tình
hình
đã khác. Sự phản kháng của Công giáo bùng phát không phải đột
biến
mà
là
giọt
nước
làm
tràn
ly của những tích tụ lâu ngày nhưng không bộc phát vô tổ chức mà được điều hướng rất khôn ngoan.
Cuộc xung đột giữa nhà nước và Công giáo
sẽ còn
tiếp
diễn. Mức độ như thế nào còn
tùy
ở thái độ của mỗi bên. Tuy nhiên điều
tốt
nhất
là
hai bên đều phải tự kềm chế vì nếu hai bên đụng đầu thì cả hai
đều bị thương tổn và cũng không
có
lợi
gì
cho đất
nước.
Vấn
đề là không đẩy đối
phương
vào
chỗ
không
có
lối
thoát,
không
có
cách
giải
quyết
và
mọi
việc
nên
giải
quyết
qua trao đổi, đối
thoại
chân
thành
và
thẳng
thắn.
Đối
với
Công
giáo,
nhà
đất chỉ là một vấn đề, tuy khó nhưng vẫn có thể giải quyết được vì thực ra
Công
giáo
thấy
không
thể
hay không
tiện
đòi lại tất cả nhà đất đã bị tước đoạt. Như
HĐGM
đã trình bày, Công giáo không đòi
đất mà đòi công lý, chính là tự do dân chủ và nhân quyền, không chỉ cho tôn giáo
mình
mà
cho cả dân tộc. Mục tiêu đó rất dễ được sự đồng tình của nhiều tầng lớp nhân dân mà trước đây, do đặc thù của lịch sử Công giáo, phần nào
Công
giáo
đã có sự cách biệt hay nghi kỵ đối với các thành
phần
khác của dân tộc. Phương thức đấu
tranh bất bạo động cũng là phương thức mà hầu như tất cả những người đấu
tranh chân chính và khôn ngoan cho dân chủ đều
đồng thuận. Riêng Công giáo lại có
thế
mạnh
ở số lượng tín đồ khá đông đảo
và
thuần
nhất,
dễ huy động so với các lực lượng dân chủ khác. Mục tiêu và phương thức đấu tranh của Công giáo
đã hòa nhập với mục tiêu
và
phương
pháp
của
phong trào dân chủ toàn dân tộc, làm tăng thêm sức mạnh cho lực lượng dân chủ trong cuộc đấu tranh với chế độ độc tài toàn
trị.
Căn nguyên sự đối kháng giữa nhân dân và nhà nước độc tài toàn
trị
vẫn
còn
đó và luôn luôn
âm ỷ. Nhà
nước
chỉ
có
thể
tồn
tại
khi chuyển mạnh sang dân chủ hóa đất nước, thuận chiều với nguyện vọng bức thiết của toàn
thể
nhân
dân.
Nếu
không
làm
được như thế, không sớm thì muộn, chế độ độc tài
toàn
trị
nhất
định sẽ sụp đổ.
Vấn đề Hoàng Sa - Trường Sa và
cuộc
vận
động dân chủ hóa VN.
Khi nhắc đến vấn đề Hoàng
Sa –
Trường
Sa, mọi
người
thường
nghĩ
ngay đến vấn đề chủ quyền lãnh thổ, độc lập dân tộc. Đúng như thế vì chúng ta vẫn coi
Hoàng
Sa –
Trường
Sa là
lãnh
thổ
của
mình,
đang bị ngoại bang xâm chiếm. Tuy nhiên, để
giải
quyết
vấn
đề này, cơ bản lại là vấn đề dân chủ. Điều
này
không
hề
phi lý
hay mâu
thuẫn.
Hoàng Sa bị Trung Quốc xâm lăng
từ
1974. Trường
Sa hiện
nay, ngoài
Việt
Nam, có
đến 5 quốc gia khác đang chiếm đóng, mỗi nước một vài
đảo là Trung Quốc, Đài
Loan, Philippine, Malaisia, Brunei. Quốc gia nào cũng
tuyên
bố đây là lãnh thổ của mình. Trong tình hình
đó nếu Việt Nam muốn lấy lại hai quần đảo này, rõ
ràng
không
phải
là
vấn
đề vài ba năm,
mà
là
chuyện
lâu
dài,
thậm
chí
không
bao giờ
thu hồi được
mà
chỉ
có
thể
giải
quyết
bằng
một
thỏa
thuận
qua thương
lượng
nào
đó.
Chúng ta không nên
ảo tưởng. Có thể nào chúng ta buộc Trung Quốc trao trả lại Hoàng Sa? Làm thế nào
để các quốc gia khác rút
ra khỏi Trường Sa? Bằng quân sự? Bằng ngoại giao? Bằng cách đưa ra
tòa
án quốc tế? Dĩ nhiên khi coi đây là lãnh thổ của mình,
ta phải
tìm
cách
lấy
lại
nhưng
phải
nhìn
nhận
vấn
đề một cách thực tiễn chứ hô khẩu hiệu suông không ích gì.
Định mệnh đã đặt
Việt
Nam bên
cạnh
một
Trung Quốc
to lớn
luôn
luôn
có
tham vọng làm “bá chủ thiên hạ”
và
các
nước
láng
giềng
đã khốn khổ vì tham vọng này.
Việt
Nam đã chiến đấu
với
kẻ khổng lồ qua hàng
ngàn
năm
lịch
sử để tồn tại và giữ vững nền độc
lập.
Đây là kỳ tích lớn nhất trong mọi kỳ tích của dân
tộc.
Người
Việt
Nam nào
cũng
có
quyền
tự hào
về điều
này.
Nhưng
bây
giờ
lại
một
lần
nữa
Việt
Nam đứng trước âm mưu và hành động xâm lăng của Trung Quốc, trong hoàn cảnh của một thế giới mới văn
minh liên thông và rộng lớn hơn bối cảnh ngày trước. Chúng ta cần ôn lại bài học lịch sử và vận dụng trong hoàn cảnh mới để có thể bảo toàn đất nước.
Mọi
người
Việt
Nam có
học
đều biết những trang
sử oai hùng và bi thương trong cuộc đối đầu của Việt Nam với Trung Quốc. Dưới thời bắc thuộc, Hai Bà Trưng chống quân Hán, Bà Triệu đánh Đông
Ngô,
những
nữ lưu anh hùng đầu tiên đã cởi voi,
phất
cờ tập hợp lực lượng các
bộ tộc Việt làm cho bọn đô hộ kinh hoàng, dù
cuộc
chiến
đấu chỉ ngắn ngủi vài ba năm. Rồi Ngô Quyền
đánh tan quân Nam Hán, mở đầu
thời
kỳ
độc lập. Nhiều triều đại tiếp theo
vẫn
giữ
vững
bờ cõi
dù
liên
tục
bị xâm
lăng.
Lý
Thường
Kiệt
phá
Tống
bình
Chiêm. Quân dân nhà Trần với danh tướng Trần Hưng Đạo ba
lần
đánh bại giặc Nguyên Mông. Lê Lợi
- Nguyễn Trãi cùng với nghĩa quân Lam Sơn đuổi giặc Minh. Quang Trung Nguyễn Huệ
đại phá quân Thanh.
Cách nói ngắn gọn về những chiến công của dân
tộc
Việt
bao gồm
hai yếu tố: người lãnh đạo sáng suốt và nhân dân kiên cường. Các vị vua, các danh tướng đã làm nên kỳ tích là những con người yêu nước, thông minh, tài
ba, biết dựa vào dân, được dân ủng hộ, có sách lược đúng đắn khi
tiến
hành
cuộc
chiến
tranh bảo vệ tổ quốc. Nhân dân không ngại chịu đựng gian khổ, không tiếc máu
xương,
đoàn
kết
chung quanh người lãnh
đạo của mình, tạo nên
sức
mạnh
phi thường
có
thể
đánh bại kẻ thù giảo quyệt, đông đảo hơn mình rất nhiều lần. Thiếu một trong hai yếu tố đó, dân
tộc
Việt
Nam nhất
định thất bại trước kẻ thù, điều
đã diễn ra trong
một
số giai đoạn lịch sử.
Nhân dân không
đoàn kết, bị chia rẽ, không là chỗ dựa của chính quyền; chính quyền không được lòng dân, đàn
áp nhân dân, dựa vào ngoại bang thì không những không bảo vệ được
tổ quốc mà
còn
đứng trước nguy
cơ mất nước. Đó là lời cảnh báo không cường điệu chút nào mà chính là thực tiễn Việt Nam đang đối đầu.
Mùa xuân là
mùa đẹp của đất
trời,
khí
hậu
mát
lành,
cây
cối
đâm chồi nẩy lộc, chim hót hoa cười.
Con người còn cố gắng làm
cho mùa xuân đẹp hơn. Điều chỉnh sinh học để thêm hoa nở. Mở hội hoa xuân tập hợp ngàn hoa khoe sắc. Những phố hoa, đường hoa
bỗng
rực
lên
một
sớm
vào
xuân.
Rồi
bao nhiêu
chương
trình,
hoạt
động tập trung
cho ngày xuân: Kích cầu, khuyến mãi, quảng cáo rầm rộ trên mọi phương tiện truyền thông, người người tấp nập mua sắm, vui
chơi
hội
hè.
Mùa xuân thiên
nhiên vẫn tuần hoàn tự đến.
Mùa
xuân
con người
cố làm
đẹp thêm. Nhưng mùa
xuân
đích thực của dân tộc Việt Nam ở đâu trong
tháng
năm
này?
Mùa xuân là
mùa của hi vọng, vậy thì Việt Nam hi vọng gì trong mùa
xuân
với
toàn
cảnh
màu
xám
u ám này? Dân tộc Việt nam đã trải qua bao thăng
trầm
lịch
sử và
vẫn
tồn
tại
cho đến
ngày
nay. Dù
khó
khăn
chồng
chất
nhưng
dân
tộc
vẫn
không
thôi
hi vọng.
Người
nông
dân
vẫn
kiên
gan cúi xuống trên ruộng đồng dù thiên tai chồng chất, nhân họa chập chùng.
Người
công
nhân
vẫn
miệt
mài
trong công xưởng sản xuất. Trí thức vẫn nung nấu suy
tư và
tinh thần sáng tạo cho một ngày mai huy hoàng của đất nước. Tuổi trẻ dù bị vây bủa bởi nền giáo dục nhồi sọ, cơm áo lợi danh
nhưng
nhiệt
huyết
và
lý
tưởng
không
dễ gì
bị dập tắt. Người Việt ở nước ngoài vẫn không thôi đau đáu hoài vọng về quê
hương.
Những
người
đấu tranh
cho dân chủ vẫn trăm phương ngàn kế tìm một lối thoát cho
đất
nước
hướng
về tự do.
Tinh thần
phản
kháng
của
các
tầng
lớp
nhân
dân
ngày
một
tăng
lên
khi sự áp bức càng lớn, ý thức dân chủ và
dân
trí
ngày
càng
cao. Bộ máy thống trị ngày càng lúng túng và bộc lộ các nhược điểm không sao khắc phục dù
bề ngoài
vẫn
hung hăng
đàn áp. Xu thế chung của thời đại
và
áp lực của quốc tế trong thời đại kinh
tế thị trường và
phụ
thuộc
lẫn
nhau thúc đẩy những người cầm quyền bảo thủ độc
đoán
phải
chuyển
đổi.
Hi vọng không phải chỉ là
mơ ước suông mà là khát vọng làm nên đổi thay bằng hành động. Mùa
xuân
đích thực của Việt Nam, của toàn thể dân tộc Việt Nam còn xa, rất xa nhưng không phải là
không
bao giờ
đến.
Từ triết lý đến cảm xúc, giải pháp cá nhân và con đường đi lên của dân
tộc.
Tâm trạng và
lựa
chọn
của
anh có thể cũng
là của một số người Việt ở nước
ngoài. Họ muốn trở về quê hương, muốn đóng
góp cho đất nước. Họ đều thấy chế độ trong
nước
là độc tài và
nhiều
sai lầm nhưng khi không thể lật đổ nó thì tốt hơn vẫn có
thể
hợp
tác và tìm
cách chuyển hóa nó,
hoặc
ít ra cứ làm
bất
cứ việc gì có ích
cho quê hương, dân tộc và cả bản thân, gia
đình mà không
góp phần củng cố chế độ độc tài. Đó
là những người đã về nước đầu tư về kinh
tế,
hoạt
động
trên các lãnh vực văn hóa
giáo dục hay từ thiện. Họ chấp nhận một số khó khăn
hay ràng buộc do nhà nước gây
ra, kể cả những điều tiếng thị phi từ đồng bào mình
ở hải
ngoại,
để thực hiện được mục đích mà họ cho
là chính đáng. (Thí dụ ngay
như
việc
về nước làm từ thiện cũng có
người
phê phán, cho rằng đó là
trách nhiệm của nhà nước phải lo cho
dân, việc gì phải lo thay
cho nhà nước trong
khi các quan
chức
đang ra sức vơ vét, tham nhũng.) Ở đây tôi không nói đến những người hoàn
toàn có động cơ cá nhân vị kỷ. Quả thật tâm trạng và ước
vọng
đó hoàn toàn
chính đáng. Nhưng vấn đề và cũng chính
là nan đề, là giải pháp
nào để cho việc làm
không có tác dụng ngược khi quyền lực hoàn
toàn nằm trong tay
nhà nước. Không lẽ không
làm gì nhưng làm thì
làm
thế
nào cho có
hiệu
quả?
Câu hỏi đó đã
làm rối lòng không
ít người và trong
đó tôi nghĩ
có anh.
Anh Liêm thân
mến,
Tôi đã theo dõi
bài viết và tâm
trạng
của
anh từ triết lý đến cảm xúc
trong một cuộc “lội ngược dòng” và suy nghĩ về những lựa chọn cá nhân
trên con đường đi lên
của
dân tộc. Những băn khoăn
này không của riêng ai. Ai sẽ chỉ ra được con đường tốt nhất chứ không
phải
chỉ
là những lời nguyền rủa hay những ước mơ không thành
hiện
thực?
Xu thế
tiếp
cận,
hợp
tác với nhà cầm quyền trong
nước,
một
xu thế
có thực đối với một bộ phận người Việt ở nước
ngoài hiện nay
, mà anh có thể là một trường hợp tiêu
biểu,
là sự “lội ngược dòng” đối với xu thế chống cộng chung
ở hải
ngoại
sẽ có kết quả gì không?
Điều
đó tùy thuộc rất nhiều vào
bản
lĩnh, cái tâm trong sáng
của
người
trong cuộc. Hợp tác phải có
chủ
đích rõ rệt, có
đấu
tranh, có điều kiện, trong một cuộc giằng co chắc chắn gay go với nhà nước toàn
trị.
Nếu
bị mua chuộc hay vị kỷ, hèn nhát,
e rằng
đó sẽ chỉ là một thí
nghiệm
với
kết
cục
bi thảm
được
thấy
trước.
Đà Lạt
30.11.2009 (talawas
7/12/09)
. Bể (biển, đại
dương)
trí
tuệ
chứ
không
phải
“bồn trí tuệ” !
Dù đứng
trên quan điểm nào, phần lớn mọi người đều đồng ý về sự cần thiết và vai
trò quan trọng của các nhóm trí
thức
tập
hợp
trong các think tank mà các nước Âu
Mỹ đã thực hiện để làm vai
trò tư vấn, phản biện cho nhà
nước
hay các công ty khi đề ra đường lối, chính
sách, chiến lược phát triển.
Tuy nhiên
hình thái tổ chức
think tank này thực tế chỉ thích
hợp
với
các nước phát triển và
có tự do dân chủ. Còn
đối
với
Việt Nam hay các
quốc
gia có chế độ độc tài,
đặc
biệt
khi nghiên cứu những vấn đề chính trị xã hội, hình
thái tổ chức này xem
ra không phù hợp. Các “bồn trí
tuệ”,
“kho tư duy” hay “cỗ xe tăng tư tưởng” gì đó, các
nhà nước có thể không
thèm dùng tới, hạn chế hay đập bỏ bất cứ lúc
nào theo kiểu nhà nước Việt Nam đối với IDS.
Chung quanh vấn đề này, người ta cũng bàn nhiều đến vai trò
của
trí thức. Từ lâu, nhiều người đã
cho rằng trong quá
khứ
Việt Nam không có một tầng lớp trí thức đúng
nghĩa. Tầng lớp đó không
có những phẩm chất đích thực của trí
thức
là độc lập, sáng tạo, đầu tàu
cho phát triển mà chỉ là những kẻ học vẹt, nhai
văn nhá chữ, chuyên
phò chính thống.
Nói như
thế
có lẽ không xa sự thực mấy khi
nhìn lại lịch sử. Tuy nhiên cá nhân một số những trí
thức
ưu
việt
cũng đã là
niềm
kiêu hãnh của một thời kỳ lịch sử nào đó
và là dấu chỉ của lương tâm dân
tộc
dù số phận của họ bi đát hay không được trọng dụng. Chu Văn An làm “Thất trảm
sớ”
khi về quy ẩn
và không được nghe theo. Nguyễn Trãi là quân sư cho cuộc kháng
chiến
chống
quân Minh với sách lược “tâm
công”, “đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân mà
thay cường bạo”, tác giả bản thiên
cổ hùng văn “Bình ngô đại cáo” cuối cùng
cũng bị tru di tam tộc. Nguyễn Bỉnh
Khiêm gợi
ý cho các chúa Nguyễn về “Hoành sơn nhất đái vạn đại dung thân”.
La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp
chỉ
được
Quang Trung hỏi
ý kiến
trong một vài việc. Nguyễn Du- thiên tài thơ nôm
trác
tuyệt
cũng chỉ là phận “hàng
thần
lơ láo”, khi chết không buồn trăn trối…
Nhưng kẻ sĩ
Việt Nam không phải chỉ chừng đó. Nguyễn Công Trứ tuy lên voi
xuống
chó, bị triều đình nhà
Nguyễn đố kỵ nhưng ai có công “vì nhân
dân” hơn ông trong việc lập dinh
điền,
khai hoang tìm đất sống cho nông
dân vùng Kim Sơn, Tiền
Hải. Dù bất cứ hoàn cảnh nào, ông
cũng giữ phương châm sống “cầm chính đạo để tịch tà
cự bí, hồi cuồng lan nhi
chướng
bách xuyên” và “phù thế giáo
một
vài câu thanh
nghị”,
chống
lại
cái xấu, cái ác,
khen chê rạch ròi. Cao Bá Quát dám “nghiêng cánh
nhạn
tếch
mái rừng Nhan Khổng, cựa đuôi kình
toan vượt bể Trình Chu”, khẳng định
“Bình Dương Bồ Bản vô
Nghiêu Thuấn, Mục Dã Minh Điền hữu Võ Thang”, đứng về phía “phản loạn”, dù có
bị rơi đầu
trên pháp trường. Còn phải kể đến Tuệ Tĩnh, Hải Thượng
Lãn Ông, những danh y đã đặt nền móng
cho y học dân tộc và
cứu
giúp được bao người qua nhiều thế kỷ. Rồi đến những danh nhân
văn hóa, văn học, nếu không có
họ,
làm sao khẳng định được diện mạo của dân
tộc.
Họ là những trí thức-kẻ sĩ Việt Nam đã có những đóng góp xứng đáng
cho dân tộc dù
bị hạn chế bởi hệ tư tưởng Hán
Nho và triều đại phong kiến.
Trí thức ngày
nay có những điều kiện thuận lợi hơn hẳn trí thức ngày
trước
nhưng
họ đã làm được gì
hơn
người
xưa?
Một
IDS chưa
làm
được
gì bao nhiêu đã phải tuyên bố tự giải thể dù
họ là những trí thức hàng
đầu
được
tin cậy
của
chế
độ.
Vậy
thì chuyện “phò chính
thống”
hay “thân phận tôi
đòi” không phải chỉ là vấn đề của kẻ sĩ thời phong
kiến.
Có người nói việc tuyên
bố tự giải thể mới chính là việc làm
có giá trị nhất của IDS chứ không
phải
là những gì họ đã
nghiên cứu. Mấy chục năm qua, có bao nhiêu trí
thức
đã cảm thấy nhục nhã khi
phải
ngồi
nghe các vị “lãnh đạo tòan diện và
tuyệt
đối”
lên lớp, huấn thị về những vấn đề chuyên môn
như
giáo
dục,
y tế,
văn học nghệ thuật, công nghệ thông
tin, tài chính ngân hàng… khi
trí tuệ và sự hiểu biết của các
vị lãnh đạo đó không
bằng
học
trò của mình?
Trí tuệ nhưng hèn nhát
chỉ
để trang trí
hay ngụy
biện.
Trí
tuệ
nhưng
không
có
lương
tâm
đôi
khi lại là tội ác.
Cũng có thông
tin cho rằng IDS được thành lập là do nhóm trí thức khao khát tự do đã tìm cách “lách luật” để
ra đời
nhưng
chế
độ độc
tài
không
muốn
cho tồn tại vì nó có thể trở thành tiền đề cho việc tự do lập hội, sau đó là tự do báo chí và xuất bản, điều được
coi là nguy hiểm cho sự tồn vong của chế độ.
Khi nhà
nước
không
chấp
nhận
những
“bồn
trí
tuệ” đòi
có
tự
do nghiên
cứu,
tại
sao trí thức không bỏ bồn mà bơi ra bể? Nền văn minh tin học và thế giới phẳng ngày nay có thể giúp trí
thức
làm
được điều
đó. Bể trí tuệ Việt Nam mênh mông không vì lợi ích của một nhà nước, chế độ,
đảng phái nào
mà
vì
tương
lai của đất
nước.
Đà Lạt
23.10.2009 (talawas)
Về đường đi của văn học tự do.
Trước
hết
xin kể lại mấy câu chuyện cũ.
Năm 1972 tôi viết truyện ngắn “Tự do hay là chết” với bút hiệu Tiêu
Dao Bảo
Cự gởi đăng trên tạp chí Đối Diện. Đối
Diện
là
tạp
chí
đối lập hàng đầu ở Miền Nam do hai linh mục Chân Tín
và
Nguyễn
Ngọc
Lan làm
chủ
nhiệm
và
chủ
bút.
Tạp
chí
này
đã nhiều lần bị tịch thu, chủ nhiệm phải “vác
chiếu
ra tòa” nhưng vẫn được
tiếp
tục
xuất
bản
dưới
hình
thức
báo
lậu
với
giấy
phép
xuất
bản
tự cho, được
nêu
là
căn
cứ vào
điều
11 Hiệp
định Paris, trong đó có ghi rõ
quyền
tự
do báo
chí.
Tòa
soạn
đôi khi được ghi đặt tại Canada hay Tokyo, dù thực sự vẫn ở Sài Gòn.
Đây là một cách làm táo bạo của những người đối
lập
thời
đó trong giai
đoạn
mà
sách
báo
thường
phải
chịu
cảnh
“hốt
cắt
đục” (tịch thu, kiểm duyệt cắt xén và” phải “tự ý đục
bỏ”).
Đối
Diện
đăng truyện ngắn “Tự do hay là chết”
nhưng
cắt
bỏ một đoạn
(có
lẽ vì
quá
rùng
rợn)
với
lời
ghi chú “Một mai
khi hòa bình sẽ trả lại cho tác giả”. Ngay sau đó, đài phát thanh Hà Nội và đài
phát
thanh Giải Phóng đều đọc
truyện
này
nhiều
lần
trong mục “Đọc
truyện
đêm khuya”. Năm 1974, Nhà
Xuất
bản
Giải
Phóng
(trong bưng) in lại truyện này trong tuyển tập “Bút
máu” và ghi
là
“ký sự” thay vì
truyện
ngắn,
lại
cắt
một
đoạn
khác
trong phần kết (có lẽ cho là bi quan). Sau 1975, ngoài tập Bút
máu
được tái bản, truyện này
còn
được đưa vào nhiều tuyển tập khác
như
Mùa
xuân
chim én
bay về
(NXB Cửu Long 1986), Tiếng hát những người đi tới (Báo Thanh Niên, Báo Tuổi trẻ, Nhà Xuất Bản Trẻ 1993 ), Tuyển tập truyện ngắn Việt (NXB Trẻ TP/HCM
1997), Nhìn lại một chặng đường văn học (GS Trần Hữu
Tá,
NXB TP Hồ Chí Minh 2000), Viết trên đường tranh đấu (NXB Thuận Hóa 2005 ).
Đây là truyện ngắn được một số nhà nghiên cứu văn
học
trong nước xem là một trong
những
truyện
ngắn
tiêu
biểu
của
dòng
văn
học
gọi
là
“hiện
thực,
yêu
nước,
tiến
bộ,
cách
mạng” ở miền Nam trước 1975, nội dung tố cáo chế độ lao tù
và
nói
lên
khát
vọng
tự
do của
người
Việt.
Điều
đáng chú ý là trong những lần in lại này,
khi nó được đổi
thể
loại
thành
ký
sự,
khi đổi
hẳn
tựa
đề là “Địa ngục trần gian”,
khi đổi tên tác giả thành Trường sơn Ca hay Tiêu Dao (bút hiệu khác
của
tôi
), lúc
cắt
đoạn
này,
lúc
bỏ đoạn
khác,
mà
chẳng
ai hỏi
ý kiến tác giả cả khi tác giả đã trở thành kẻ “có
vấn
đề” với chế độ.
Như vậy có thể nói tôi cũng có đôi
chút
hiểu
biết
và
kinh nghiệm bản thân về việc biên tập, kiểm duyệt và xuất bản qua nhiều giai đoạn
và
tôi
suy nghĩ về những vấn đề này với tư cách
một
người
trong cuộc. Có lẽ tôi và các bạn văn cùng chí hướng gặp khá nhiều khó khăn ở cả hai chế độ
vì
chúng
tôi
luôn
đứng ở phía đối lập, đối kháng với nhà
cầm
quyền.
Trong cuộc
đời cầm bút của mình,
chúng
tôi
xem chuyện sáng tác , ngoài việc thể hiện những tâm
tình
cá
nhân
còn
là
bày
tỏ thái
độ chính trị và là một phương tiện chiến đấu
chống
lại
cái
xấu,
cái
ác dưới mọi hình thức. Trong hoàn cảnh lịch sử đã sống trải và bị chi phối mãnh liệt, đó là một lựa chọn tự do, một cuộc dấn thân nguy hiểm, đồng thời cũng bị ràng
buộc,
giới
hạn
bởi
sự lựa chọn của mình.
Sự lựa chọn đó có thể đúng hay sai, theo quan
điểm
của
người
khác
hay cách
nhìn
nhận
trong từng giai đoạn
lịch
sử,
nhưng
đó là một cách sống trung thực.
Một
nhà
văn
có
thể
có
nhiều
lựa
chọn:
Viết
cho mình, viết vì Chân Thiện Mỹ nói chung, viết để chiến đấu
(khi đứng về một phía chiến tranh, trong
một
lý
tưởng
hay một
ý thức hệ)…Sự lựa chọn nào cũng
không
thoát
khỏi
sự
chi phối
của
bối
cảnh
lịch
sử,
của
chế
độ mà nhà văn đang sống. Chưa nói đến tài năng, nhân cách của người cầm bút ở chỗ nhà văn có thực sự tự do lựa chọn con đường của mình hay không. Nếu con đường sai,
đó là do nhận thức chứ không phải vấn đề nhân cách.
Chỉ
có
thái
độ ngụy tín, biết sai nhưng vẫn vờ cho
là
đúng hay vì hèn nhát, vì những giá trị tầm thường mà bẻ cong ngòi bút
mới
là
điều
đáng chê trách.
Cuộc
chiến
đấu cho
một
nền
văn
học
tự
do, nằm
trong cuộc đấu
tranh chung cho tự do dân chủ hiện nay là một cuộc chiến mở đầu
không
cân
sức
và
không
chiến
tuyến
rõ
rệt,
cũng
có
thể
rút
ra những bài học từ các kinh nghiệm chiến tranh trên, nhưng bằng các phương thức hòa bình, cộng với tri thức của thời đại
mới.
Cũng
cần
“nắm
thắt
lưng
địch mà đánh”, “giành thắng lợi từng bước tiến lên giành
thắng
lợi
hoàn
toàn”, “diễn biến hòa bình”… trên mọi lãnh
vực.
Tác
phẩm
in trong nước, ngoài nước, xuất bản lậu hay hợp pháp, công
bố trên
mạng
…đều có thể góp phần vào cuộc đấu
tranh. Không nhất thiết phải là những tác phẩm có nội dung chính trị rõ rệt hay hoàn toàn như mong muốn của tác giả (đối với sách xuất bản trong nước). Những tác phẩm thực sự có giá trị nhân văn, thậm chí chỉ là một ý, một đoạn, một câu nằm đâu đó trong các trang sách cũng có sức mạnh, đôi khi
công
phá
mãnh
liệt
vào
thành
trì
của
độc tài toàn
trị,
làm
suy yếu kẻ thù của tự do và tăng cường ý chí của dân tộc.
Những phê phán, ý tưởng quá cực đoan một chiều, cả trong
văn
học
và
chính
trị,
đều không có
lợi
gì
cho cuộc đấu
tranh này. Nếu ai đó nói rằng trong nước tất cả trí thức đều hèn nhát,
tất
cả nhà
văn
đều là văn nô,
tất
cả nhà
báo
đều là bồi bút, tất cả các
nhà
văn
ở hải ngoại xuất bản sách trong nước đều
háo
danh, nhận định đó có đúng đắn
không
và
sẽ mang đến
điều
gì?
Đó chính là “vơ đũa cả nắm”, chủ quan,
thiếu
thực
tiễn,
làm
“thêm
thù
bớt
bạn”, yếu đi sức mạnh của dân tộc khi chống lại độc tài toàn
trị. Phê phán thẳng thắn, chính trực, có văn hóa, có lý có tình là cần thiết, cần lắng nghe nhưng phê phán quá
nặng
lời,
gay gắt,
hồ đồ, thiếu văn hóa, thậm chí là những lời “chửi rủa cho
sướng
miệng”, chỉ gây phản cảm, phản tác
dụng
và
tác
hại.
Đây không phải chủ trương kiểu ba phải, “dĩ hòa vi quý”. Đây
chính
là
sách
lược
và
con đường đi gai góc mà dân tộc Việt Nam không thể không đi
qua để tiến đến
một
nền
văn
học
tự
do và
viễn
cảnh
tự
do dân
chủ
của
đất nước.
Đà lạt ngày 18-12-09
(talawas)
Điều kiện cho chuyển động dân chủ và đổi
thay số phận Việt Nam.
Điều kiện của dân
chủ,
cũng là số phận của từng người và
cả dân tộc chỉ được thay đổi bởi chính
mỗi
người
và toàn dân
tộc,
không ai có thể làm thay, không
thể
trông chờ bất cứ thế lực ngoại lai nào
(dù những thế lực này cũng
có tác động nhất định).
Về Tổ quốc và Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Định nghĩa chung về tổ quốc nhiều người đã nêu và có lẽ không có mấy dị biệt từ đông sang tây.
Gắn
liền
và
bao hàm
trong khái niệm về tổ
quốc
có
quốc
gia, dân tộc, đất
nước,
quê
hương,
lịch
sử.
Quốc
gia có ý nghĩa pháp lý về tổ chức nhà nước, dân tộc nặng về con người đồng chủng, đất
nước
nhấn
mạnh
đến mặt địa lý, quê
hương
thiên
về tình
cảm
đối với nơi sinh
ra và lớn lên, lịch sử gắn liền với quá khứ…
Đôi khi người dân hay trong văn học nghệ thuật, người ta dùng lẫn lộn hay thay thế nhau những khái niệm này nhưng rất ít ai dùng tổ quốc để chỉ chế độ
chính
trị,
trừ
sự áp đặt
cố tình
của
những
người
cầm
quyền
độc đoán.
Tôi trích dẫn khá nhiều để thấy rằng những tâm tình đó không đơn lẻ, không phải chỉ ở tác giả những bài
ca mà
là
ở hàng triệu con
tim cùng hát với họ, âm vang mãi
cho đến
tận
sau này. Ở đây cũng xin nhấn mạnh rằng không
đặt vấn đề quan điểm chính trị đối
với
cuộc
chiến
tranh Việt Nam, cho đến
nay, vẫn
còn
tranh cãi giữa những người trong cuộc, mà muốn nói đến
tâm
tình
của
một
thế
hệ về quê
hương,
đất nước, lịch sử, tổ quốc của mình.
Những
người
đó có thể có người ủng hộ miền Bắc, có người là đảng viên cộng sản nhưng tổ quốc của họ không
bao giờ
là
tổ quốc xã
hội
chủ
nghĩa.
Tổ quốc chỉ là
anh em đồng bào, người em, người chị, người mẹ, người tù, mái nhà, con sông, rừng sâu,
non cao, biển biếc, tiền nhân chống giặc Tàu giặc Tây xâm lược… Tổ quốc chung của mọi người Việt Nam từ xưa đến nay không
có
gì
khác.
Đó là tâm tình của những người tôi hiểu rất rõ vì cùng hoàn cảnh và cùng thế hệ ở
Miền
Nam.
Vậy
thì
“Tổ quốc xã hội chủ nghĩa” của người cộng sản Việt Nam là gì, của ai? Những người cộng sản Việt Nam không phải sinh ra đã là cộng sản. Trừ một số ít lãnh tụ và
đảng viên nòng
cốt
được đi học lý thuyết Mác – Lê
ở Nga, Tàu, đại bộ phận là nông dân,
công
nhân,
dân
nghèo
và
một
số ít trí thức đi theo
đảng vì bị cướp đất, cướp nhà,
chịu
bất
công
áp bức và muốn bảo vệ tổ quốc trước sự xâm lăng của ngoại bang. Dĩ nhiên họ gắn bó ràng buộc với nhau trong
tổ chức đảng và trong
bộ máy
nhà
nước
khi đã giành được chính quyền. Về sau họ cũng được học tập về chủ nghĩa, kinh tế chính trị Mác – Lênin nhưng thuở ban đầu,
như
trong một chuyện vui của chính những người cộng sản, nhiều người trong các cuộc kết nạp hay trong các
cuộc
họp,
nhìn
lên
ảnh của Marx và Lenin, không biết ai là
ai, chỉ
biết
“Thưa
ông râu dài và ông râu ngắn”.
Vậy thì “tổ quốc xã hội chủ nghĩa” chẳng là cái gì và của ai cả, chỉ là khẩu hiệu tuyên truyền của những người lãnh đạo
cộng
sản,
cũng
như
bất
cứ thứ gì
gắn
với
“xã hội chủ nghĩa”, như “kinh tế thị trường định
hướng
xã
hội
chủ
nghĩa”, chỉ có
một
nghĩa
duy nhất là dưới sự lãnh đạo
độc quyền của đảng
cộng
sản.
Ngoài
ra không có gì khác. Để bảo đảm
quyền
và
lợi
ngày
càng
quá
lớn
của
một
thiểu
số đã lợi dụng nhân dân khi giành
được chính quyền.
Từ biệt talawas,
người
tình
mãnh
liệt
đến rồi đi.
Làm sao trong lúc
từ biệt lại không
nói
những
lời
thương
nhớ.
Tôi
là
một
tác
giả
không
tham gia với talawas ngay từ những ngày đầu, đến với talawas
muộn
vài
năm
nhưng
không
vì
thế
mà
không
gắn
bó.
Vài
chục
bài
chính
luận
và
đặc biệt Tôi bày tỏ (nhật ký trong
những
ngày
bị quản chế), Hành trình cuối đông (bút ký về chuyến đi xuyên
Việt năm
1988, tái
bản
và
bổ
sung) đã được đăng nhiều kỳ
trên
talawas. Không nhiều so với những tác giả quan trọng của talawas
nhưng
quả
thật
tôi
đã gởi gắm đến talawas hay
talawas đã đón nhận không
ít nơi một người cầm bút
trong một giai đoạn đặc biệt của cuộc đời và lịch sử.
Từ chỗ một website nặng tính
hàn
lâm,
talawas đã chuyển mình
thành
một
diễn
đàn mang tính chiến đấu cao, đi sát những vấn đề thời sự nóng bỏng của đất nước. Những bài nghiên
cứu
giá
trị,
những
bình
luận
sắc
bén,
các
bài
dịch
công
phu, các tư liệu vô giá, những tác phẩm độc đáo, những cuộc bút
chiến
sôi
động đã mang lại cho talawas
một
diện
mạo
khó
website nào
khác
có
thể
so sánh:
trí
tuệ,
đa dạng, sắc bén,
phong phú, sôi động, tự do, vì
đất nước.
talawas như vì
sao chói sáng một thời gian rồi vụt tắt. Như một người tình mãnh
liệt
đến rồi đi. Cảm giác
bàng
hoàng
hụt
hẫng
tất
nhiên
phải
có.
Nhưng
không
phải
tất
cả sẽ chấm dứt. Dư âm, dư ảnh, dư hương của talawas sẽ còn lâu dài. Những tư tưởng talawas
chuyên
chở
sẽ còn
thấm
thía,
đi xa trong lòng độc giả đã đến và sẽ đến với talawas
trong tương lai nếu nội dung của nó vẫn còn được lưu giữ. Các tác
giả
của
talawas sẽ tiếp nối hành trình của họ trên những con đường mới. Các website khác
cùng
mục
tiêu
với
talawas vẫn tồn tại hoặc sẽ tiếp tục ra đời thay thế (như Boxitvn mới xuất hiện chưa lâu, cũng đầy trí tuệ, tâm huyết, tính
chiến
đấu và mang
đậm yếu tố trong
nước).
Tổ quốc Việt Nam của mọi người Việt Nam và cuộc chiến đấu vì đất nước không của riêng
ai.
Từ biệt talawas
cũng
là
từ biệt những người chủ biên,
tác
giả
và
độc giả một thời chia sẻ không gian tự do và trí tuệ.
Hẹn gặp lại trên những nẻo đường tri thức, trên
không
gian ảo và trên quê
hương
Việt Nam yêu
dấu.
Đà Lạt
20/10/2010
(talawas)
“Cơ hội vàng – lần thứ hai” cho
dân
tộc
và
Đảng Cộng sản Việt Nam
Trong bất kỳ
thời
đại
nào
của
lịch
sử
Việt Nam, giữ nước luôn là
việc
của
toàn
dân
chứ
không
phải
chỉ
là
việc
của
một
triều
đình, một thế lực, một đảng,
một
nhà
nước,
một
quân
đội.
Thực ra đây chỉ là một biểu hiện nhỏ trong
chính
sách
ngoại
giao khiếp nhược đối với “người hàng xóm to xác xấu tính”. Ai cũng biết đối với Trung Quốc, chính sách
ngoại
giao của Việt Nam luôn là
hòa
hiếu,
giữ
vững
chủ
quyền,
độc lập, và lịch sử Việt
Nam đã có biết bao nhiêu bài
học.
Hòa
hiếu
nhưng
không
phải
là
hèn
nhát
cúi
đầu chịu nhục hay dâng đất cho ngoại bang. Các
triều
đại phong kiến ngày
xưa
đã từng không chịu nhường một tấc đất của núi sông; khi cần đã đánh cho bọn xâm
lược
tan tành,
đại bại, được cấp thuyền, ngựa về đến nước mà còn “hồn kinh phách lạc, ngực đập chân run”; cử người giả hoàng đế sang triều cống trong
khi chuẩn bị lực lượng để tấn công…
Thời
Pháp
thuộc,
dù
trình
độ văn minh và
vũ
khí
quá
chênh
lệch,
phải
chịu
cảnh
nô
lệ nhưng tinh thần chiến đấu của dân tộc là khi còn
một
ngọn
cỏ,
người
Việt
vẫn
còn
đánh Tây.
Đối với người Cộng sản Việt
Nam, đã một thời không hiếm những người yêu
nước
nồng
nàn,
không
tiếc
máu
xương
trong cuộc chiến đấu giành độc lập, kiên cường bất khuất trong tù đày tra tấn, không
hề hèn
nhát.
Đảng Cộng sản và nhân dân
Việt
Nam cũng
đã từng đọ sức với Trung Quốc
trong cuộc chiến biên giới năm 1979 và những năm tiếp theo, hiểu rất rõ “lòng lang dạ sói”
của
người
“láng giềng bốn tốt”.
Trong bất kỳ
thời
đại nào của lịch sử Việt
Nam, giữ
nước
luôn
là
việc
của
toàn
dân
chứ
không
phải
chỉ
là
việc
của
một
triều
đình, một thế lực, một đảng, một nhà nước, một quân đội. Hơn ai hết, những người Cộng sản Việt Nam hiểu thế nào là
dựa
vào
dân,
chiến
tranh nhân dân. Nhân dân đã tự phát nêu
cao lòng yêu nước, ý thức giữ gìn lãnh
thổ,
tại
sao không phát huy, dựa vào
sức
mạnh
nhân
dân
để đối phó với xâm lược. Một thiểu số nào
đó trong bộ máy
cầm
quyền,
vì
một
lý
do nào
đó như lợi ích cá nhân, gia đình, phe nhóm muốn ngăn cản điều này chính
là
đưa đất nước vào họa diệt vong.
“Toàn dân nghe chăng??? Sơn hà
nguy biến!!!” và những câu
hỏi
cần
lời
đáp cho mọi người Việt Nam.
“Toàn dân nghe chăng???
Sơn hà
nguy biến!!!
Lời kêu gọi đó vang rền đất nước cách đây
hơn
7 thế
kỷ khi vó ngựa quân
Nguyên-Mông bắt đầu vượt biên
giới
dày xéo lên
đất
nước
Việt Nam. Thời đó Nguyên-Mông là một đế quốc rộng lớn, hùng mạnh nhất thế giới, xâm
chiếm
nhiều
quốc
gia từ Á sang Âu. Chúng tự hào là
dưới
vó ngựa viễn chinh của chúng
cỏ không mọc được. Ấy thế
mà ba lần xâm
lược,
ba lần chúng đại bại trước dân
tộc
Việt Nam và vua tôi
nhà Trần.
Ngoài sự sáng
suốt
của
các vua nhà
Trần, tài thao lược của Trần Hưng Đạo và các tướng lĩnh, sự dũng cảm của ba
quân, yếu tố quan trọng hàng
đầu
là lòng dân.
Hội
Nghị
Diên Hồng do Thượng Hoàng Trần Thánh Tông triệu tập năm 1284 thề quyết chiến, thể hiện sự quyết tâm và đoàn
kết
toàn dân để đánh thắng kẻ thù, mà
người
học
sử
Việt không ai không biết.
Ngày hôm nay, sau hơn 700 năm, lời kêu gọi đó
lại
vang lên khẩn thiết, trong một bối cảnh lịch sử hoàn
toàn khác, người Việt Nam sẽ làm gì để không
thẹn
với
tiền
nhân và không
trở
thành nô lệ cho ngoại bang?
Tình hình
hiện
nay như
thế
nào?
Không hề khác trước đây
mà ý đồ và hành
động
của
bá quyền Trung Quốc ngày càng rõ rệt, táo
bạo,
trắng
trợn
và nguy hiểm hơn, thể hiện qua các
vụ xâm phạm lãnh hải gần đây
và những yêu cầu xấc xược đối với Chính
Phủ
Việt Nam. Vậy thì chống Trung Quốc xâm lược chính là mệnh lệnh của lịch sử, không
có gì khác.
Trung Quốc đang kích động tinh thần bá
quyền
Đại
Hán của
dân tộc họ để đem Việt Nam làm “con dê tế thần” trong
cuộc
chiến
ở Biển Đông, sao Việt Nam lại không
kích động lòng yêu
nước
của
toàn dân để bảo vệ tổ quốc. Dân tộc Việt Nam không
bao giờ
chủ
trương
gây
chiến
nhưng
sẵn
sàng đáp trả bất cứ kẻ thù nào. Đối với Trung Quốc, Việt Nam có đầy đủ các bài
học
thắng
- bại
và cho đến nay, qua hàng ngàn năm
lịch
sử đối đầu, bọn bá quyền nước lớn không thể thôn
tính nổi đất nước ta. Bây giờ, cách tốt nhất để bảo vệ hòa bình
là chuẩn bị chiến tranh, trước tiên
là khơi dậy, khởi động lòng yêu
nước
của
toàn dân sau một thời gian chìm
lắng
vì những nghiệt ngã của lịch sử.
Toàn dân nghe chăng??? Sơn hà
nguy biến!!! Những câu hỏi khẩn thiết đang
được
đặt
ra cần lời giải đáp cụ thể cho
mọi
người
Việt Nam, không trừ một ai.
Từ kiến
nghị,
tuyên cáo đến biểu tình và vai
trò của trí thức Việt Nam.
Từ
chỗ
là người trong guồng máy,
trong chế độ, một số trí thức, văn
nghệ
sĩ đã chuyển sang vị trí
đối
lập,
đối
kháng với những người cầm quyền. Trí thức, văn nghệ sĩ,
đặc
biệt
những
người
có uy tín
đối
với
công chúng, chỉ là một số ít, dĩ
nhiên thuộc loại “trói gà
không chặt” nhưng sức mạnh của họ chính là
ý nghĩa của biểu tượng và nguồn cảm hứng. Sự có
mặt
của
họ trên đường phố, bài viết, sáng
tác của họ lưu truyền trên mạng chắc chắn sẽ khơi dậy sự thức tỉnh cho
rất
nhiều
người,
nhất
là lớp trẻ có học. Trí thức, văn
nghệ
sĩ (không phải là nhà
hoạt
động
chính trị chuyên nghiệp) không
thể
trực
tiếp
lãnh đạo biểu tình thành
công nhưng có thể góp phần tỉnh thức và
thôi thúc hàng ngàn, hàng
vạn
các bạn trẻ xuống đường. Và khi
đã có hàng
vạn
người
xuống
đường
biểu
tình, đó đã là sức mạnh vật chất, bạo lực của quần chúng
có thể lật đổ một chế độ như ta đã từng thấy trong
các cuộc cách mạng mà
gần
đây là những biến động ở Bắc Phi và Trung Đông.
Suy nghĩ về việc kiến tạo sức mạnh dân tộc để dân chủ hóa đất nước
Muốn thay đổi chế độ toàn trị này nhất định phải có sức mạnh tiên tiến và
tổng
hợp
của
toàn
dân
tộc,
bao gồm
tất
cả mọi lực lượng, bất kể quá
khứ
như
thế
nào,
trong hay ngoài nước, nhất là
trong nước, phải có sự đoàn kết và thống nhất về mục tiêu chung trước mắt và
lâu
dài.
Cuộc dấn thân hôm
nay là
sự đồng hành của nhiều thế hệ, thế hệ trẻ hiện nay và
những
thế
hệ dấn thân
trước
đây còn tồn tại, cùng thức tỉnh và hỗ trợ nhau bằng thế mạnh riêng của mình,
trong một giai đoạn đầy khó khăn gai góc. Các
phẩm
chất
yêu
nước,
trong sáng, nồng nhiệt, phản kháng, khao khát tự do dân
chủ
và
hòa
bình
là
phẩm
chất
tinh hoa của nhiều thế hệ cần được khôi phục và phát huy hơn bao giờ hết để kiến tạo sức mạnh mới của dân tộc trên
con đường dân chủ hóa
đất nước.
Sự đoàn kết hiệp đồng giữa các thế hệ trong cuộc đấu tranh dân chủ hóa
đất nước trên tầm chiến lược.
Sự khác biệt, mâu thuẫn, xung đột giữa thế hệ già và trẻ là điều bình thường trong các xã hội dân chủ. Tình trạng thế hệ trẻ phục tùng thế hệ già chỉ là
một
dấu
chỉ
của
sự trì
trệ,
bảo
thủ
trong các chế độ phong kiến và độc tài. Các thanh niên
“thế hệ chiến tranh”trước đây đã từng lên án những người đi trước là để lại cho
họ một gia tài rách nát với chiến tranh tàn khốc, đất nước phân ly, tương lai mù mịt. Thế hệ trẻ hiện nay cũng có thể oán trách cha anh đã để lại cho
họ một chế độ độc tài toàn trị mà từ nhỏ đến lớn họ bị tuyên truyền nhồi sọ, thui chột tinh thần sáng tạo và
bị tước đoạt nhiều quyền tự do đáng ra họ phải được hưởng từ khi đất nước thống nhất. Có thể khi thế hệ này già
đi, họ lại bị thế hệ kế tiếp phê phán vì chưa làm được gì nhiều cho tương lai
và
cũng
để lại nhiều gánh nặng. Tất cả đều trải qua tuổi trẻ, tuổi già và nằm trong “gọng kềm lịch sử”.
Cuộc tranh đấu hiện nay rõ ràng là chưa cân sức trong toàn cảnh mâu
thuẫn
lớn
nhất
của
thời
đại giữa nhân dân
bị trị và
chế
độ độc tài toàn
trị.
Trong ngắn
hạn
và
trung hạn, lực lượng dân chủ có thể vẫn còn ở trong thế yếu nhưng dài
hạn,
nếu
biết
dựa
vào
và
khơi
dậy
sức
mạnh
của
dân
tộc,
chắc
chắn
lực
lượng
dân
chủ
sẽ chiếm thượng phong và giành chiến thắng vì nhân dân không thể chấp nhận mãi sự đày đọa của một thiểu số độc tài. Trong viễn cảnh đó, sự đoàn kết hiệp đồng chiến đấu giữa các thế hệ để đấu tranh hiện nay nhất định cần một cương lĩnh có
tầm
chiến
lược,
trong đó có chỗ và cơ hội hành động cho mọi người
khao khát
tự
do dân
chủ,
kể cả lối thoát
cho những người cộng sản và đảng cộng sản để tránh một bi kịch lịch sử tiếp theo,
chắc
chắn
sẽ có
rất
nhiều
hận
thù,
máu
và
nước
mắt.
Tình hình Việt Nam hiện
nay: Phải
chăng “Nhân dân nào chính
quyền
ấy”?
Trên dưới hai
thập
niên vừa qua, nhiều cuộc chuyển đổi và cách
mạng
“long trời
lở đất” đã xảy ra đối với hệ thống xã
hội
chủ
nghĩa trên toàn thế giới và các
nước
có chế độ độc tài ở Bắc Phi và Trung Đông. Nhiều người đã
mơ tưởng đến các loại “cách mạng màu,
cách mạng hoa” như ở một số nước nhưng điều đó đã không xảy ra.
Tình hình này cũng có
thể
chứng
minh cho cách tổng kết “nhân dân
nào chính quyền ấy” ở Việt Nam.
Nhân dân là một từ trừu tượng nhưng lại rất cụ thể. Ai cũng có
thể
tự xưng nhân
dân,
nhân
danh nhân dân, hô hào nhân dân. Có khi nhân
dân
im lặng chịu dẫn dắt như bầy cừu nhưng cũng có lúc nhân dân nổi gió dậy sóng.
Người
xưa
cũng
đã từng nói
“chở
thuyền
là dân, lật thuyền cũng
là dân”.
Trong chiều dài
lịch
sử của mình, nhân dân
Việt Nam có hai đặc tính
nổi
bật:
chịu đựng và phản kháng. Hai đặc tính này luân
phiên hay cùng lúc bổ sung cho nhau
tùy hoàn cảnh cụ thể. Nếu không rèn đúc
được
hai đặc tính này,
chắc
chắn
quốc
gia Việt Nam đã bị xóa sổ trên bản đồ thế giới.
Sự
phản
kháng này chỉ có hiệu quả lớn khi đại bộ phận nhân
dân tham gia. Các tầng lớp nhân dân
không đồng nhất nên phải có
sự tác động, kích thích
lẫn
nhau, đặc biệt trong đó
tầng
lớp
ưu tú có trách nhiệm dẫn dắt và thúc đẩy, lứa tuổi trẻ xung
kích tiến lên hàng
đầu.
Trí thức
dấn
thân thường đấu tranh vì
lý tưởng chứ không vì
quyền
lợi,
tuổi
trẻ
không ngại hi sinh, không so đo tính
toán. Đó hầu như là
kinh nghiệm của mọi cuộc cách mạng. Và
trong thời đại Internet, thông tin truyền tải tức thời, sự tác động qua lại giữa các tầng lớp càng
nhanh lên gấp bội.
Phải chăng đây là con đường, là
lối
thoát tất yếu cho tình
hình Việt Nam? Và có phải đảng – chính quyền đã không học được bài
học
tự ngàn xưa “chở thuyền là
dân, lật thuyền cũng là
dân” để đi đến tự hủy?
Đinh Cường, từ bài thơ và một dòng chảy…
Bài thơ có câu:
Gặp
lại
Tiêu
Dao Bảo Cự như gặp lại thời thanh niên
Thì ra là vậy. Dù chúng tôi không thân thiết nhau nhưng chúng tôi
đã trôi ra từ cùng một dòng chảy và bầu khí quyển hừng hực của thời đại ngày ấy. Nơi chốn có dòng sông
Thơm
hiền
hòa,
nơi
nổi
tiếng
êm đềm thơ mộng ấy đã không ít lần “dựng kiếm lên trời xanh”. (Ý thơ Cao Bá
Quát
về sông
Hương).
Chúng
tôi
cùng
thế
hệ chiến tranh, mỗi người có con đường, lựa chọn và định mệnh khác nhau nhưng từ trong bản chất, không thoát
được tính trữ tình
lãng
mạn
và
ý
thức
phản
kháng
của
con người
nơi
một
vùng
đất, trên nền tảng của khát
vọng
tự
do và
sáng
tạo,
trong cuộc đời cũng như trong nghệ thuật.
Thư gởi Bùi Minh Quốc nhân sự kiện tổ chức mừng sinh nhật lần đầu lúc 75 tuổi.
Anh và tôi xuất thân hoàn
toàn
khác
nhau. Anh là nhà văn Miền Bắc tình nguyện vào
Nam chiến
đấu, tôi là
“sinh viên tranh đấu”
và
là
người
cầm
bút
đối kháng ở Miền Nam. Chúng ta khác nhau rất nhiều về gia đình, hoàn cảnh, quá
trình,
nền
giáo
dục,
tâm
trạng…
Nhưng
chúng
ta gặp
nhau ở chỗ cùng trải nghiệm chiến tranh (theo những cách khác
nhau), cùng tha thiết với độc lập tự do và khát vọng hòa bình của dân tộc, cùng dùng cây bút làm vũ khí chiến đấu bên cạnh ngợi ca tình yêu và cuộc sống. Phần khác quan trọng không kém, có
lẽ chúng
ta đều là những kẻ “lãng mạn cách mạng”,
phóng
khoáng
và
nhân
văn
trong cách nghĩ, lối sống.
Tuy nhiên đến bây giờ tôi vẫn “bảo lưu” ý kiến cho rằng ngay trong
chúng
ta, ngay trong bất cứ ai dù
có
lý
tưởng
trong sáng, đấu tranh cho
tự
do dân
chủ,
là
“
hãy
cảnh
giác
với
những
hành
vi cực
đoan, thủ đoạn bẩn thỉu trong
chính
trị,
nhất
là
với
phương
châm
mục
đích biện minh
cho phương tiện”. Điều đó sẽ làm hoen ố những gì tưởng là cao
đẹp nhất. Dĩ nhiên chúng
ta đã quá biết chính trị là
gì,
chính
trị
là
điều không tránh khỏi trong cuộc sống, phân biệt thái
độ chính trị với hoạt động chính trị, chính
trị
chuyên
nghiệp
và
không
chuyên
nghiệp,
chính
trị
cầm
quyền…
Người
cầm
quyền
sẽ vấy bẩn chúng
ta và
chúng
ta cũng
có
thể
tự làm
vấy
bẩn
mình.
Không
cảnh
giác
điều này, tình bạn sẽ tan vỡ.
Tình bạn là gì? Đã có vô số định nghĩa về tình
bạn
nhưng
nhất
định trong tình
bạn
phải
có
sự đồng cảm và chia sẻ về số phận riêng
và
số phận chung của con người, ở một mức độ nào đó, mà người trong
cuộc
cảm
thấy
ấm lòng, được an ủi khi nghĩ đến nhau. Tình bạn không
đắng – cay như rượu, không đắng – ngọt café,
có
thể đối với nhau như nước lã (Tàu
xưa
gọi
là
“đạm
nhược
thủy”?) nhưng chính “nước lã” này mới uống mãi
không
chán
và
tưới
mát
tâm
hồn
khi có nhau và
nghĩ
về nhau trong cuộc đời.
Những con đường Việt Nam
Trong lịch sử, chưa bao giờ dân tộc Việt
Nam bị
chia rẽ,
phân
ly và đứng trước nguy cơ như hiện nay. Ai cũng mong muốn có
một
con đường giúp
đất nước thoát khỏi thảm họa, nhưng hiện nay không
chỉ
có
một
con đường mà
rất
nhiều
con đường, kể cả những con
đường đi ngược chiều nhau.
Vậy đâu là
con đường Việt Nam, con đường chung cho cả dân tộc mở ra biển lớn, mở ra thế giới, mở ra
tương
lai huy hoàng?
Với khát
vọng
của
toàn
dân,
chắc
phải
có
con đường đó. Nhưng con
đường này
không
thể
hình
thành
nếu
thiếu
hai yếu tố cơ bản sau đây:
*
Sự
thông
cảm,
bao dung, hòa
giải,
đoàn kết giữa các
thành
phần
dân
tộc
đối lập với chế độ độc tài
toàn
trị
để tạo nên
nội
lực
của
dân
tộc.
* Từng người dân
có
ý thức, tinh thần và năng lực làm chủ vận mệnh cá nhân mình và đất nước.
Với thực tế hiện nay,
hai điều kiện trên
xem ra vẫn còn nhiều thiếu sót.
Ngoài
sự vận động tự thân
của
mỗi
người
thì
những
người
hoạt
động chính
trị
xem ra không thể không
quan tâm, nếu không nói là phải đặt thành
trọng
tâm
trong chương trình hành động của mình.
Lịch sử không
loại
trừ
những
bất
ngờ.
Trong bầu
khí
xã
hội
bị dồn ép, không
biết
lúc
nào
bạo
loạn
có
thể
nổ ra và khi bạo loạn nổ ra, tình hình sẽ rất khó lường và kiểm soát. Sau bạo loạn, tình hình
sẽ tốt hay xấu hơn cho đất nước, trả bằng giá
nào,
trong bao lâu, không ai có thể nói trước. Nhưng
không
ai có
quyền
hô
hào
bạo
loạn,
đẩy người khác
vào
con đường máu
lửa
trong khi mình
đứng bên
ngoài
để hưởng lợi. Không
ai được quyền nhân
danh tập thể để hi sinh cá nhân trừ khi cá nhân tự nguyện. Không
ai được quyền nhân
danh tương lai để hi sinh hiện tại. Đó cũng
chỉ
là
một
cách
“mục đích biện minh cho phương tiện” bẩn thỉu và
tàn
bạo
của
những
kẻ hoạt đầu chính
trị,
chẳng
tốt
đẹp gì
cho đất nước.
Truyền thống phong trào sinh viên học sinh tranh
đấu: Khôi phục tinh hoa
phẩm
chất.
Đặc điểm của SVHS, thế hệ trẻ, là
sự trong sáng và
nhiệt
huyết.
Đặc
điểm
này được phát huy
cao độ trong phong
trào với tinh thần yêu
nước,
mục
tiêu chống xâm lược, chống bất công
áp bức trong những hoàn
cảnh
cực
đoan rất dễ kích thích
tuổi
trẻ.
Rõ ràng SVHS tham gia phong
trào với sự trong sáng
gần
như
tuyệt
đối
vì họ chẳng có mục đích
lợi
ích cá nhân
nào (trừ một số rất ít). Sự hăng
hái của họ bất chấp hiểm nguy, sẵn sàng
đối
đầu
với
dùi cui, lựu đạn cay, phi tiễn, nhà tù,
tra tấn, kể cả tàn phế, mất tương lai
và
có
khi mất cả mạng sống. Chính vì
đặc
điểm
đó, đảng CSVN đã
sử dụng họ như một “ngòi pháo xung
kích” trong phong trào đấu tranh
đô thị.
Điều này không có nghĩa
là đảng CSVN có
thể
huy động, tổ chức, lãnh đạo phong
trào SVHS một cách toàn
diện,
triệt
để,
từ đầu đến cuối.
Phong trào SVHS ban đầu thường nổ ra
do SVHS tự
phát hay do các tổ chức chính trị, xã hội, tôn
giáo phát động. Đảng CSVN chỉ từng bước lợi dụng, cài cấy người chi phối và
khi có đủ điều kiện mới hình
thành tổ chức lãnh đạo phong
trào nhưng đều phải núp
dưới
danh nghĩa các tổ chức SVHS thuần túy. Phần lớn SVHS tham
gia phong trào với tư cách là tuổi trẻ học đường bằng cảm xúc và nhận thức đơn sơ với sự bồng bột của tuổi trẻ, đối với một số người, đôi khi
chỉ
là ham vui hay muốn nghỉ học.
Trong nhiều trường hợp, tuyên
truyền
của
đảng
CSVN rất gần gũi hay tương đồng với
suy nghĩ, tâm tình và
khát vọng của SVHS nên đảng có điều kiện hướng phong trào
SVHS vào tổng thể phong trào
đấu
tranh đô thị trong toàn bộ sách
lược
chiến
tranh. Một số người được lôi kéo
hay tự
động
tìm đến với đảng CSVN, trở thành
cốt
cán hay đảng viên. Có
thể
nói phần lớn những người này là
“đảng
viên cộng sản lý tưởng, yêu
nước”,
theo nghĩa vào đảng chỉ để chống xâm lược, chống bất công
áp bức chứ không phải “giác
ngộ
giai cấp”, giác ngộ chủ nghĩa
Mác – Lê nhằm xây dựng chủ nghĩa
xã hội. Dĩ nhiên
khi vào đảng họ cũng
được
học
tập
đôi chút về chủ nghĩa nhưng mục tiêu và
hành động trước mắt chỉ là tham
dự vào cuộc đấu tranh gọi là
“giải
phóng Miền Nam, thống nhất tổ quốc”. Những mục tiêu khác
quá xa vời khi cuộc chiến đang
nóng bỏng từng ngày với máu
xương
và
nước
mắt.
Có người
cho rằng đây là
sự ngây thơ và ấu trĩ về chính trị và trong
hoàn cảnh đó họ cũng
có tự do lựa chọn. Trong giai đoạn chiến tranh Việt Nam trước đây, ở Miền
Nam, khó có thể nói sự lựa chọn nào là
đúng đắn đối với SVHS: tham gia đấu tranh, lo học, ăn chơi, tự nguyện nhập ngũ, bị bắt lính,
trốn
lính, đào ngũ… tùy hoàn
cảnh,
nhận
thức
và tâm trạng mà
người
ta lựa
chọn
hay trôi theo dòng cuốn. Có người còn
nhập
cuộc
tranh đấu vì chịu ảnh hưởng
của
tư tưởng “dấn thân” trong triết học hiện sinh.
Chỉ
sau khi lịch sử đã
đi qua, nhìn lại mới có thể thẩm định một cách chính
xác nếu có cái
nhìn khách quan, không thiên
kiến,
không bị sự hận thù hay kiêu
ngạo
chi phối.
Đảng CSVN, người cầm quyền hiện nay, với đối tượng SVHS, hầu như đã làm ngược lại những gì đảng làm trước đây.
Thay vì khuyến khích
sáng tạo, đấu tranh chống cái
xấu
cái ác, yêu
nước,
chống
xâm lược, đảng lại làm cho
SVHS chỉ
biết
vâng phục, chỉ lo “lập thân, lập nghiệp”, thực chất là
kiếm
tiền
làm giàu, sợ hãi hay làm ngơ trước lời kêu
gọi
tổ quốc lâm nguy từ cuộc xâm
lược
của
bá quyền bành trướng Đại Hán Trung Quốc. Vì sợ rằng chính
mình sẽ trở thành đối tượng đấu tranh
của
SVHS như
truyền
thống
của
phong trào, với kinh nghiệm hoạt động phong trào
ngày trước, người cầm quyền đã dùng
mọi
thủ
đoạn
để trấn áp “ngay từ trong
trứng
nước”.
Việc
cài cấy nhân viên
an ninh vào hàng ngũ SVHS, đe dọa bản thân và
gia đình những người tham gia biểu tình
chống
Trung Quốc xâm lược vừa qua, đe dọa ban giám hiệu, giáo viên và
ban quản
lý SVHS là những biện pháp đi ngược lại những gì
đảng
đã cổ võ trong
truyền
thống
của
phong trào. Không gì có
thể
biện
minh cho điều này kể cả an ninh, trật tự xã
hội,
quốc
phòng, bí mật quốc gia, ổn định chính
trị,
sách lược ngoại giao hay để làm vừa lòng người “bạn vàng
bốn
xấu”.
Những biện pháp
này không chỉ có hại trước mắt mà còn
di hại
lâu dài. Chưa nói
đến
những
hiện
tượng
suy đồi khác trong
lãnh vực giáo dục về tri thức, đạo đức đã
đến
mức
báo động, đất nước sẽ ra sao
khi SVHS bị thui chột lòng
yêu nước, thờ ơ với vận mệnh quốc gia,
với
cái xấu cái ác
lan tràn, khi ai cũng thừa nhận rằng SVHS - thế hệ trẻ chính là tương lai
của
đất
nước.
Đảng
CSVN và những người cầm quyền hiện nay phải trả lời vấn nạn này
trước
lịch
sử.
Thực
ra đảng có thể làm
khác hơn, hợp lòng dân
hơn,
hợp
truyền
thống
hơn
nhưng
không
đủ bản lĩnh
để làm vì sợ rằng đây
sẽ là con dao hai
lưỡi
có thể đe dọa đến độc quyền toàn
trị
của
mình.
Xét cho cùng, phẩm chất của phong trào SVHS là trong sáng,
nhiệt
huyết,
yêu nước, chống xâm lược, phản kháng
trước
bất
công áp bức, kêu
đòi tự do dân chủ hòa
bình, chính là phẩm chất của thế hệ trẻ mọi thời đại, cũng là
của
con người,
công dân một đất nước. Ở đây, tôi lại muốn trích dẫn Hạ Đình Nguyên trong bài viết nói
trên, một bài viết quan
trọng
đầu
tiên đề cập một cách khá
toàn diện và thẳng thắn về phong
trào, một đề tài gần như “cấm kỵ” ngay
cả đối với người trong cuộc:
“Cuộc
đấu
tranh Nam-Bắc vì độc lập dân
tộc,
lồng
trong chiến tranh ý thức hệ của hai
phe, trong phạm vi cục bộ của VN, dù có hay không
có phong trào đấu tranh đô
thị
của
TNSVHS, thì phe thất bại vẫn thất bại, phe thắng cuộc vẫn thắng cuộc, vì
nhiều
yếu
tố khác. Cái giá
trị
của
phong trào đấu tranh không có
vai trò gì
lớn
trong sự thành bại của đôi
bên. Quan niệm chính
thống
của
CSVN xem nó không hơn một quả pháo.
Song ý nghĩa lớn nhất ở chỗ, nó
thể
hiện
tinh thần yêu nước thuần khiết, thái
độ dấn thân tự nguyện của thế hệ thanh niên,
biết
quan tâm đến Tổ quốc trước họa xâm lược, biết yêu độc lập và
tha thiết với dân chủ tự do.”
Khôi phục
và phát huy
tinh hoa phẩm chất này chính là
chuẩn
bị cho tương lai của đất nước, trước mắt đối phó
với
nạn
xâm lược của con rồng đỏ tim đen
Trung Quốc Cộng Sản đang
trỗi
dậy
lăm le chinh phục Á
Đông và thế giới.
Đối với việc hòa
giải
hòa hợp dân tộc tạo nên
sức
mạnh
để dân chủ hóa đất nước, tinh
hoa phẩm chất này cũng
là chất kết dính các
thành phần dân tộc Miền Nam và
Miền
Bắc, trong và ngoài nước, bất luận quá
khứ
và xuất thân khi
cùng đứng trên lập trường dân
tộc
để chung cùng một cuộc chiến đấu cho
tương
lai khi hiểm họa gần kề.
Đà Lạt
những
ngày đầu năm 2013 trước ngày kỷ niệm truyền thống sinh viên
học
sinh 9/1
Từ Ngô Kha, soi rọi và
giải
mã
một
thế
hệ dấn thân.
Có lẽ
nhiều
người
thích mấy câu thơ sau
đây
của
Ngô Kha:
con đã đi bao năm
mẹ không rời ngưỡng cửa
và nay
gió cũng tang bồng
nhưng thi sĩ
vẫn
nằm
yên trong nhà tù vĩnh
cửu
Có cái gì lãng mạn, hào sảng và
cũng bi tráng, chứa đựng nhiều ẩn
ngữ
và dự báo như chính cuộc đời anh: Nhà thơ tài hoa, nhà giáo nồng nhiệt, kẻ dấn thân tranh
đấu
hào hùng, chiến sĩ cho tự do, người làm
cách mạng, bị tù đày,
chết
vì bị thủ tiêu khi
còn trẻ và cuộc chiến đấu còn
dở
dang.
Từ trường
hợp
Ngô Kha, soi rọi
bản
thân, đối chiếu bạn bè, tôi
nghiệm
ra thế hệ chúng tôi
là một thế hệ dấn thân bi tráng.
Dĩ nhiên là khởi đi từ sự trong sáng
và nhiệt tình tuổi trẻ trong
một
tình huống sục sôi. Tuổi trẻ không
vì những lợi ích hẹp hòi
gì cho riêng
mình ngoài khát vọng thể hiện bản thân. Đây
là tuổi trẻ có trí
thức,
có ý thức chứ không phải là
những
con thiêu thân mù quáng.
Lòng yêu nước là
một
tình cảm tự nhiên và
được
hun đúc qua những bài học lịch sử từ tấm bé, phải làm
cái gì chứ không
thể
ngồi
yên khi đất nước mỗi ngày
rỉ máu, tan hoang vì bom đạn.
Tinh thần phản kháng,
nổi
loạn
là đặc điểm chung của tuổi trẻ càng
dễ được kích động lên trong
bối
cảnh
xã hội có nhiều bất công,
áp bức và niềm đau
do cuộc
chiến
gây ra.
Đi cùng với lòng
yêu nước là khát
vọng
hòa bình. Biết bao giấc mơ về một ngày mai quê
hương
im tiếng súng đã
được
vẽ nên trong thi
ca, nhạc,
họa
của
những
người
trẻ
tuổi
luôn đau đáu niềm đau chung
của
đất
nước.
Từ ngày ấy, bao nhiêu nước đã chảy qua cầu, đất nước cũng gập ghềnh quanh
co trên chặng đường gian khó
đi tới tương lai. Những nhận định và
phê phán về một thế hệ dấn thân vẫn còn nhiều khác
biệt
từ quan điểm của người nhìn nhận. Nhưng dù sao
đi
nữa,
gác qua một bên những định kiến, hận thù
và quan điểm chính
trị,
thế
hệ dấn thân này vẫn thể hiện phẩm chất tinh
hoa của tuổi trẻ trí thức Việt Nam, mà nếu được phát
huy đúng đắn, những phẩm chất này sẽ làm nên
đất
nước.
Góp phần
giải
mã hiện tượng Lê Hiếu Đằng
Việc cần làm
là xây dựng một chế độ chính
trị
pháp trị thực sự có cơ chế hãm
để ngăn chặn lạm dụng và lòng
tham cá nhân.
Trên thế giới có nhiều mô
hình nhưng không có mô hình nào là tuyệt đối hoàn hảo và
còn cần phải phù hợp với đặc điểm riêng
của
từng
dân tộc, không thể bắt chước một cách
máy móc. Với Việt Nam để
tiến
đến
đó sẽ phải qua những bước nào? Chuyển hóa,
diễn
biến
hòa bình hay bạo loạn lật đổ? Cách mạng nhung, cách
mạng
hoa lài hay diễn biến từ thượng tầng? Có nhiều phương thức nhưng chắc chắn điều tốt nhất là không
hay ít tốn xương máu, không gây nội chiến, không kéo
dài thù hận. Lê Hiếu Đằng
chọn
điều
này nên ông
đã đưa ra gợi ý thành
lập
đảng
mới
để đối lập với đảng cộng sản. Dĩ nhiên việc này
không phải là lối thoát
duy nhất cho tình
hình và chưa biết lúc
nào có thể được thực hiện nhưng đó là một gợi ý tốt và
khả
thi, ít ra
đối
với
những
đảng
viên cộng sản cấp tiến, khi họ có
đủ nhiệt tình, dũng cảm và
số đông cần thiết. Gợi ý này cũng
có thể “kích hoạt” hình
thành các tổ chức xã hội dân sự để từng bước xây
dựng
xã hội công dân
có khả năng kháng cự lại những lạm dụng của nhà cầm quyền.
Có lẽ
đã đến lúc những người cộng sản phải nghĩ
đến
khẩu
hiệu
“thay đổi hay là chết”. Tuy nhiên
người
dân không chỉ trông chờ vào sự thay
đổi
tự thân của nhà cầm quyền mà
người
dân cũng phải “thay đổi hay là chết”. Nếu đại bộ phận nhân
dân cứ thờ ơ, vô cảm hay cúi
đầu
chấp
nhận
những
bất
công áp bức đè
lên số phận mình thì
không ai có thể cứu được.
Từ khi cả nước quy về một mối, hai miền cùng dưới một chế độ, người dân Miền Nam không có “bề dày sợ hãi” lâu dài như dân Miền Bắc, nhưng lại có “cường độ sợ hãi” nặng nề hơn, vì thuộc phe chiến bại, dính líu
đến “ngụy
quân
ngụy
quyền”. Do đó, tuy thời gian trước, sống trong
chế
độ tương đối
có
tự
do dân
chủ,
người
dân
có
tinh thần phản kháng và đã được tập dượt, rèn luyện qua những cuộc đấu
tranh chống chính quyền, đến
giai đoạn này cũng
trở
nên
liệt
kháng,
không
khác
gì
người
dân
Miền
Bắc.
Thống nhất đất nước đã đi kèm theo với thống nhất nỗi sợ dưới chế độ độc tài toàn
trị.
Qua phân tích trên đây,
ta có thể thấy tại sao sự liệt kháng vì
sợ hãi
lại
có
thể
kéo
dài
đến thế. Sự sợ hãi càng
lớn,
càng
lâu
thì
chế
độ độc
tài
càng
được củng cố vì không có
ai dám chống lại. Tuy nhiên, niềm hi vọng của dân tộc vẫn còn vì tinh thần phản kháng
trong nhân dân chưa bị triệt tiêu hoàn toàn mà đã từng bước hồi sinh,
tuy có chậm chạp. Các tầng lớp nhân dân, từ trí thức, văn nghệ sĩ, chức sắc các tôn giáo, các “dân oan” bị cướp nhà cướp đất, sinh viên và bộ phận trí thức trẻ, cho đến các cán
bộ,
đảng viên có
tư tưởng cấp tiến trong guồng máy đã dần dần bộc lộ sự phản kháng đối với chế độ
độc tài toàn
trị,
ngày
càng
mạnh
mẽ hơn.
Những sự kiện trên đây
là
điều
nhiều
người
đã biết nhưng khi đặt vào sự phân
tích
theo quá trình thời gian giúp ta thấy rõ
hơn
ý nghĩa tích
cực
trong việc đấu
tranh chống độc
tài
toàn
trị.
Qua đó ta cũng thấy được
thực
chất
của
tình
hình
để không nóng vội, ảo tưởng hay thất vọng mà phải có cái nhìn
tỉnh
táo
và
thực
tiễn.
Sức
mạnh
tinh thần của một dân tộc đã bị chế độ độc tài toàn trị làm cho suy yếu trong một thời gian
dài
nên
sự hồi phục cũng
cần
có
thời
gian và những biện pháp thích hợp. Chỉ đến lúc dân
tộc
thoát
ra khỏi sợ hãi, biết và dám phản kháng trước cái xấu, cái ác, trước bất công
áp bức, lúc đó dân tộc mới có
thể
xóa
bỏ chế độ độc tài toàn
trị,
sống
như
những
con người
tự
do và
xây
dựng
được một đất nước văn minh trong cộng đồng nhân loại.
Góp ý Dự
Án Chính Trị Dân Chủ Đa Nguyên 2015
Quan niệm về quốc gia
dân tộc.
Đọan văn sau đây và
nhiều
đoạn
khác thể hiện quan điểm về vấn đề này
trong dự án:
“Cảm giác yên tâm trong sự gần gũi,
sự
lo sợ
cái lạ và người lạ, liên
hệ huyết thống, sự ràng buộc với lịch sử và văn
hóa cổ truyền, sự quyến luyến với mảnh đất quen thuộc, sự thoải mái
trong việc giao tiếp với những người cùng
một
tập
quán và nếp sống, v.v... tất cả đều trở thành không quan
trọng
và ngày càng
không quan trọng trong một thế giới cho phép
sự trao đổi trực tiếp và tức khắc, kể cả làm
việc
chung, giữa những con người ở hai đầu trái đất và trong
đó con người di chuyển và tiếp xúc
thường
xuyên, thu nhận hàng ngày đủ loại thông
tin, hình ảnh và ý kiến. Quả đất đã là
quê hương bé nhỏ chung của cả loài
người
và hạnh phúc cá
nhân đã trở thành
giá trị cao nhất. Những tình cảm truyền thống đã
đóng góp tạo ra tinh thần quốc gia
dân tộc ngày càng
bộc
lộ tính thủ cựu và hạn hẹp của chúng.
…
Trong các yếu tố cấu tạo ra quốc gia,
lãnh thổ không còn
giá trị tuyệt đối, con người có thể yêu
nước
và đóng góp
cho đất nước dù sống ở bất
cứ nơi nào. Di sản lịch sử, văn
hóa và ngôn
ngữ
cũng đã giảm tầm quan
trọng. Chính quyền cũng không quan
trọng. Quan niệm một tổ quốc thiêng
liêng mà mọi người phải phục tùng, tôn kính
và phục vụ một cách không
điều
kiện
lại
càng lỗi thời. Còn lại những con người và dự án
tương
lai chung, hai yếu tố cấu tạo của quốc gia mà
tầm
quan trọng ngày càng
tăng lên.”
Tôi nghĩ dù hiện nay là thời đại toàn
cầu
hóa nhưng cũng không vì thế xóa nhòa
được
ranh giới quốc gia. Trong một quốc gia, lãnh thổ và
ngôn ngữ vẫn luôn là
yếu
tố quan trọng hàng đầu. Lãnh
thổ
một
quốc
gia không thay đổi, trừ khi bị xâm
lược,
và đã được định hình
từ hàng trăm, hàng
ngàn năm. Những người sống trong lãnh thổ đó
chia sẻ
và ràng buộc với nhau
từ đất đai, rừng biển đến lịch sử, văn hóa,
tình cảm, gia tộc... không
dễ bị xóa nhòa. Ngôn
ngữ,
nhất
là đối với các dân
tộc
nói chủ yếu một thứ tiếng riêng biệt như Việt Nam, ít người thông
hiểu
các ngoại ngữ, lại càng làm
cho người ta gắn bó và
cần
thiết
nhau hơn.
Dĩ nhiên trong thời đại toàn cầu hóa,
với
phương
tiện
công nghệ thông tin hiện đại, người Việt ở khắp nơi trên thế giới vẫn có thể phục vụ cho
đất
nước
Việt Nam quê hương nhưng thử hỏi trừ thế hệ thứ hai, thứ ba hoàn
toàn hội nhập với đất nước sở tại (đã trở thành
công dân của nước khác, đa số không
nói được tiếng Việt hay nói không trôi chảy, không
hiểu
rõ lịch sử, văn hóa
VN, nếu
họ có giúp VN cũng
như
giúp
một
nước
nào đó ở châu Phi), thế hệ thứ nhất - những người Việt sống
ở nước ngoài có
thể
hội
nhập
được
không? Những người Việt sống ở các “
Little Saigon”, “Vietnam town” trên các nước mà không
rành ngoại ngữ có phải đã
co cụm
lại
trong cộng đồng của mình, hầu như không giao lưu được với dân bản xứ, nói
gì đến hội nhập. Ngay cả các trí
thức
giỏi
ngoại
ngữ,
làm việc trong các
cơ quan, công ty nước sở tại hàng
vài chục năm, có
thể
thân thiết và hiểu rõ
người
bản
xứ như đối với đồng hương không?
Những
người
này có mặc cảm “lưu vong” và
có
từng
mơ ước được một lần hay mãi mãi
trở
về nơi quê
hương
cố thổ khi điều kiện cho phép?
Những người dân nghèo khổ trong
nước,
ở vùng sâu vùng xa, các
dân tộc ít người, chiếm đa
số trong nước, có thể hội nhập vào
đâu trong thời đại toàn cầu hóa hay chỉ có
thể
sinh sống bình an trên mảnh đất quê hương ngàn đời? Ngoài ra trừ những trường hợp được quy
định
theo pháp luật của từng nước, có dễ dàng không
khi muốn nhập cư một nước khác? Liên Hiệp Châu
Âu hay các cộng đồng khu vực như Asian, các liên minh nhiều nước đã có chỉ mở rộng giao
lưu,
dễ dàng đi lại mua
bán làm ăn
nhưng
không
hề xóa nhòa ranh
giới.
Nhiều
nước
vẫn
hạn
chế
nhập
cư gắt gao và một số bộ phận dân
các nước phương Tây vẫn có tư tưởng kỳ
thị,
bài ngoại. Một số rất ít quốc gia bị tan vỡ hay giải thể vì
những
lý do chính trị, địa lý, xung đột sắc tộc bắt nguồn từ những nguyên
nhân tích tụ từ quá khứ chứ không phải tan rã
tự thân vì thiếu tinh
thần
quốc
gia dân tộc.
Do đó những quan điểm về quốc gia
đưa
ra trong DACT là những nét mới, thoáng,
giúp mở rộng tầm nhìn và
điều
chỉnh
những
hẹp
hòi trong chủ nghĩa dân tộc cực đoan
nhưng
không
nên
quá
cường
điệu,
đẩy
thành một thứ cực đoan mới. Xác
định
đúng đắn vấn đề này mới có
thể
đưa
ra những sách lược phù
hợp.
Đấu tranh có tổ chức.
Trích: “Để
giành thắng lợi dứt khoát trong
mặt
trận
tư tưởng và lý luận chính
những
người
dân chủ phải có tư tưởng và
lý luận đúng. Cố gắng đầu tiên
và quan trọng nhất là
thuyết
phục
những
người
muốn
đóng góp cho cuộc vận đông dân
chủ,
trí thức cũng như quần chúng,
rằng
đấu
tranh chính trị không bao giờ có thể là
đấu
tranh cá nhân cả mà luôn
luôn chỉ có thể là
đấu
tranh có tổ chức. Cuộc đấu tranh để chấm dứt chế độ độc tài đảng trị và
thiết
lập
dân chủ là một cuộc đấu tranh
chính trị rất khó khăn.
Nó phải có tổ chức, và
tổ chức không thể thành hình
nhanh chóng được mà đòi hỏi những cố gắng thông
minh và bền bị trong
rất
nhiều
năm. Nhưng xây dựng tổ chức là điều không
thể
tiết
kiệm.
Các chuyên gia, nhà bình luận, văn
nghệ
sĩ có thể đóng
góp với tư cách cá nhân những thông tin, lý luận và tình
cảm
có lợi cho cuộc vận động dân
chủ
nhưng
họ không đánh bại được chế độ độc tài,
đánh bại được chế độ độc tài hay không
là ở các tổ chức dân
chủ.
Chúng ta trân trọng những đóng góp đó
nhưng
cũng
phải
nhận
định
giới
hạn
của
chúng. Ngược lại những người này cũng
cần
nhìn thấy giới hạn của chính mình
và nhìn nhận sự cần thiết của tổ chức, ngay
cả nếu họ có những lý do riêng
để không tham gia
một
tổ chức nào. Đấu tranh chính
trị
mà không tham gia một tổ chức nào
phải
được
coi là một ngoại lệ chứ không
thể
là một thông lệ.
Vấn đề là
hiện
nay vẫn
còn nhiều người nghĩ rằng có
thể
đấu
tranh cho dân chủ mà không
tham gia một tổ chức nào cả. Một số còn tự hào
là không thuộc tổ chức nào, coi đó
là dấu hiệu của tinh thần khách
quan và đúng
đắn.
Họ cần được cảnh tỉnh rằng đây là một thái
độ rất sai, có hại cho
cuộc
vận
động
dân chủ và mâu
thuẫn
với
uớc
vọng
của
chính họ. Họ cần hiểu rằng đấu tranh chính
trị
cá nhân chỉ thực sự có
hiệu
quả
nơi
một
số rất ít người có uy
tín và trình
độ rất cao hoặc có địa vị rất đặc biệt, trong
gần
như
mọi
trường
hợp
tác dụng tích cực không
bằng
tác dụng tiêu cực là
đánh lạc sự chú ý khỏi cố gắng đúng
đắn
và cần thiết nhất, nghĩa là
xây dựng tổ chức dân chủ.” (3.2 Phần VII)
Đành rằng
đấu
tranh chính trị dứt khoát phải có tổ chức nhưng có nên bài
bác
một
cách cực đoan rằng những người tham
gia đấu tranh dân
chủ
bằng
hình thức riêng của họ, không
tham gia tổ chức đều là sai lầm, có
hại.
Không phải ai cũng muốn tham
gia tổ chức và cũng
không thể bắt buộc họ tham gia
tổ chức, đó là điều tự nhiên
và cũng là
thực
tế hiển nhiên của xã hội. Những tiếng nói
lên án, các
tác phẩm văn học nghệ thuật có
nội
dung phê phán mạnh mẽ, ở các chừng mực khác
nhau đều góp phần thức tỉnh quần chúng,
tạo
nên sự oán ghét
chế
độ độc tài, vậy có phải họ đã
góp phần vào cuộc vận động dân
chủ với 2 nội dung 1 và 2 của DACT này? Lên
án những người này cũng
không thay đổi được thực tế và chẳng khác nào
tự làm mình bớt đi
đồng
minh, làm yếu đi sức mạnh tổng hợp.
Phản biện và
phản
kháng với trí thức Việt Nam.
Trong lịch sử Việt Nam, nhiều
người
đánh giá trí thức chưa được hình thành như một tầng lớp có ảnh hưởng
quyết
định
đến
bước
tiến
của
xã hội. Thời phong kiến cũng
như
các
chế
độ sau này, sĩ
phu ngày xưa và trí thức ngày
nay chỉ
là tầng lớp thừa hành cho
vua chúa và những người cầm quyền. Họ không có
tiếng
nói quyết định và chỉ đóng
vai trò mờ nhạt. Thậm chí
còn có người chê
bai, dè bỉu là trí
thức
luôn hèn nhát và chỉ có
thân phận tôi đòi,
con hát cho các chế độ. Đây là
một
vấn
đề lớn cần phân tích và
bình luận thấu đáo.
Vì không chịu chỉ hót
trong lồng, từ phản biện, nhiều trí thức đã
chuyển
sang phản
kháng, bằng tư tưởng và cả hành
động.
Có người chỉ dừng lại trong việc phản biện nhưng có người đã
chuyển
sang phản
kháng dù phải trả giá đắt hơn. Những điều này dần dần đưa người cầm quyền vào
chỗ
mất
tính chính danh, bị cô lập và
mất
lòng tin của quần chúng khi
quần
chúng dần được thức tỉnh. Những khẩu hiệu sáo rỗng về vai
trò của trí thức trong
các cương lĩnh, nghị quyết của đảng không
còn chút giá trị thuyết phục nào khi
thực
tiễn
hoàn toàn ngược lại.
Năm 2005, khi thăm Tháp Bút ở hồ
Hoàn Kiếm Hà Nội, tôi
có cảm hứng để viết bài “Tả thanh
thiên” (đăng ở diễn
đàn talawas) cũng nói về vai trò
của
trí thức trong việc “tả thanh
thiên” – viết lên trời xanh.
Ngòi bút viết lên trời xanh chỉ có
thể
là viết về nỗi thống khổ của con người, về sự hà khắc tàn
bạo
của
thế
lực
cầm
quyền.
Viết
lên trời xanh là
để kêu gào. Viết lên
trời
xanh là để gởi tới con người và
gởi
tới
mai sau khi
ngòi bút, những người cầm bút bị kềm hãm, phong
tỏa.
Viết
lên trời xanh là
hành động can đảm của người cầm bút chống lại chế độ độc tài
thống
trị.
Ở đây tôi muốn nói thêm:
Giá trị của trí thức là
ở tư
tưởng,
tiếng
nói, ngòi bút tự do. Nếu trí thức chỉ im
lặng
như
bầy
cừu,
chỉ
đi dọc “lề bên phải” theo
chiếc
gậy
của
người
chăn, lúc đó trí thức đáng
bị xem như hạng tôi đòi.
Nhà cầm quyền nếu không biết tôn
trọng,
lắng
nghe tiếng nói của trí
thức
(thực
sự là “nguyên khí
quốc
gia” chứ không phải chỉ là
khẩu
hiệu
suông và lời nói giả dối), trong thời đại toàn
cầu
hóa và kinh
tế
tri thức
này, sẽ chỉ đưa đất nước và
dân tộc đến chỗ lạc hậu, tù hãm
và đau khổ kéo
dài.
Hiện
nay bao nhiêu
người
đã suy tư và hành động tìm một giải pháp
cho đất
nước
và
vấn
đề phải giải quyết đầu
tiên
chính
là
Đảng. Nếu không
muốn
hoặc
không
thể
xóa
bỏ vai trò của Đảng, nếu không muốn hoặc không thể tạo ra bạo loạn, lật đổ, chỉ có hai cách:
Hoặc
làm
cho Đảng bớt xấu hơn, phải “tự chuyển hóa, tự chuyển biến”
theo chiều ngược lại với đà suy thoái hiện nay.
Hoặc
dùng
sức
ép của đại
bộ phận nhân
dân
buộc
Đảng phải thực hiện ý chí và khát vọng của người dân.
Nhận
định “nhân
dân
nào,
chính
quyền
đó” phản ánh thực tế của lịch sử ở
mọi
quốc
gia, mọi thời đại.
Trí
thức
thường
được đánh giá và cũng tự cho là tinh
hoa của dân tộc, dẫn lối cho dân tộc. Muốn làm
được điều
này,
trong tình huống cực đoan hiện nay và trong
câu
chuyện
liên
quan đến giáo sư Chu Hảo, phải chăng mỗi trí thức, nhất là trí thức đảng viên, không thể từ chối câu trả lời và quyết định thái độ
của
mình.
Chuyện tình của trí
thức
với
Đảng
Nếu
thừa
nhận
có
một
thứ
lý
tưởng
gọi
là
“lý tưởng cộng sản” và có những người gọi là “cộng sản chân chính”, khác với các đảng cộng sản, chủ nghĩa cộng sản, chế độ cộng sản ở những nước độc tài toàn
trị
mà
lịch
sử đã chứng minh là tội ác của nhân loại, đáng vứt vào sọt rác
lịch
sử,
thì
cách
nhìn
nhận
vấn
đề vào đảng, bỏ đảng sẽ đầy
đủ, sâu sắc hơn và có thể mở ra một hướng đi. Khái niệm này có lẽ sẽ gây ra rất nhiều tranh cãi và ý kiến nghịch chiều.
Đảng CSVN hôm nay rõ
ràng
không
còn
gì
chung cùng với những người cộng sản chân chính như thế cả. Nếu không có sự phân ly, tất cả lý
do đều không còn
chính
đáng hay được
biện
minh.
Dù thế nào, cho đến tận hôm nay, tôi
vẫn
còn
bị lôi
cuốn
bởi
lời
bài
Quốc
tế
ca:
“Vùng lên hỡi các nô lệ ở thế gian.
Vùng lên hỡi ai cực khổ bần hàn”
Bao nhiêu người trên
trái
đất này còn
bị đọa đày. Ở
Việt
Nam, người
dân
bị bóc
lột,
cướp
đoạt
đến cùng quẫn không
những
chỉ
bởi
bộ máy
cường
quyền
và
các
nhóm
lợi
ích trong giai
cấp
thống
trị
mới
mà
còn
bởi
không
ít các doanh nghiệp tư bản ngoại quốc chỉ vì
lợi
nhuận.
Tuy nhiên tôi không đồng ý với câu “Bao nhiêu lợi quyền tất qua tay mình” hẹp hòi ích kỷ và càng không đồng ý
“Đấu tranh này là
trận
cuối
cùng”. Cuộc đấu tranh
không
bao giờ
kết
thúc
khi còn loài người, còn bất công áp
bức
nhưng
nên
là
cuộc
đấu tranh
không
đổ máu và hận thù chứ không phải bằng chuyên chính vô sản, đấu
tranh giai cấp và
bạo
lực
cách
mạng
đầy máu và
nước
mắt
như
các
Đảng Cộng sản đã tiến hành nhưng không bao giờ thực hiện được lý tưởng cộng sản.
(20/11/2018)
Dấu ấn suy
tư và
kỷ niệm với trang web Bauxit
Tôi vẫn tiếp nối cuộc hành trình của mình
và Bauxit rõ ràng đã
là nơi tiếp sức đúng lúc
cho talawas, nơi tôi
đặt niềm tin và
trao gởi suy tư của người cầm bút
trước
những
vấn
đề thời cuộc sát sườn cũng như những vấn đề có
tính chiến lược cho cuộc đấu tranh
vì một ngày mai
tự
do cho đất nước.
Trong vài
năm liên tục, những bài viết của tôi tập trung
vào mấy chủ đề: Vai trò của trí
thức,
cuộc
chiến
chống
Trung Quốc xâm lược, về phong
trào sinh viên học sinh và
sự hiệp đồng chiến đấu giữa các thế hệ.
Một
trang web không là
gì
cả nếu người ta không
truy cập tới nhưng nếu trang web đó có sức thu hút lớn, mang lại được
điều
gì
quan trọng trong hành trang tinh thần và sự thức tỉnh của dân tộc, đó chính là một viên đá lót đường vững chắc trên con đường dân chủ hóa
và
phát
triển,
một
ngọn
hải
đăng cho những con tàu đang vật vã trên đại dương mênh mông sóng dữ.
Một trải nghiệm về dạy và học môn Việt văn
ở Miền Nam trước 1975.
Chương trình mỗi lớp do Bộ Giáo dục ấn định, có
tích
cách
rất
tổng
quát,
chỉ
quy định lớp nào học các tác giả nào, thời kỳ văn học nào, mỗi phần học mấy tuần hay mấy tháng. Không có “sách giáo khoa pháp
lệnh” của nhà nước mà chỉ có một số sách do tư nhân,
là
các
giáo
sư dạy văn
biên
soạn,
bán
trên
thị
trường.
Các
sách
này
cũng
chỉ
dùng
để tham khảo, vì mỗi giáo sư phải tự soạn lấy bài
giảng
của
mình.
Giáo
sư phải sử dụng kiến thức học ở đại học, nghiên cứu tìm tòi thêm để
soạn
bài,
không
những
để đạt
yêu
cầu
theo chương trình mà còn mang dấu ấn cá nhân của người soạn. Một giáo sư tài hoa sẽ có
những
bài
giảng
tài
hoa, uyên bác, gây ấn
tượng
mạnh
trong nhiều thế hệ học sinh.
Thời
gian quy định giảng dạy cho
các
phần
trong chương trình mỗi lớp chỉ có tính cách tương đối,
giáo
sư có
thể
“du di” theo ý mình, miễn là
cuối
năm
hoàn
tất
chương
trình,
nhất
là
các
lớp
cuối
cấp
phải
đi thi. Tôi có
thể
dành
đến 3 tháng
để dạy về truyện Kiều, gấp đôi thời gian
quy định, để gởi gắm thêm tâm
trạng
và
những
suy tư của mình về định mệnh và kiếp người. Thích tinh thần phản kháng, ngang tàng và tài hoa của Cao Bá Quát, tôi
dành
thời
gian gấp đôi thời gian
dành
cho Nguyễn Công
Trứ
dù
hai tác giả này được quy
định thời gian
tương
đương. Có
thể
nói
tôi
đã tung hoành trong bài
giảng
của
mình,
thể
hiện
mình
thông
qua các
tác
giả.
Đặc biệt trong
những
lớp
ban C, tức
ban văn
chương
ở đệ
nhị
cấp
(cấp
3), mà
học
sinh cũng là những cô cậu mới lớn có tâm hồn lãng mạn, thích văn chương theo học, thầy trò lại càng đi sâu vào những khía cạnh tâm lý phức tạp của nhân vật chứ không phải chỉ là những kiến thức giáo khoa. Đó cũng là
một
phần
của
quan niệm “dạy văn tức là
dạy
người”. Người dạy người không phải dễ, dù đó là
giáo sư văn chương được
đào tạo bài bản. Người dạy không những có kiến thức mà còn phải có lý tưởng, nhân cách, am hiểu sự mong
manh tế nhị, nhạy cảm của tâm hồn và sức thuyết phục toát ra không
chỉ từ bài
giảng
mà
còn
từ toàn
bộ cuộc sống của mình.
Lúc mới ra trường, tôi dành
cả nửa tháng
trời
để suy nghĩ và chuẩn bị cho
giờ
học
đầu tiên ở mỗi lớp. Không có
chuyện
quy định giờ nào phải dạy bài nào, dạy không xong sẽ “cháy
giáo
án”. Giờ học đầu tiên là
cách
“trình diện”
trước
học
sinh, thế hệ đàn em,
về lý
tưởng,
hoài
bảo
và
phương
pháp
của
một
giáo
sư văn
chương.
Đó là tâm tình của một người đàn anh
trong 4 năm đại học đã trải qua nhiều biến động và trưởng thành trong những sóng
gió
của
đất nước thời chiến. Thời kỳ đó đã tác động mạnh vào tuổi trẻ học đường, buộc những chàng trai trẻ sinh viên không chỉ biết học, bạn bè, yêu đương mà còn suy tư, đối diện với những vấn đề lớn của đất
nước
và
dấn
thân
bằng
hành
động. “Giây
phút
đầu tiên” này không
chỉ
đầy xúc động đối với người thầy mà cũng còn
là
những
giây
phút
khó
quên
đối với học sinh
mà
họ vẫn còn
lưu
giữ
trong ký ức,
mãi
đến mấy chục năm sau vẫn còn được nhắc lại khi thầy trò gặp nhau
và
đầu đều đã điểm bạc. Và những khi thầy trò đều chán nản, uể oải vì
một
lý
do nào
đó, thầy sẵn sàng ngưng dạy bài học để cùng nhau nói chuyện đời.
Đôi khi những câu chuyện này
lại
có
ích cho cả thầy và trò hơn những kiến thức giáo khoa khô
chết.
Nếu
chỉ
bám
vào
giáo
khoa làm
sao đối
diện
được với cuộc sống hiện tại mới mẻ và muôn vàn
biến
động. Đôi khi chính những giờ phút
“phi chính thống” này lại mang đến
hứng
thú,
sức
hấp
dẫn
cho những giờ dạy và học văn chương.
Khi được học sinh
tin cậy
trao gởi những điều trọng đại
trong cuộc đời,
người
thầy
phải
luôn
tự vấn mình
phải
làm
gì
để xứng đáng với sự tin cậy đó.
Vì tất cả những điều trên và những gì tương tự, có lẽ hình ảnh một giáo sư văn chương trong mắt học sinh có cái
gì khá đặc biệt. Đó là hình ảnh một người thầy có sức hấp dẫn bởi sự uyên bác, tài hoa và
có
chất
lãng
mạn
– nghệ sĩ. Những bài
giảng
về văn
chương
là
bài
giảng
về tâm
hồn,
về cảnh ngộ con người trong nhiều hoàn cảnh sống, về nhân sinh quan, về nghệ thuật thơ văn đi
vào
lòng
người
chứ
không
phải
chỉ
là
kiến
thức.
Kiến
thức
có
đầy trong
sách
nhưng
truyền
được ngọn lửa cho
thế
hệ trẻ đòi hỏi người thầy phải có tài năng đặc biệt trong nghệ thuật thuyết phục và giáo dục.
Suy niệm về cuộc đời.
Chương một: Nhìn lại bản thân
Cá nhân
Tôi là ai? Tôi
từ đâu đến?
Tôi
sẽ đi về đâu? Những câu
hỏi
mà
triết
học
và
từng
con người
đã đặt
ra từ muôn thuở nhưng vẫn không thôi tìm kiếm câu trả lời.
Đối
với
mỗi
người,
có
lẽ cái
tôi
đáng yêu và đáng quý nhất. Tôi có mặt. Tôi nhận thức. Tôi hành động. Tôi hưởng thụ. Tôi khao khát. Tôi
cống
hiến.
Tôi
yêu
thương.
Tôi
thù
hận.
Tôi
chiến
đấu... Không
có
tôi
sẽ không
có
gì
cả,
không
có
tất
cả.
Vậy
thì
cái
tôi
là
căn
bản
nhất,
lớn
lao nhất, đáng yêu đáng quý nhất.
Nhưng cái tôi cũng quá nhỏ nhoi và vô nghĩa. Tôi
chỉ
là
một
cá
thể
trong hàng tỉ tỉ người đã có mặt và mất đi trên hành
tinh này. Có người còn lại chút lưu vết trong lịch sử. Vô số người mất tăm tích
trong cát bụi thời gian. Ngay bây
giờ
hay một
ngày
tháng
nào
đó gần hay xa tôi sẽ chết đi. Điều
đó hoàn toàn chắc chắn. Một đám tang. Mấy dòng
cáo
phó.
Những
giọt
nước
mắt
của
người
thân.
Vài
kỷ niệm được gợi lên trong bạn bè. Rồi tất cả sẽ qua, qua đi
nhanh chóng như chưa từng xảy ra. Tôi không
để lại gì và cũng không mang theo được gì.
Đó là mâu
thuẫn
lớn
lao đầu
tiên
và
vĩnh
viễn
của
từng
cá
nhân
cứ mãi
mãi
sinh thành và hủy diệt.
Một
số ít người trở thành vĩ nhân và điều họ làm được không phải chỉ do chính
họ,
dĩ
nhiên
do cá
nhân
họ là
chủ
yếu,
nhưng
cũng
có
sự góp
sức
của
những
người
chung quanh bằng cách
này
hay cách
khác.
Có
thể
là
cha mẹ,
anh em, bạn bè, những người giúp
đỡ trong lúc khó
khăn,
những
người
tạo
điều
kiện
cho tài năng
họ phát
triển.
Ta chịu
ơn họ và họ cũng chịu ơn ta, những con
người
vô
danh. Ta ngưỡng mộ họ nhưng ta không tự hạ mình thành những tên nô lệ hèn kém.
Tôi ơi, hãy
lựa
chọn
cho mình một con đường, một cách thế sống trước khi quá muộn.
Gia đình
Hầu
hết
mọi
người
đều từng sống trong
một
gia đình và có kinh
nghiệm
bản
thân
về gia đình. Đó là kinh nghiệm sâu
xa nhất
của
mỗi
người
vì
nó
bắt
đầu từ khi
ta lọt
lòng
cho đến
khi ta chết đi, kể cả những lúc
ta không
sống
trong gia đình.
Kinh nghiệm về gia
đình rất riêng tư, phong phú và đa dạng. Những cảm nhận về yêu thương, hạnh phúc, đau khổ, cô đơn, thù hận và mọi sắc thái tình cảm khác đều có thể phát sinh và
tồn
tại
trong một gia đình.
Gia đình chiếm một nửa đời ta nhưng gia đình không là
tất
cả cuộc sống.
Trong gia đình còn có bản thân, ngoài gia đình có bạn bè, công việc, sự nghiệp , xã hội mà ta phải dành bao nhiêu thời gian, sức lực và tâm huyết. Để cuộc sống gia
đình hòa hợp với cuộc sống xã hội cũng là một nghệ thuật trên cơ sở có quan điểm
đúng đắn.
Gia đình vừa cụ thể, vừa trừu tượng, là một gánh nặng nhưng đừng để nặng đến oằn lưng, thậm chí gẫy xương sống. Gia đình là tổ ấm, là
nơi
dịu
dàng
để ta có thể trở về sau những lúc căng
thẳng,
mỏi
mệt,
thất
bại
trong cuộc sống lớn chứ không phải làm ta phát điên
lên
vì
lại
rơi
vào
sự căng
thẳng,
xung đột gay gắt hơn. Gia đình tạo cho ta sức mạnh và niềm tin để đi tới, vượt qua những khó khăn trở ngại chứ không
phải
làm
ta thêm
tuyệt
vọng
để tròng vào cổ mình một sợi dây oan nghiệt
hay dốc
hết
một
lọ thuốc vào
mồm.
Có gia đình
nhưng
cũng
có
thể
không
có
gia đình tùy người ta lựa chọn hay số phận bắt buộc. Không
gia đình là cô đơn và tự do, tự do trong
cô
đơn và cô đơn để tự do. Không gia đình nhưng không cô đơn nếu lựa chọn và chấp nhận được
cả trần gian là gia đình. Gia đình là chia sẻ và
ràng
buộc.
Chia sẻ
sâu
xa và
ràng
buộc
nặng
nề có
thể
mang lại hạnh phúc hay bất hạnh hoặc cả hạnh phúc và
bất
hạnh.
Điều
đó tùy thuộc vào nghệ thuật sống, trên tất cả là tình yêu thương vẫn nồng nàn sau khi trải qua mọi ngọt bùi cay đắng.
Bằng hữu.
Người
bạn
đích thực là ai? Đó là người thân không
cùng
máu
mủ nhưng có
thể
chia sẻ
với
ta mọi
điều,
đôi khi còn dễ dàng
thoải
mái
hơn
với
cha con, vợ
chồng,
anh em. Có bạn làm cho tình người và cuộc đời
thêm
nồng
ấm, giúp ta bớt cô đơn trong kiếp làm người.
Nói ‘người bạn đích thực”
nghĩa
là
có
nhiều
loại
bạn
và
trong số đó chỉ có một hay vài loại, một hay vài người được
coi là bạn chân chính.
Đáng buồn thay cho
những
ai không
có
bạn
chân
chính,
không
là
bạn
chân
chính.
Nhưng
trong thời đại
này,
làm
người
bạn
chân
chính
không
phải
dễ.
Những
gì
ta mong ước,
đòi hỏi ở người bạn chân
chính
là
những
gì
hơi
tuyệt
đối mà cuộc đời lại rất tương đối. Bạn và
cả chính
ta cũng
có
lúc
yếu
đuối
nhỏ
nhen. Không phản bội nhưng đôi khi
hèn
nhát.
Không
ích kỷ nhưng chưa đủ vị tha.
Không
hẹp
hòi
nhưng
chưa
đến mức bao dung. Không
thành
kiến
nhưng
mang mầu sắc bảo thủ... Bạn chịu nhiều chi phối khác khi quan hệ với ta và ta cũng vậy. Bạn chưa phải tất cả vì ta và ta cũng chưa phải tất cả vì bạn.
Đó chính là
sự không
hoàn
hảo
của
cuộc
sống.
Đành vậy thôi. Dù sao nên
mở lòng
để đón chờ người bạn chân chính,
phấn
đấu để trở thành người bạn chân chính và cố hết sức giữ gìn tình bạn chân chính đến suốt đời.
Tình bạn chân chính không biên cương, không phân biệt giai cấp, tôn giáo,
mầu
da, quốc
tịch
hoặc
bất
cứ sự phân
biệt
nào.
Tình
bạn
chân
chính
là
những
viên
kim cương quý giá mà mọi người đều
có
thể
thủ
đắc trong
cuộc
sống.
Tình yêu.
Khi nói đến tình
yêu,
ta thường
nghĩ
đến tình yêu
trai gái. Phải. Vì tình yêu trai gái
là
tự nhiên,
mãnh
liệt,
sôi
nổi,
nồng
nàn
nhất
có
thể
có
ở mọi lứa tuổi từ lúc dậy thì.
Đó là sự khao khát người khác phái với cả thể xác và tâm hồn. Trong đời, người ta có thể chỉ yêu một lần, một người hay yêu nhiều lần, nhiều người. Sự rung động trong tình yêu
làm
ta cảm
nhận
được hạnh phúc khi cảm thông, chia sẻ và hòa hợp với một người khác
phái.
Dù
sau đó trải qua bất cứ điều gì, hồi tưởng lại, tình yêu này vẫn là cái gì đẹp đẽ nhất trong
cuộc
đời. Đừng bao giờ, vì
bất
cứ lý
do nào,
làm
hoen ố tình yêu này để
trở
thành
kẻ bất hạnh.
Vượt
lên
tất
cả,
lớn
lao hơn tất cả là Tình Yêu Vũ Trụ, Tình Yêu Thượng Đế, hiểu như cái gì
là
căn
nguyên,
là
năng
lực
sáng
tạo,
là
ý thức tối cao
và
vô
biên
chi phối
toàn
thể
vũ
trụ.
Tình
yêu
này
khó
đạt đến vì nó vượt lên trên
nhận
thức
thường
nhỏ
bé
hữu
hạn
của
con người.
Tình Yêu Vũ Trụ chi phối và điều
hướng
mọi
tình
yêu
khác,
giải
quyết
sự mâu
thuẫn
giữa
các
tình
yêu
khác.
Khi hiểu
rằng
mọi
vật
đều là biểu hiện của Đấng Tối Cao, của Ý Thức Sáng Tạo Vĩ Đại thì Tình Yêu
Lớn
Thực
Sự sẽ chan hòa. Người ta không những chỉ yêu người yêu, yêu những con người nhân hậu mà còn yêu những kẻ độc
ác, yêu một con chim và
một
con kiến,
yêu
một
cành
hoa và một ngọn cỏ, yêu mặt đất
và
yêu
bầu
trời,
yêu
các
tinh vân lấp lánh trong vô
số giải ngân
hà
trùng
điệp.
Tình Yêu Vũ Trụ chỉ có được và khởi phát khi ta quay hướng vào nội tâm, xuyên phá được sự vô minh đang trùm phủ để băng vào,
hòa
nhập
với
cõi
vô
cùng.
Chính
tình
yêu
này
mới
là
tương
lai của một nhân loại và vũ trụ hòa bình và hạnh phúc như con người vẫn thường mơ ước.
Cô đơn
Có phải tự bản chất con người là cô đơn. Cô đơn là định mệnh của kiếp người. Tôi sinh ra một mình và chết đi một mình, dù
có
sinh đôi
sinh ba hay chết tập thể trong một tai nạn, tôi vẫn là sống chết một mình.
Khi cô đơn tôi
cảm
thấy
lẻ loi, yếu đuối và khao khát người khác,
có
thể
là
người
thân
yêu
hoặc
bất
cứ
ai. Tôi
muốn
có
người
bên
cạnh,
tôi
muốn
nghe, muốn thấy, muốn cảm nhận, muốn ôm ấp, muốn hít thở mùi da thịt con người và thấy người khác xiết bao quan trọng và cần thiết.
Đôi lúc tôi muốn đắm chìm trong cô đơn, nghiền ngẫm, gậm nhấm nỗi cô đơn của mình như một lạc thú đau thương. Tôi can đảm đối
diện
với
chính
tôi,
nhìn
rõ
chính
tôi,
tự thương mình
và
thấy
mình
cao cả. Tôi không sợ cô đơn. Cô đơn là lò luyện bản thân tốt nhất.
Nếu
tôi
biết
tin tưởng,
tôi
không
bao giờ
cô
đơn. Một vị thầy tâm
linh Ấn
Độ nói: ‘Bạn không bao giờ cô
đơn và không được giúp đỡ. Lực
hướng
dẫn
các
vì
sao cũng sẽ hướng dẫn bạn.” Và lúc đó “Tôi không bao giờ cô đơn. Cái
vĩ
đại luôn ở cùng tôi.”
Hận thù.
Hận
thù
là
tình
cảm
đáng sợ nhất của con người. Con người có thể hành hạ, chà đạp, tiêu diệt nhau không chút
tiếc
thương
khi sự thù hận nổi lên. Sự thù hận chi phối, che mờ tất cả những gì được coi
là
cao quý trong con người để dành chỗ cho cái ác, sự tàn bạo thống trị.
Hận
thù
bắt
nguồn
từ những điều
có
lý
và
phi lý,
từ những việc nhỏ nhặt cho đến
những
chuyện
lớn
lao.
Làm thế nào để
hóa
giải,
chấm
dứt
hận
thù
là
câu
hỏi
bao lần
được đặt ra
và
làm
quặn
thắt
những
tâm
hồn
nhân
bản.
Nhà Phật nói: “Lấy oán báo
oán,
oán
oán
chập
chồng.
Lấy
ân báo oán, oán oán tiêu tan.” Đạo
Thiên
chúa
khuyên:
“Hãy
yêu
thương
kẻ thù.” Một giải pháp rất đúng nhưng ít người thực hiện được và đó lại là giải pháp duy nhất khi oán thù đã khởi phát.
Có lẽ cần phải đặt
vấn
đề từ trước khi có hận thù , làm
sao không có hận thù. Nếu không có người làm điều ác, gieo rắn hận thù thì sẽ không có
hận
thù,
không
cần
giải
quyết
hận
thù.
Nếu
con người
thực
sự nhân
ái sẽ không làm tổn thương đến
đồng loại. Nếu con người nghĩ đến hậu quả khi
gây
ra oán thù sẽ không dám gây thù chuốc oán. Nhưng tất cả chỉ là “nếu”. Hận thù đã và vẫn sẽ xẩy ra,
đã và sẽ tiếp tục làm hoen ố bộ mặt và lịch sử con người.
Muốn
thoát
khỏi
hận
thù,
cao hơn là muốn “lấy ân báo oán”, “yêu thương kẻ thù”, con người có thể làm được khi tìm kiếm nơi chính
mình,
đòi hỏi nơi chính mình lòng bao dung và tha
thứ.
Trong mỗi
người
có
thuốc
chữa
cho mọi căn bệnh thể xác và tinh thần. Nhưng tìm
kiếm
bản
thân
đôi khi còn khó
hơn
tìm
trầm
trong rừng sâu, tìm vàng dưới đáy biển hay khám phá
các
hành
tinh khác.
Bao dung.
Tôi là một cá thể đơn lẻ và duy nhất, không
giống
ai. Tôi
có
quá
trình,
hoàn
cảnh,
trình
độ, cách nghĩ, cách sống riêng có thể khác biệt với mọi người, kể cả cha mẹ, anh em,
vợ chồng, người yêu,
bè
bạn.
Tôi
muốn
là
tôi,
không
bị đồng hoá, phục tùng
ai khác.
Vậy
tại
sao tôi lại muốn người khác phải nghĩ, sống như mình. Tại sao tôi không
thể
chấp
nhận
sự khác
biệt
nơi
người
khác.
Tôi
cần
mở lòng
ra. Tôi không thể khắt khe độc đoán.
Chừng
đó tôi mới có thể cười với người và được người cười lại chứ không phải giơ nắm đấm
vào
mặt
người
để nhận lấy một đòn giáng trả.
Bao dung là nhận thức, là
tình
cảm,
là
giải
pháp
và
chính
là
một
cuộc
đấu tranh
với
bản
thân.
Nhiều
người
có
thể
hiểu
được giá trị của bao dung nhưng tự mình
không
làm
được. Bao dung là
chấp
nhận
sự khác
biệt.
Bao dung là
mở lòng
ra. Bao dung là không hận thù.
Bao dung là
tha thứ. Bao dung là miễn xá cho người.
Bao dung cũng
là
nâng
cao và tự cứu bản thân.
Chỉ có bao dung mới có
thể
cứu
mỗi
người
và
nhân
loại
khỏi
bị hủy diệt vì
sự xung đột
và
hận
thù.
Đấu tranh.
Đấu
tranh có đi
ngược
lại
bao dung không?
Câu
hỏi
có
thể
làm
một
số người phân
vân
vì
ngay trong từ ngữ, đấu tranh
đã mang ý niệm đối kháng, xung đột.
Trước
hết
và
quan trọng nhất là đấu tranh với chính bản thân.
Trong mỗi
người
đều có mầm mống, xu hướng của thiện và ác, chính và tà. Luôn luôn có sự mâu thuẫn, xung đột giữa hai
chiều
hướng
này
và
ai cũng
có
thể
trở
nên
cao cả hay đê hèn hay cùng lúc
mang hai bộ mặt của thiên
thần
và
quỷ
sứ.
Đấu
tranh khi tối cần thiết phải bằng vũ
lực
nhưng
tốt
nhất
là
không
dùng
vũ
lực,
không
gây
đổ máu và thực hiện bằng những phương thức hòa bình. Đó là đấu tranh
vì
lý
tưởng
và
không
nuôi
thù
hận.
Đấu tranh
không
phải
để trả thù rửa hận, gây thêm oán, chuốc thêm thù mà để
xây
dựng
một
xã
hội
tốt
đẹp hơn. Đấu tranh
không
đi ngược lại lòng bao dung mà vì sự bao dung, chính
là
sự
bao dung. Đấu
tranh để
ngăn
chặn
điều
xấu
– ác
chứ
không
phải
để hủy diệt con người.
Xét cho cùng,
đấu
tranh chính là cách sống, lẽ sống của mỗi người khi con người và
xã
hội
còn
bất
toàn
và
những
điều
xấu
– ác
vẫn
còn
ngự
trị.
Hạnh phúc.
Có vô vàn
quan niệm, sắc thái về hạnh phúc. Có hạnh phúc bé mọn tầm thường và hạnh phúc cao cả. Có
hạnh
phúc
chóng
tàn
và
hạnh
phúc
dài
lâu.
Có
hạnh
phúc
vị kỷ và
hạnh
phúc
vị tha.
Dù sao không nên
vì hạnh phúc của mình mà làm tổn thương, thậm chí tước đoạt, chà đạp hạnh phúc của người khác, lúc đó hạnh phúc chỉ là
sự thỏa mãn
phi nhân
và
độc ác.
Xét cho cùng, hạnh phúc là
cho nhiều hơn nhận. Hạnh phúc lớn nhất là mang lại hạnh phúc
cho người khác. Hạnh phúc nằm trong tầm tay
của
mỗi
người
nếu
có
quan niệm đúng đắn và biết sống vì những giá trị cao
đẹp.
Hạnh phúc thực sự chỉ có trong hòa
bình
và
tình
yêu
thương.
Sám hối.
Mới
nghe, đôi
khi ta tưởng chừng như sám hối chỉ là một khái niệm và việc làm của các tôn giáo. Nhưng nếu sám hối là phản tỉnh, ăn năn về những sai lầm, tội lỗi của mình đã phạm thì đó lại là công việc của mọi người.
Thường
người
ta hay sám
hối
lúc
thất
bại
hay về
già.
Điều
đó cần thiết nhưng hơi muộn. Dĩ nhiên muộn còn hơn không nhưng như thế tốt hơn là nên sám hối trong mọi lúc.
Sám hối là tự vấn thường xuyên về những sai trái và biết nhận lỗi về mình. Đó là cách tốt nhất để hoàn thiện bản thân. Tự biện minh, đổ lỗi cho người khác chỉ làm
người
ta trở
nên
kiêu
căng
và
độc ác. Chính sự sám hối mới giúp con người gần nhau,
thông
cảm,
hòa
hợp
với
nhau hơn. Ai cũng có thể phạm sai lầm và đôi khi phạm tội ác, vì vô tình hay cố ý, nên sám
hối
đối với ai cũng cần thiết. Đó chính là phương cách nhận lỗi và sửa lỗi chân thành và tự giác, không phải do bị ép buộc.
Sám hối trước tiên đó là vấn đề của cá nhân nhưng cũng còn là vấn đề của tập thể, trên nhiều lãnh
vực,
đặc biệt trong
những
vấn
đề tư tưởng và liên quan đến số phận của hàng triệu triệu người.
Từng người phạm tội ác nhỏ nhưng một tập đoàn,
một
băng
đảng, một giáo
phái,
một
quân
đội, một dân
tộc
có
thể phạm tội ác lớn hơn. Lịch sử loài người đã có biết bao trang bi thảm đẫm máu vì
những
cuộc
xung đột, tàn sát dù những người trong cuộc có thể tự giác hay không.
Phải
xem xét lại những tư tưởng, giáo điều, chủ nghĩa,
luật
lệ,
chế
độ nào tưởng rằng mang lại tự do, hạnh phúc nhưng thực tế chỉ đem đến
nô
lệ,
áp bức, bất hạnh cho con người trên
bao nhiêu
quốc
gia, ở bao nhiêu thời kỳ lịch sử.
Những
ai đã từng tin tưởng, tuyên truyền, ngợi ca, hiến thân, hành động cho những sai
lầm
đó không thể không sám hối và ăn
năn
sửa
chữa.
Chiến thắng thực sự là thành công không có tội ác và không mang mầm hủy diệt.
Tuổi trẻ và tuổi già.
Khi còn trẻ, người ta ít khi hoặc không bao giờ nghĩ
đến tuổi già nhưng về già người ta thường hồi nhớ về tuổi trẻ.
Tuổi thanh xuân là
thời
kỳ
đẹp nhất của đời người. Tuổi trẻ như hình ảnh một cánh chim tự do
chao liệng
trên
bầu
trời.
Tuổi
già
không
nhất
thiết
hoàn
toàn
trái
ngược
với
tuổi
trẻ
nhưng
tuổi
tác,
sự từng trải, sự chín
chắn,
những
ràng
buộc
làm
cho người ta khôn ngoan, già
dặn
và
thận
trọng
hơn,
đôi khi hèn nhát
và
xấu
xa hơn.
Tuổi
trẻ
nhiều
ưu điểm, cũng lắm khuyết điểm nhưng về già bao giờ người ta cũng tiếc nuối tuổi trẻ vì
nét
đẹp hồn nhiên vô
tư và
sức
sống
mãnh
liệt
mà
tuổi
già
không
thể
nào
có
được.
Tuổi
già
thích
hồi
tưởng
về quá
khứ
vì
quá
khứ
thường
đẹp và phong
phú,
hiện
tại
nghèo
nàn
buồn
tẻ và
tương
lai hầu như không còn gì.
Dĩ nhiên không phải người già nào cũng như thế. Có những người già luôn trẻ trung và sống như không bao giờ chết, vẫn từng ngày
phấn
đấu thực hiện ước mơ lý tưởng của mình cho đến hơi thở cuối cùng dù
bị tuổi tác
hạn
chế
rất
nhiều.
Sống là một nghệ thuật tinh tế, cao
quý
và
khó
khăn
nnất
trong mọi nghệ thuật. Sống đẹp
là
sống
vì
những
giá
trị
cao đẹp
dù
ở bất cứ lứa tuổi nào. Con người chỉ có
một
cuộc
đời để sống hay tưởng rằng như vậy nên sống như thế nào là chọn lựa thường xuyên và lớn nhất trong cuộc đời.
Tự do.
Con người sinh
ra trong tự do và
chết
đi trong tự do, có phải vậy không? Không.
Phần
lớn
con người
không
biết
khi nào mình sinh ra (trừ một số ít trường hợp tái sinh được báo trước nghe như chuyện truyền kỳ ở Tây
Tạng)
và
rất
ít người lựa chọn lúc mình chết. Nhưng tự do là một khát vọng lớn ngàn đời của con người, mãnh liệt đến
mức
có
nhiều
người,
nhiều
dân
tộc
đã lựa chọn tự do hay là chết.
Vậy
tự
do là
gì
và
làm
thế
nào
để sống có tự do? Câu hỏi này không dễ trả lời ngoài những khái niệm mơ hồ mà con người thường có.
Tự do có phải là muốn nghĩ, hành
động và sống hoàn toàn
theo ý mình không chịu bất cứ ràng buộc nào? Rõ ràng không phải vậy. Suy nghĩ là lãnh vực dễ có tự do nhất nhưng cách suy nghĩ
của
mỗi
người
cũng
bị
chi phối
bởi
quá
trình
giáo
dục,
nhận
thức
và
hoàn
cảnh.
Hành
động khó thể tự do vì luôn tác
động lên người khác
và
nhận
lấy
sự phản hồi từ người khác.
Sống
tự
do lại
càng
khó
hơn
vì
con người
bị
chi phối
mạnh
mẽ bởi sự ràng
buộc
với
những
người
chung quanh và
môi
trường
xã
hội.
Như
thế
phải
chăng
tự
do chỉ
là
một
khát
vọng
bi thảm
của
con người.
Tự
do không
bao giờ
tuyệt
đối mà trái lại chỉ rất tương đối.
Tôi một mình vẫn thiếu tự do và trong mối quan hệ với người khác càng mất tự do, tôi sống trong một dân tộc bị ngoại
bang thống
trị
hay dưới
chế
độ độc
tài
lại
càng
mất
tự
do. Tôi
mất
tự
do vì
không
có
khả
năng
thực
hiện
điều
mình
muốn,
vì
chịu
những
ràng
buộc
từ người khác,
vì
bị những người cầm quyền áp đặt
các
hạn
chế.
Vậy
phải
chăng
tôi
không
bao giờ
được tự do?
Không còn cách
nào khác hơn là
chấp
nhận
một
thứ
tự
do tương
đối. Tôi
tự chế những ước muốn riêng để
khỏi
làm
đau lòng người thân. Tôi hòa đồng với mọi người để có được sự hòa thuận và
tình
thân
ái. Tôi đấu tranh cho
những
quyền
sống
cơ bản của con người. Tôi
lựa
chọn
tù
đày hoặc hi sinh thay
vì
khuất
phục.
Đó là tự do. Tự do là một quá trình nhận thức và phấn đấu.
Tự
do chính
là
lựa
chọn
trong từng tình huống cụ thể.
Tự do không phải là
quà
tặng
trời
ban cho con người. Tự do là một trong
những
giá
trị
lớn
nhất
của
cuộc
sống
nhưng
con người
phải
trả
giá
cho tự do. Chiến đấu
cho tự do làm con người trở nên vĩ
đại. Tự do không
trở
thành
bi kịch
khi con người có nhận thức đúng đắn về tự do.
Dân chủ
Định nghĩa về dân chủ dễ được
thống
nhất
từ đông sang tây, giữa nhiều quốc gia nhưng cách thực hiện dân
chủ
lại
có
nhiều
khác
biệt,
đôi khi mâu thuẫn.
Dân chủ là
người
dân
tham gia làm
chủ,
quản
lý
xã
hội,
quyết
định vận mệnh của đất nước. Trong ý nghĩa mở rộng, dân
chủ
là
quyền
phát
biểu
quan điểm, tham gia quyết định các vấn đề quan trọng của mọi thành viên
trong một tổ chức, từ gia đình nhỏ cho đến tập thể lớn trên tất cả mọi lãnh
vực.
Dân chủ đối
nghịch
với
độc tài, sự độc đoán
của
một
cá
nhân
hay tập
thể
lãnh
đạo, từ người chủ gia đình cho
đến lãnh đạo cơ quan,
xí
nghiệp,
tổ chức, địa phương và lớn hơn là lãnh đạo quốc gia
ở nhiều dạng như độc tài quân chủ, độc
tài
quân
phiệt,
độc tài gia đình trị, độc tài phát
xít,
độc tài đảng trị...
Cuộc
đấu tranh
giữa
dân
chủ
và
độc tài diễn ra không ngừng, dưới nhiều hình thức, từ âm ỉ, nhẹ nhàng cho đến
bạo
động đổ máu. Cuộc đấu
tranh này bao giờ cũng mang lại tổn thất, hi sinh nhưng lại là
động lực cho
sự phát
triển,
cho quyền sống tự do và hạnh phúc của mỗi con người và từng đất
nước
cũng
như
cả nhân
loại.
Dân chủ là một vấn đề chính trị, cũng
là
vấn
đề đạo
đức và là sự thức tỉnh và khôn ngoan của con người. Xã hội không có dân chủ sẽ đầy
khổ
đau và luôn mang mầm mống của thảm họa.
Nhân quyền.
Hiện
nay, khắp
nơi
trên
thế
giới,
người
ta đều nói về nhân
quyền,
tranh luận về nhân quyền và đấu tranh cho
nhân
quyền.
Nhân
quyền
vừa
là
vấn
đề chính trị, vừa là vấn đề thực tiễn xã hội, vừa là vấn đề đạo
đức và lương tâm , được đặt ra
hằng
ngày.
Nhân quyền có tính chất phổ quát không? Điều này không
ai chối
cãi
được vì con người ở đâu
cũng
là
con người,
có
quyền
được sống và sống ra
con người.
Dù
mầu
da, giới
tính,
chủng
tộc,
tôn
giáo
chế
độ chính trị, trình độ
phát
triển,
giàu
nghèo
khác
nhau như thế nào, con người ai cũng muốn sống đầy đủ, tự do, hạnh phúc và mơ ước về những gì tốt đẹp. Không
ai muốn
bị nghèo
đói, bị áp bức bóc lột, không
ai muốn
bị đối xử như những con vật. Ai nói nhân
quyền
không
có
tính
phổ
quát
chỉ
là
những
kẻ lừa mị, dối trá
nhằm
biện
minh cho những hành
động và ý đồ
xấu
xa đen tối của mình khi chà
đạp nhân quyền.
Thực
chất
sự
vi phạm
nhân
quyền
hiện
nay chính
là
sự bất bình
đẳng giữa kẻ mạnh và người yếu, giữa kẻ giàu và
người
nghèo,
giữa
kẻ thống trị và
người
bị trị, sự bất bao
dung giữa
con người
và
con người
từ phạm vi nhỏ, trong một quốc gia cho
đến toàn thế giới. Những kẻ nắm ưu thế và tự cao tự đại đã làm mọi chuyện, chà đạp thô bạo nhân quyền của người khác không chút áy
náy,
tiếc
thương.
Nguyên
nhân
của
mọi
hành
động vi phạm nhân
quyền
này
không
gì
khác
hơn
là
để bảo vệ quyền lợi tham lam và
ích kỷ của mình. Quyền lợi này có thể là chính trị, là kinh tế và
cả sự hẹp hòi
trong tín ngưỡng, lòng ái
quốc,
sự tự tôn
vì
mầu
da, chủng
tộc.
Nói
cách
khác,
nguyên
nhân
chính
là
do con người
không
có
lòng
nhân
ái, không chịu cảm thông chia sẻ, không biết bao
dung.
Chừng nào cái ác
trong mỗi con người vẫn còn, nhất là đối với những kẻ nắm quyền lực, sự chà đạp nhân quyền vẫn còn xảy ra và sự dối trá vẫn còn huênh
hoang ngự trị trên thế giới này.
Quyền lực
Không phải tất cả mọi người đều
ham muốn
quyền
lực.
Chỉ
một
số người có
xu hướng
này
và
thường
đó là những kẻ đặc
biệt
nguy hiểm cho nhân loại.
Thực ra quyền lực tự nó không tốt hay xấu mà
chỉ
tốt
hay xấu
do cá
nhân
nắm
quyền
lực
gây
ra. Quyền lực chỉ là một phương tiện. Và như mọi phương tiện khác, nó có thể phục vụ hay gây hại cho con người nếu không biết sử dụng đúng cách.
Quyền
lực
thường
làm
cho con người thay đổi, biến chất, kiêu
căng
và
cuối
cùng
trở
nên
phi nhân,
độc ác. Đó là tai họa tiềm ẩn trong
quyền
lực
có
thể
phát
tác
nơi
bất
cứ
ai nắm
quyền
lực.
Người
nắm
quyền
lực
tối
cao trở nên độc ác một phần do chính hắn nhưng phần khác
cũng
do những
kẻ
xu phụ
quyền
lực
đã cổ vũ, công kênh và củng cố cho những “Đấng quyền lực tối cao” đó. Những kẻ này
cũng
chính
là
những
kẻ
ham muốn
quyền
lực
dù
là
thứ
quyền
lực
thừa
hành
hay con con bé mọn.
Trước thời gian không có
gì
vĩnh
cửu,
quyền
lực
lại
càng
là
thứ
tạm
bợ và
thường
có
kết
cục
bi thảm
nhưng
những
kẻ nắm quyền lực lại không
học
hay không
thích
bài
học
nghiêm
khắc
này
của
lịch
sử.
Chính trị.
Có kẻ say mê nhưng cũng lắm người chán ghét chính trị. Dù sao chính
trị
vẫn
là
một
thực
tế,
một
nhu cầu của xã hội và không ai thoát ra khỏi phạm vi ảnh hưởng của chính trị dù
muốn
hay không.
Đó là vấn nạn và cũng là bi kịch liên quan đến số phận con người.
Có hay không và
có thể nào phân biệt chính trị xấu và chính trị tốt? Người ta đã nói đến chính trị vương đạo
và
chính
trị
bá
đạo, chính
trị
lý
tưởng
và
chính
trị
xôi
thịt.
Sự phân
biệt
thực
ra không rạch ròi và ranh giới rất mỏng manh, nằm trong khái niệm chung về thiện - ác, chính – tà, tưởng như rất rõ rệt.
Chính trị nhằm để thực hiện lý tưởng, ý thức hệ, chủ nghĩa, cương lĩnh, đường lối chính sách nên thường nhắm đến
quyền
lực,
cụ thể là
chính
quyền.
Nắm
được chính quyền mới có
thể
thực
thi đường lối chính trị của mình.
Trong đấu tranh
chính
trị
để giành và giữ chính quyền, người ta phải dùng nhiều thủ đoạn chính trị. Thủ đoạn chính trị thường là loại thủ đoạn đê tiện và tàn bạo nhất mà con người đã từng chứng kiến. Nguyên tắc “Thà ta phụ người chứ không
để người phụ ta” của Tào Tháo, “Chính quyền trên đầu súng” của Mao Trạch Đông, gây chia rẽ trong đối
phương,
chính
sách
tuyên
truyền
mị dân,
gian lận bầu cử, sát hại đối
thủ,
đàn áp đối lập... Tất cả đều mang đến sự tàn hại cho con người và hầu hết đều thực hiện phương châm
“Mục
đích biện minh cho
phương
tiện”.
Dù yêu hay ghét
chính trị, chính trị mãi mãi là một cuộc đấu
tranh không khoan nhượng giữa điều
ác và điều thiện, giữa con người và con người khi xã hội còn những kẻ cai trị và người bị trị.
Xung đột và
hòa
giải
hoà
hợp.
Xã hội và thế giới phong phú, đa dạng và
luôn
biến
chuyển
nên
sự khác
biệt,
mâu
thuẫn
nẩy
sinh là điều tất yếu, thực tế và phổ biến. Mâu thuẫn gay
gắt
đưa đến xung
đột hay xung đột
bắt
nguồn
từ những mâu
thuẫn
không
thể
hòa
giải.
Từ xưa đến nay, trên
mọi
quốc
gia và ở phạm vi toàn thế giới, xung đột đã xẩy ra trên mọi lãnh
vực,
từ tư tưởng, tôn
giáo
đến chủng tộc, quyền lợi, chính trị. Sự xung đột
ở đỉnh cao đưa đến
hận
thù,
đổ máu và biết bao tai họa cho con người. Ít ai muốn xung đột nhưng xung
đột vẫn thường diễn ra,
hầu
như
thường
xuyên
ở nơi này nơi khác,
ngấm
ngầm
hay công
khai, bằng thái độ
hay hành
động, đôi khi là sự chém giết dã
man tàn
bạo.
Xung đột là bi kịch con người phải gánh chịu trong trường kỳ lịch sử.
Có thể thoát khỏi xung đột không? Câu
trả
lời
là
có.
Bằng
cách
nào?
Có
câu
trả
lời
nhưng
thực
hiện
là
điều
không
dễ.
Hòa giải hòa hợp là biết chấp nhận và tôn trọng sự khác biệt. Sự khác biệt đã là điều tất yếu thì tại sao
lại
không
tôn
trọng
và
chấp
nhận.
Đâu phải mọi thứ đều
rập
khuôn
và
có
thể
bắt
buộc
người
khác
phải
nghe theo và
phục
tùng
mình.
Hòa giải hòa hợp luôn đòi
hỏi
ở cả hai
phía
đối nghịch vì hòa giải hòa
hợp
là
hòa
giải
hòa
hợp
với
nhau, với những người bị coi là đối nghịch hay thù địch. Nếu chỉ một bên
thực
sự muốn hòa
giải
hòa
hợp,
hòa
giải
hòa
hợp
khó
thành
công
nhưng
vẫn
có
thể
thành
công
nếu
những
người
muốn
hòa
giải
hòa
hợp
thực
sự
tin tưởng
mãnh
liệt
và
kiên
trì
thực
hiện.
Hòa
giải
hòa
hợp
đòi hỏi ở bản thân nhiều hơn đối
phương.
Hạn
chế
và
từ bỏ “tham, sân, si” là bắt đầu và điều
kiện
cho tiến trình hòa giải hòa hợp. Khi hòa giải hòa hợp đã trở thành ý chí mạnh mẽ, nó sẽ chuyển hóa đối phương, chuyển hóa đa
số,
cuối
cùng
làm
cho những kẻ ngoan cố nhất cũng phải thay đổi.
Hòa giải hòa hợp là cuộc cách mạng xanh, cách mạng bản thân
và
cách
mạng
thế
giới.
Nếu
cuộc
cách
mạng
này
không
thành
công,
thế
giới
sẽ đi đến
chỗ
tự hủy diệt.
Biên giới.
Biên giới là do con người đặt ra,
hình
thành
và
củng
cố
qua tiến
trình
lịch
sử.
Có
biên
giới
vật
chất
và
biên
giới
tinh thần: Quốc gia, chủng tộc, mầu da, tôn giáo,
giai cấp, ý thức hệ... Đó là những cột mốc, những hàng rào được dựng lên để
phân
biệt.
Biên giới đôi khi
tưởng
như
cần
thiết
nhưng
lại
rất
tương
đối và thực tế đã gây nhiều tai
họa
nhiều
hơn
mang lại hạnh phúc, bình an. Một điều
có
vẻ nghịch thường nhưng thật đáng suy nghĩ
là phải chăng nên từng bước xóa nhòa thay vì
củng
cố biên
giới,
dù
là
biên
giới
vật chất hay tinh thần
Văn hóa
nghệ
thuật.
Văn hóa nghệ thuật là những tác phẩm, công
trình,
hoạt
động vật chất và tinh
thần
hoặc
phối
hợp
cả hai yếu tố này, có tính chất đặc
sắc
và
cao đẹp
của
con người.
Khó
có
thể
liệt
kê
ra hết hay đưa
ra một định nghĩa hoàn chỉnh, duy nhất cho
lĩnh
vực
này.
Văn hóa nghệ thuật đặc biệt mang
dấu
ấn của người sáng tạo hay bản sắc của từng cộng đồng, từng dân tộc trong những hoàn cảnh đặc thù, vị trí
địa lý hay thời kỳ
lịch
sử,
Do đó, văn hóa nghệ thuật vô cùng phong phú,
đa dạng và muôn hình muôn vẻ hơn bất cứ lĩnh vực nào khác.
Văn hóa nghệ thuật ngoài
yếu
tố đặc thù còn có
mục
đích và tác dụng làm vui lên,
đẹp hơn, nâng cao tâm hồn và cuộc sống của con người, vượt lên trên cuộc sống bản năng của động vật nên cái gọi là “văn hóa nghệ thuật đồi trụy” thực ra
không
phải
là
văn
hóa
nghệ
thuật.
Điều
gì
làm
sa đọa,
hạ thấp con người xuống hàng
súc
vật
chỉ
là
những
thứ
tai họa,
không
xứng
đáng, không nên coi là
văn
hóa
nghệ
thuật.
Văn hóa nghệ thuật là
phương
tiện
giao lưu, giúp cảm thông và hiểu biết sâu xa nhất giữa con người và con người. Thưởng thức một tác
phẩm
có
giá
trị,
dù
là
văn
học,
hội
họa,
kịch
nghệ,
điện
ảnh, âm nhạc, nhiếp ảnh, người ta có thể đồng cảm sâu xa với số phận từng nhân vật và những nỗi niềm, gởi gắm của những người sáng tạo dù những người đó hoàn toàn xa lạ, thậm chí cách biệt hàng nhiều thế kỷ. Chiêm ngưỡng một công trình kiến trúc hay điêu khắc, xem
một
điệu
múa
dân
gian, dự một lễ hội, ta cảm nhận đầy
đủ hơn nếp sống của một dân
tộc
hơn
bao lời
giải
thích
dài
dòng.
Văn hóa nghệ thuật vì
thế
không
có
rào
cản,
không
biên
cương
và
có
thể
giúp
đưa người ta lại gần nhau,
chia sẻ
và
hòa
nhập
không
cần
đến những lời tuyên truyền giả trá.
Giao lưu văn hóa
nghệ
thuật
vì
thế
là
hình
thức
giao tiếp đẹp
đẽ nhất của con người, mang lại hòa bình
và
hữu
nghị,
cần
thiết
hơn
nhiều
cuộc
chiến
tranh và cách mạng tưởng như vì lý tưởng cao đẹp nhưng thực chất đã hủy hoại con người và tình nhân loại.
Tôn giáo và tâm linh.
Tôn giáo hay
nhu cầu tâm linh là
một
trong những dấu chỉ của con người cao hơn động vật, đã có từ rất lâu trong lịch sử loài
người.
Mục đích của các tôn
giáo
hay nhu cầu tâm linh của con người bất cứ ở thời đại hay dân
tộc
nào
đều hướng thượng, nhằm giải thoát khỏi những ràng
buộc,
hạn
chế,
khổ
đau của cuộc sống làm người, vươn tới một cái gì cao đẹp, thánh
thiện
và
trường
cửu.
Nếu
giáo
lý
không
làm
con người
tốt
đẹp hơn nhưng lại vì cuồng tín, mù
quáng
đến độ gây ra đổ máu, hận thù thì đó không còn
là
giáo
lý
chân
chính
nữa.
Tín
đồ một tôn giáo nhưng trí óc
hẹp
hòi,
chứa
đầy thù hận, không biết bao
dung, tín
đồ đó cũng không còn xứng đáng với tôn giáo
của
mình.
Tôn giáo được hình
thành,
củng
cố và
phát
triển
nhờ
giáo
hội.
Giáo
hội
là
hệ thống tổ chức với những chức vị, nghi thức, lề luật, sinh hoạt, nơi thờ phượng thể hiện sự có mặt và sức sống của một tôn giáo.
Giáo
hội
cần
thiết
cho tôn giáo nhưng đôi khi
cũng
làm
hại
đến tôn giáo.
Lịch
sử nhiều giáo
hội
thấm
đầy máu và
nước
mắt.
Nhiều
chức
sắc
tôn
giáo
đầy quyền uy
và
tàn
ác, bại hoại còn hơn những quan chức của thế quyền. Nhiều nơi thờ phượng uy
nghi lộng lẫy nhưng tín đồ
lại
thiếu
vắng
đạo đức và niềm tin. Do vậy, để một giáo hội xứng đáng với tôn giáo
của
mình,
các
bậc
chân
tu cần hơn các chức sắc giảo hoạt; cách nghĩ, nếp sống đạo
đức cần hơn số lượng tín đồ đông đảo.
Tôn giáo hay
nhu cầu tâm linh có
nhiều
ngả,
phù
hợp
với
từng
cá
nhân,
cộng
đồng, dân
tộc
trong từng thời kỳ lịch sử. Mỗi người có cơ duyên riêng và không phải chỉ có một con đường duy nhất. Ai cho
rằng
chỉ
có
mình
duy nhất đúng, chỉ tôn
giáo
mình
là
chính
giáo
còn
tất
cả đều là tà đạo, chính
là
bắt
đầu sự chia rẽ và đối kháng, hoàn
toàn
trái
với
bản
chất
của
các
tôn
giáo
và
những
con đường tâm linh.
Mỗi người tự chọn con đường phù hợp cho mình, tuy khác nhau nhưng những con
đường hướng thượng nhất định sẽ dẫn đến Nước Trời, đến cõi Thanh Bình và An Lạc.
Chủ nghĩa.
Có vô số loại chủ nghĩa trên
các
lãnh
vực
triết
học,
xã
hội,
kinh tế, văn học nghệ thuật, chính trị... trải qua các thời kỳ lịch sử. Theo từ nguyên, chủ là cái gì mình theo đuổi,
cho là đúng, trong khi
những
cái
khác
đều là khách.
Nếu chỉ cho mình là
đúng, tất những điều khác là sai, từ đó dễ đưa
đến mâu thuẫn, xung đột
và
tai họa.
Có
thứ
chủ
nghĩa
chỉ
liên
quan đến cá nhân, tập thể nhỏ, trong thời gian
ngắn.
Có
thứ
chủ
nghĩa
chi phối
một
dân
tộc,
nhiều
dân
tộc,
thậm
chí
cả thế giới trong thời gian dài.
Trong các loại chủ nghĩa,
nguy hiểm nhất là chủ nghĩa về chính trị. Chủ nghĩa chính trị thường gắn liền với cuồng tín và bạo lực. Khi đã theo
đuổi,
tôn
thờ
một
chủ
nghĩa,
người
ta sẵn
sàng
làm
tất
cả,
thậm
chí
hi sinh tính mạng của mình, cưỡng bức và tàn sát người khác để
chủ
nghĩa
được thực hiện. Trong thời cận đại, các
chủ
nghĩa
phát
xít
của
Đức
Quốc
Xã,
chủ
nghĩa
Đại Đông Á của Nhật Bản, chủ nghĩa Cộng Sản, chủ nghĩa đế
quốc
của
các
nước
lớn
là
những
điển
hình
cho thảm họa của nhân loại.
Chủ nghĩa là
phát
kiến,
thí
nghiệm,
không
phải
là
chân
lý
trường
cữu
nhưng
người
ta vẫn
hô
hào
“muôn
năm” cho chủ nghĩa
của
mình.
Chủ
nghĩa
là
một
trong những con đường hẹp trên thế gian nhưng người ta vẫn cho
là
đại lộ duy
nhất
dẫn
đến giải thoát cho toàn nhân loại.
Sự
xuất
hiện
của
các
chủ
nghĩa
là
thực
tiễn
lịch
sử,
là
khao khát
của
những
người
sáng
tạo,
những
người
có
chí
lớn
trên
các
lãnh
vực
nhưng
phải
chăng
chủ
nghĩa
chỉ
nên
mang tính chất lựa chọn và theo đuổi
cá
nhân,
không
ép buộc và không gây tổn hại cho người khác. Khi chủ nghĩa
trở
thành
ý thức hệ mang
tính
áp đặt
và
thực
hiện
bằng
bạo
lực
thì
bất
cứ chủ nghĩa
nào,
dù
lý
thuyết
tốt
đẹp đến đâu cũng trở thành tai họa.
Ngay cả chủ nghĩa ít bị phê phán nhất như chủ nghĩa nhân bản hay tân nhân bản có lẽ cũng không nên gọi là chủ nghĩa mà chỉ nên gọi là tư tưởng. Tư tưởng tự do, phóng khoáng, không ràng buộc trong khi
chủ
nghĩa
bó
hẹp,
bảo
thủ,
thường
mang tính cực đoan, dẫn đến áp đặt,
xung đột.
Con người cần tư tưởng, không cần đến chủ nghĩa. Con người cần tự do và tình huynh đệ, không cần đến
sự độc tôn của bất cứ chủ nghĩa nào.
Tiêu Dao Bảo Cự: Nhạc Trịnh chỉ khơi dậy tình
tự dân
tộc,
nỗi
buồn
nhược
tiểu,
nỗi
đau chiến tranh.
(tựa đề và giới thiệu của Bùi Văn Phú, người phỏng vấn)
Posted on April 6, 2011 by Bùi Văn Phú
Thời trẻ
tôi
và
các
bạn
thân
thường
lên
án thế hệ đàn anh đã để lại
cho chúng tôi một gia tài rách
nát
với
vô
vàn vấn nạn. Có lẽ lớp trẻ bây giờ cũng vậy. Lời ca của Trịnh Công Sơn trong bài “Gia tài
của
mẹ” diễn
tả đúng nhận
thức
của
tôi
vào
thời
điểm đó và
ngay cả bây giờ.
Chuyện “nô lệ giặc tàu”, “đô hộ
giặc
tây” hầu
như
mọi
người
đều đồng ý nhưng
người
ta nghĩ
khác
nhau về chuyện “hai mươi năm
nội
chiến
từng
ngày”. Bởi
có
hai phe, hai miền tham dự chiến tranh
và
bên
nào
cũng
cho mình là chính nghĩa.
Người ta có
thể
có
mọi
thứ
nhân
danh, đặt ra nhiều tên gọi, nhưng dù
là
chiến
tranh ủy nhiệm, chiến tranh giải phóng, chiến tranh tự vệ, chiến tranh chống đế quốc Mỹ xâm
lược
hay chống
cộng
sản
độc tài tàn bạo thì trong cuộc chiến lâu
dài
đó hai bên đều nhận viện trợ, súng đạn của ngoại bang để bắn
giết
nhau. Trong cuộc chiến đó, người Việt chết
nhiều
nhất,
người
Việt giết nhau
nhiều
nhất,
nên
dù
lý
giải
cách
nào
cuộc
chiến
tranh này cũng mang yếu tố nội chiến.
Tiếc thay đến nay 36 năm đã trôi
qua từ
ngày
cuộc
chiến
chấm
dứt,
phần
lớn
những
người
tham dự của hai phe
vẫn
không
thay đổi quan điểm của mình và cuộc nội chiến dường như vẫn còn tiếp tục dưới một dạng khác, tuy không
còn
súng
đạn nhưng hao tổn không ít tiềm lực của dân tộc trên con đường xây lại nước non mình.
Thống nhất
đất nước là nguyện vọng lâu đời của người Việt Nam sau nhiều lần qua phân trong lịch sử. Không ai không muốn đất nước
thống
nhất
nhưng
có
người
muốn
thống
nhất
theo kiểu Đông-Tây Đức, có
người
muốn
theo kiểu Việt Nam. Có
lẽ không
ai muốn
đất nước chia cắt lâu dài như Nam-Bắc Triều
Tiên, khi gặp lại nhau, anh em-bà con-bè
bạn
không
còn
nhận
ra nhau hay không
còn
cơ hội nào
để gặp
nhau nữa và sự khác biệt, thù hận giữa hai miền đất nước
kéo
dài
chưa
biết
đến bao giờ mới chấm dứt. Cho nên ngoài những ý nghĩa mà người ta bất đồng về ngày 30.04.75 là ngày quốc hận hay ngày
giải
phóng,
có
lẽ không
ít người đồng ý rằng,
dù
sao đi nữa, ngày đó cũng
là
một
dấu
mốc
lớn
trong lịch sử Việt Nam vì
đó là
ngày
thống
nhất
đất nước. Dĩ nhiên sau ngày
thống
nhất
này
đất nước như thế nào là một vấn đề khác
liên
quan đến đường lối chính sách, tài năng, bản lĩnh của những người cầm quyền, nhưng không thể phủ nhận ý nghĩa
tích
cực
của
việc
thống
nhất.
Nếu
sau 30.04.75 mà Việt Nam thực
sự có
hoà
giải
hoà
hợp,
đại đoàn kết
dân tộc, vươn lên hùng cường như nước Nhật sau Thế chiến 2 thì thống nhất quả là hạnh phúc lớn của dân
tộc.
Tiếc
thay lịch sử không có chữ “nếu” này
nên
bi kịch
vẫn
còn
tiếp
diễn.
Bài hát “Nối vòng tay lớn” nói
lên
khát
vọng
thống
nhất
đất nước một cách hình tượng, với cảm xúc, niềm vui dâng tràn.
Đây không phải là tình cảm riêng tư, cá biệt mà là của cả dân tộc. Bài hát này ngay hiện nay chúng
ta vẫn
có
thể
hát
với
niềm
rung động trong những ngày anh-em-tụ-hội. Tuy nhiên khi Trịnh Công Sơn hát
bài
này
trên
đài phát thanh Sài
Gòn
ngày
30.04.75 có
nhiều
phản
ứng khác
nhau nơi người nghe. Có người ngây ngất hạnh phúc,
có
người
nghe như sét nổ bên tai. Điều ấy tất nhiên vì lúc đó có
thắng-bại, tử-sinh, vinh-nhục khi
cuộc
chiến
ngã
ngũ
với
kẻ thắng người bại. Tuy nhiên
không
phải
mọi
người
của
mỗi
bên
đều nghĩ như nhau. Có người phía chiến bại vẫn vui với tiếng hát, có người hơn 30 năm sau vẫn uất hận khi hồi tưởng. Đây cũng là một khía cạnh bi kịch của nội chiến.
Có điều xin nói thêm.
Gần
đây tôi mới được nghe lời phát biểu của Trịnh Công Sơn trong dịp này qua thông
tin trên
mạng.
Tôi
hơi
giật
mình
vì
thấy
Trịnh Công Sơn phát biểu rất “cách mạng”, giọng
điệu rất
“tuyên truyền” khi kêu gọi trí thức văn nghệ sĩ đừng bỏ nước ra đi mà
hãy
trình
diện
chính
quyền
cách
mạng.
Giá
Trịnh Công Sơn đừng phát biểu gì thì hay hơn.
Người ta thường
hiểu
hoà
bình
là
không
có
chiến
tranh, như thế Việt Nam đã có
hoà
bình
từ sau 1975. Tuy nhiên hoà bình còn có nghĩa là không có xung đột dưới
mọi
hình
thức
và
bình
an trong tâm hồn. Theo nghĩa đó, Việt Nam vẫn chưa có hoà bình. Những xung đột ngày càng mạnh thêm giữa người cai trị và người bị trị, giữa người có lợi ích và
những
người
trắng
tay. Và nặng nề nhất là cuộc đối đầu quốc-cộng
giữa
chính
quyền
trong nước và người Việt tị
nạn
cộng
sản
ở hải ngoại vẫn còn tiếp diễn, nổi bật là
cuộc
chiến
ngôn
từ trên
mạng
thể
hiện
còn
dữ dội hơn thời chiến ngày
trước
và
mọi
âm mưu thủ đoạn đối phó lẫn nhau vẫn đang tiếp
diễn.
Nhận xét
của
riêng
ông về con người Trịnh Công Sơn?
Nhận xét
về một con người rất khó
khi ta chưa hiểu hết về họ, nhất là với một tài năng nổi tiếng. Ý kiến
riêng
sau đây không nhằm ngợi ca, phê phán hay phản bác, biện minh cho điều gì, chỉ là ý kiến
riêng
trong chừng mực hiểu biết của mình.
Trịnh Công Sơn trước
hết
và
sau cùng chỉ là một nghệ sĩ, một nhạc sĩ tài hoa, một “người ca thơ”, “gã du ca” đã làm
say mê
nhiều
thế
hệ.
Trong cuộc
chiến
tranh và cuộc sống sau này, Trịnh Công Sơn chỉ
là
một
con người
nhỏ
bé
trước
các
thế
lực
chi phối
đất nước và xã hội. Ông bày tỏ nhận thức, nỗi niềm của mình qua tác phẩm âm nhạc,
được đông đảo công chúng chấp nhận nhưng các chính quyền và một số người không hài lòng. Là một nghệ sĩ gắn bó với dân tộc và đất nước, trong chiến tranh
ông đã công
khai bày tỏ chính kiến qua tác phẩm, dù
đúng hay sai đối với
ai đó, nhưng
đây là quyền, trách nhiệm và thôi thúc nội tâm của một người công dân-nghệ
sĩ.
Trước và
sau 75, Trịnh Công Sơn đôi lúc có sự nương nhờ vào một số người có thế lực trong bộ máy cầm quyền cũng
như
sáng
tác
một
số bài
có
phần
mang tính ngợi ca. Ông nương nhờ để tồn
tại
nhưng
không
trở
thành
“gia nô”. Ông ngợi ca nhưng không là “bồi bút”. Điều đó do bản
chất
nghệ
sĩ,
tài
năng
và
nhân
cách
của
ông. Như “Cho một người vừa nằm xuống” viết
về Đại tá
Không
quân
Việt Nam Cộng hoà Lưu Kim Cương
tử trận, ông không
ca ngợi
chiến
tích
hay lên
án kẻ thù mà nói về nỗi chết và phận người. “Huyền thoại Mẹ” sau 75 là hình ảnh, sự
hi sinh và tình cảm của những người mẹ muôn thuở trong chiến tranh.
Trịnh Công Sơn không
phải
là
người
làm
chính
trị,
chiến
sĩ
cách
mạng
hay kẻ
cầm
quyền
để “biểu diễn
lập
trường” hay dấn
thân
tranh đấu. Người ta không thể đòi hỏi nhiều hơn nơi ông. Ông chỉ là một nghệ sĩ trong cuộc đời, một
cuộc
đời Việt Nam đầy máu lửa và bi kịch. Mãi mãi người ta sẽ nhớ về Trịnh Công Sơn như
một
nhạc
sĩ
tài
năng
viết
về chiến tranh, tình yêu và thân phận, sẽ ngân nga nhạc điệu đơn giản nhưng tài hoa, sẽ lắng nghe và rung động với ca từ có sức cuốn hút ma lực trong tác phẩm của ông để sống
nhân hậu, hòa bình, yêu đời, yêu người hơn.
Liên tưởng đến một
trường
hợp
khác,
có
lẽ hậu thế không
ai phê
phán
thái
độ chính
trị
của
Nguyễn Du, một “hàng thần lơ láo” dưới
triều
Nguyễn, khi vào
chầu
không
bao giờ
phát
biểu
một
điều gì,
khi chết không buồn trăn trối. Người Việt vẫn
không
ngừng
ngợi
ca “Truyện Kiều” là
tài
hoa kết tinh ngôn ngữ thi ca dân tộc và thông cảm với tiếng thở dài của ông gởi cho người đời sau:
Bất tri tam bách
dư niên
hậu
Thiên hạ thùy nhân khấp Tố Như.
Riêng với ông, nhạc Trịnh đã để lại những ấn tượng gì
là
sâu
đậm nhất?
Không biết từ bao giờ người ta dùng từ “nhạc Trịnh” để nói
về âm nhạc
của
Trịnh Công Sơn và hầu như nó được nhiều người chấp nhận. Điều đó có
nghĩa
là
âm nhạc Trịnh Công Sơn đã trở
thành
một
dòng
chảy
riêng
trong nền âm nhạc Việt Nam. Bên
cạnh
nhạc
tiền
chiến,
nhạc
kháng
chiến,
nhạc
tranh đấu, nhạc đỏ, nhạc
vàng,
nhạc
sến… có
nhạc
Trịnh. Đó là
sự thừa nhận và
vinh danh của công
chúng
dành
cho thiên tài âm nhạc này mà chưa nhạc sĩ nào, dù rất tài năng như Phạm Duy hay Văn Cao cũng không
có
được.
Nhạc Trịnh có đến hơn
600 ca khúc
với
những
giai điệu và
đặc điểm ca từ
rất
riêng
không
lẫn
với
ai khác.
Đối với riêng tôi, có nhiều bài đã trở
thành
những
bài
hát
chuyên
chở
tâm
hồn
mình
và
tâm
hồn
của
cả một thế hệ. Tôi
đã nghe và hát rất nhiều lần những bài ca đó trong từng cơn xúc động lặng
lẽ
hay sôi
trào
của
tâm
cảnh.
Đôi khi không cần hiểu thấu đáo ca từ,
chỉ
là
cảm
nhận
rất
sâu
xa, dịu
dàng
và
đau đớn những gì thuộc về tình yêu và phận người, trong thời chiến tranh
cũng
như
trong cuộc làm người đẹp đẽ, mong manh
và
đầy bi kịch.
Những lời ca viết về thân
phận
quê
hương
của
Trịnh Công Sơn thì
gây
tranh cãi, nhưng nhiều người yêu thích tình ca họ Trịnh. Có
một
hay vài
bài
tình
ca nào
của
Trịnh Công Sơn mà
ông yêu
thích?
Tại
sao?
Tình ca Trịnh Công Sơn là
những
niềm
riêng
nhưng
lại
rất
phổ
quát
ở những người biết yêu thương, giận hờn, nhớ nhung, đau khổ, cô đơn, phiền muộn, nghĩa là trải qua vô vàn cung bậc của cuộc tình
người.
Có
khi “Chiều Chủ nhật buồn nằm trong căn gác
đìu hiu, tôi xin năm ngón tay em thiên thần, trên vùng ăn năn, qua cơn hờn dỗi, tôi xin năm ngón tay em đưa vào cô đơn”. Không ai khác,
chính
là
ta nằm
đó lắng
nghe chính mình. Có khi như trong cơn mê, cảm nhận “Ngày tháng nào đã ra đi khi ta còn ngồi lại, cuộc tình
nào đã ra
khơi
ta còn
mãi
nơi
đây. Từng người tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ, ôi những dòng sông nhỏ, lời hẹn thề là những cơn mưa”. Rồi
những
khi đắm chìm trong suy niệm “Bao nhiêu
năm
rồi
còn
mãi
ra đi, đi đâu loanh quanh
cho đời mỏi mệt”. Hay âm thầm tự hỏi “Hạt bụi
nào
hóa
kiếp
thân
tôi,
để một
mai tôi về làm cát bụi, ôi cát bụi mệt nhoài, tiếng động nào gõ nhịp trong tôi”. Và
còn
nhiều
những
rung động tinh tế khác của tâm
hồn.
Những lúc
đó, trong đêm khuya hay ngày vắng, một mình
lại
cất
lên
tiếng
hát,
hay dạo
một
khúc
ghi-ta thánh thót, nghe đời hoang vu, thấy mình cô
độc nhưng vẫn yêu đời, yêu người trong cuộc hành trình
về nơi vô
tận.
Tiêu Dao Bảo Cự - Đảng và tôi đã không còn
đi chung
đường
( Phạm Thị Hoài thực hiện)
Dù ở trong hay ngoài Đảng, tôi chỉ là
tôi, không hề là con người khác. Tôi
vào Đảng là tự nguyện, chấp nhận và
bị
chi phối
bởi
những
nguyên tắc, quy định của Đảng. Khi ra
khỏi
Đảng,
tôi không còn những ràng buộc đó
và có nhiều tự do để thể hiện con người đích
thực
của
mình.
Dù Đảng
đã từng cảnh báo “Hãy
cảnh
giác với quyền lực” nhưng lời kêu gọi này
không còn giá trị gì khi
một
đảng
trở
thành độc tài toàn
trị,
quyền
lực
vô biên đi
đôi với lợi lộc tràn trề trong
nền
kinh tế thị trường hoang dã,
kích thích lòng tham vô
đáy của con người. Sự lãnh đạo của Đảng lúc
này trở thành sự khống chế của một tập đoàn
thống
trị
cấu
kết
nhau trong quyền và lợi.
Phạm Thị Hoài: Giới trí thức có
cần
sự lãnh đạo đó không?
Tiêu Dao Bảo Cự: Đặc
điểm
của
giới
trí thức là nặng tư duy,
thích
phản
biện
và sáng tạo. Nếu lãnh
đạo
đã đưa ra định hướng
cứng
nhắc,
ràng buộc trí thức thì
không những không giúp
ích cho sự phát
triển
của
giới
trí thức mà còn
làm cho họ trở nên
thui chột, xơ cứng, thậm chí hèn
nhát, tráo trở, gian dối để được lòng lãnh
đạo.
Điều
này đã làm
cho sinh hoạt của giới trí thức trì trệ trong
nhiều
năm qua, tụt hậu rất xa so với các nước khác,
trên mọi lãnh vực nghiên
cứu
khoa học,
giáo dục, văn học nghệ thuật.
Hiện nay tôi là một người cầm bút tự do, tôi
chẳng
cần
bất
cứ một sự lãnh đạo nào. Tôi
nhìn nhận, đánh giá
mọi
việc
theo tư duy, trí tuệ và
lương
tâm
của
mình. Tôi viết, dù là chính
luận
hay sáng tác văn học đều hướng về chân – thiện – mỹ, những giá
trị
có tính phổ quát
toàn nhân loại mà tôi có
thể
thu nhận qua tri thức đông tây
kim cổ. Tôi không
cần
một
lý thuyết hay sự chỉ đường của bất cứ ai.
Đối với riêng
tôi, điều mong chờ lớn nhất là
sự tỉnh thức, can
đảm
đứng
lên làm chủ của người dân,
đại
bộ phận nhân dân, mà
đi đầu là tầng lớp tinh
hoa và giới trẻ. Điều này
cần
có thời gian. Nhưng thời gian
kéo dài cũng
có nghĩa là chịu đựng và khổ đau
kéo dài.
Những tiểu đoạn viết về dòng
sông Hương trong tiểu thuyết Trên đỉnh thanh xuân
Anh vẫn cầm lấy tay
cô,
kéo
cô
nhẹ
nhàng
đi ra cổng, bước vào con ngõ
dài
thăm
thẳm
chạy
ra đến
tận
con đường nằm bên bờ sông
Thơm.
Con ngõ
từng
chỗ
sáng
tối
mông
lung huyền
hoặc
dưới
áng trăng. Hai bên, khi là mấy cây sầu đông lá nhỏ, nơi là hàng dâm
bụt
xén
thẳng
tắp,
chỗ
là
rặng
tre kĩu kịt trùm phủ khoảng không trên mặt đường. Hoài
cầm
tay Siam đi
qua những
vùng
sáng,
tối
đó, cảm thấy mình lướt êm đi trong trăng, trong đêm. Khuôn
mặt
cô
gái
bên
cạnh
anh dù trong bóng
tối
mờ vẫn sáng
rỡ một mầu trắng lạ lùng.
Và
bàn
tay cô vẫn mát và mềm mại chuyền qua người anh một cảm giác yên
bình
thanh thản. Hai người hầu như im lặng đi bên nhau cho đến
cuối
ngõ.
Không
gian vỡ oà ra trước mắt họ. Trăng
lồng
lộng
trên
cao, tứ bề. Dòng sông là một giải ngời sáng lao xao trăng nước từ thượng nguồn về đến
trung tâm thành phố, lượn nhẹ một đường cong mềm mại ngang
trước
con ngõ.
Bên
kia bờ
là
khối
đen im lìm cây
lá
của
các
xóm
làng,
bên
này
bờ,
dưới
chân
hai người, con đường nhựa phủ ánh trăng viền một đường bạc lấp lánh dọc theo dòng sông.
………………….
Hoài đi nhanh ra cửa, bỏ Hoài Nhân chưng hửng ngồi lại một mình.
Anh không
phải
khó
chịu,
ác cảm với Hoài Nhân nhưng sáng nay anh muốn một mình.
Anh bỏ
giảng
đường đi ra bờ sông, ngồi xuống bãi
cỏ để nhìn dòng nước Sông Thơm dịu dàng. Siam đã là dòng sông
xanh mát chảy vào trong tâm
hồn
anh cát khô sa mạc.
………………………….
Bậc
thềm
này
cao dễ đến
hai mươi thước so với mặt sông phía trước, dưới chân đồi. Trong đêm khuya,
trăng
rằm
lồng
lộng,
nhìn
ngút
mắt
về hai phía thượng nguồn và hạ lưu, dòng sông ngời ánh bạc như dài rộng đến vô cùng, vừa hư ảo, huyền bí, vừa hùng tráng lạ lùng. Cây bông sứ già lay động những chiếc lá thuôn dài điểm những vệt sáng trên
khuôn
mặt
trắng
ngời
của
Siam như
những
chiếc
hoa sứ trắng muốt trên cành và rơi rụng đầy
quanh chỗ ngồi của hai người. Một mùi thơm dịu dàng
lan tỏa trong không gian. Sự hòa điệu tuyệt vời của đêm trăng, dòng
sông,
ngôi
tháp,
mầu
sắc
và
hương
hoa sứ làm Hoài và Siam như muốn lịm đi, hòa tan vào trong khung cảnh.
…………………
Hoài kéo tay Siam đứng dậy. Cô miễn cưỡng đôi chút rồi cũng
đứng lên. Hoài dìu cô
đi chầm chậm xuống từng bậc thềm, băng qua con đường rồi nhảy qua các bậc đá xuống mép nước. Sóng vỗ miên man vào các
phiến
đá lớn đã bị bào mòn qua năm tháng.
Hai người
ngồi
trên
một
phiến
đá phẳng thòng chân xuống nước. Hoài cúi xuống vốc nước rửa mặt và Siam cũng làm
theo. Nước mát quá làm Hoài không muốn lau mặt và cũng ngăn
không
cho Siam lau. Anh áp hai bàn tay còn ướt
của
mình
vào
má
cô
và
nhìn
cô
chăm
chú.
Đôi mắt cô hơi to, lòng đen thật đen và lòng trắng phớt xanh phủ nhẹ một làn nước lấp lánh ánh trăng. Hàng mi dài mỗi lần cô
chớp
mắt
như
khép
lại
rồi
hé
ra cả một cõi trời lung linh. Khi cô
mỉm
cười,
hàm
răng
trắng
muốt
làm
sáng
bừng
cả khuôn
mặt
và
chiếc
răng
khểnh
thì
thầm
một
lời
mời
mọc.
Chiếc
mũi
không
cao nhưng thanh tú rất hài hòa
với
khuôn
mặt
và
nụ cười. Khuôn
mặt
trắng
muốt
của
cô
càng
ngời
lên
trong mái tóc dài đen huyền xỏa xuống quá vai.
………………………..
Từ nhà Siam ra, Hoài thẫn thờ đạp
xe dọc theo bờ sông. Cảm giác
cô
đơn thấm đẫm tâm hồn anh. Sao lúc nào anh cũng
cảm
thấy
mình
chỉ
có
một
mình
dù
anh đã có người yêu và được đền
đáp. Anh khao khát cái gì? Anh ích kỷ quá chăng? Anh đã bất công đối với Siam. Anh đã trách móc cô vô lý. Làm sao lúc
nào
Siam cũng
phải
là
của
riêng
anh, chỉ một mình anh thôi.
Nhưng
rõ
ràng
anh không chịu được
nhìn
Siam vui vẻ giữa người khác. Thà anh không
nhìn
cảnh
đó. Thà anh cô
đơn đạp xe
đi dọc dòng sông này.
Dòng sông rực rỡ trong
ánh sáng ban mai. Những đợt sóng lăn
tăn
lấp
loáng
ánh bạc. Vài chiếc thuyền xuôi ngược rẽ nước nhưng không hề khuấy động được
dòng
sông
êm ả.
Sự bình
lặng
của
dòng
sông
như
một
sức
mạnh
trầm
hùng
không
gì
lay chuyển
được. Dòng
sông
là
sự vững chãi
lâu
bền,
là
chỗ
dựa
cho tâm hồn anh từ thuở ấu
thơ.
Thuở bé, từ khi mới năm, sáu tuổi, Hoài sống với bố mẹ ở
tỉnh
khác
nhưng
mùa
hè
nào
Hoài
cũng
về đây thăm ông bà nội. Sáng nào ông nội cũng đưa anh ra
sông
tắm
và
tập
bơi.
Anh tập
bơi
tương
đối dễ dàng. Ban đầu ông nội để tay dưới bụng nâng
nhẹ
anh lên, hướng dẫn cách khoát tay, đạp chân. Sau vài
lần
như
thế,
ông đưa
anh ra chỗ sâu rồi thình
lình
bỏ anh nhoai vào bờ. Anh chìm
xuống,
sặc
nước
mấy
lần,
ngoi lên cuống cuồng kêu cứu nhưng ông vẫn không ra. Cuối cùng anh cũng
vào
được bờ sau
khi đập
tay chân loạn xạ và uống nước no bụng. Thế là anh biết bơi.
Khi đã bơi được khá hơn, anh
và
mấy
bạn
trong xóm rủ nhau chặt mấy cây chuối làm
phao để
bơi
qua bên
kia sông.
Đó là lần chinh phục đầu tiên trong đời
làm
anh vô cùng kiêu hãnh. Sau mấy lần bơi qua sông bằng phao cây chuối, tụi anh đã mạo hiểm bỏ phao bơi tay
không.
Dòng
sông
rộng
gần
một
cây
số nên
bơi
qua sông
hoàn
toàn
là
việc
không
đơn giản nhưng tụi anh
đã làm được. Đó là lần chinh phục thứ hai
và
anh nghĩ rằng mình có thể làm được mọi chuyện nếu mình có ý chí. Từ đó anh tha
hồ
tung hoành
trên
dòng
sông.
Tụi
anh tổ chức những cuộc thi bơi vượt sông rất hào
hứng,
có
khi bơi qua lại đến
hai vòng. Lớn lên một chút, tụi anh bắt đầu bơi đi thám hiểm các bến bên kia sông. Bờ bên
kia, các
nhà
có
vườn
ra tận bờ sông và mỗi vườn đều
có
bến
riêng
để tắm giặt. Các anh đã cả gan
chòng
ghẹo
các
cô
gái
bên
đó khi các cô
xuống
bến
một
mình.
Thỉnh
thoảng
tụi
anh cũng lén leo lên
bờ,
vào
vườn
để hái trái cây, bị chủ nhà rượt đuổi phải phóng xuống sông bơi bán sống bán chết.
Đôi lúc không
có bạn, anh đi bơi một mình. Anh bơi ra
giữa
dòng,
nằm
ngửa,
đập tay
chân
nhẹ
nhàng
để khỏi chìm và nhìn lên bầu trời trong xanh
không
một
gợn
mây.
Cảm
giác
bềnh
bồng
trên
sóng
nước,
một
mình
giữa
dòng
sông
làm
anh cảm thấy một nỗi cô đơn êm ả. Dòng sông
nâng
đỡ anh như một người mẹ dịu dàng. Anh không
hề sợ hãi
khi nhớ đến
lời
dọa
của
ông nội nói sông có "ma gia", năm
nào
cũng
bắt
một
người.
Anh cũng
không
lo lắng
khi lướt êm trên những khoảng sông
đầy rong
rêu,
thực
sự là
mối
nguy hiểm khi mắc chân vào
những
sợi
mềm
nhơn
nhớt,
điều
có
thể
làm
một
tay bơi giỏi phải chìm xuống đáy nước. Đã có vài trường hợp như thế nhưng anh không quan tâm lắm. Anh tin cậy vào dòng sông và tin cậy vào sức mình. Dòng sông với anh là người mẹ, người bạn chứ không phải là
kẻ
xa lạ,
dứt
khoát
không
phải
là
kẻ thù.
Hoài miên
man nghĩ về dòng sông khi đạp xe
song hành
với
nó
về phía
phố.
Chợt
anh thấy một đám đông tụ tập ồn ào bên bờ sông gần Cầu Trắng. Anh tò mò đến gần, dựng xe đạp vào một gốc cây
rồi
len xuống xem.
Dưới
sông,
một
xác
chết
đang bập bềnh tấp vào bờ. Xác chết của một người đàn ông chỉ mặc một chiếc quần đùi đen. Thân
thể
xác
chết
trắng
lốp
như
một
con heo cạo lông. Cái xác to gấp rưỡi người thường, bụng, tay, chân, ngực đều căng phồng lên
như
được bơm hơi bên trong. Một vài chỗ, cả trên mặt, đã bị cá rỉa thành từng lỗ lam nham vì thịt tua
ra.
Nhiều
tiếng
nói
nổi
lên
trong đám
đông:
- Tội nghiệp! Chắc chết đã mấy ngày rồi mới chương lên như thế.
- Gia đình, thân nhân biết được chắc đau khổ lắm.
- Ai có gan kéo lên
bờ đi. Tội nghiệp quá.
- Tội nghiệp chi! Một giọng tức giận vang lên. Việt Cộng đó. Mấy hôm trước đánh nhau
trên
kia nghe nói Việt Cộng chết nhiều lắm. Nhiều đứa
bị bắn lúc vượt sông. Cứ để đó cho
cá rỉa.
Một
giọng
khác:
- Răng mà độc ác rứa. Việt Cộng hay ai chết cũng là người thôi. Người chết nào không
đáng thương xót.
Một
giọng
khác
nữa:
- Thôi đừng ở đó cãi nhau. Tìm cách kéo người ta lên rồi đi báo cho cảnh sát. Để
xác
chết
dưới
sông
rữa
lây
bệnh
cả thành
phố
bây
giờ.
Dưới
sông,
xác
chết
vẫn
bập
bềnh
tại
chỗ.
Hai hốc
mắt
bị cá
rỉa
thành
hai hố đen ngòm nhìn
xoáy
lên
đám đông. Hoài nổi da gà và cảm thấy buồn nôn. Anh vội vã
bỏ lên
bờ lấy xe đạp
về nhà.
Chao ôi, dòng sông êm
ả của anh
cũng
tàn
ác thế sao. Dòng sông
là
người
mẹ dịu hiền, người bạn tin cậy, sự thanh bình của đời
anh sao lại mang
cái
chết
kinh hoàng đến cho người khác. Không,
không
phải
tại
dòng
sông.
Đó là tội ác của con người. Chính con người giết con người, nào
phải
dòng
sông.
Dòng
sông
bị mắc tiếng oan. Người chết là Việt Cộng? Việt Cộng là ai? Người Việt theo Cộng sản. Cộng sản là
gì?
Cộng
sản
là
kẻ thù
của
quốc
gia như người ta vẫn tuyên truyền hằng ngày. Thực ra, những năm qua, ở tuổi học trò trung
học
vô
tư,
anh chưa nghĩ gì nhiều về vấn đề này. Anh chỉ biết đất nước đã bị chia cắt làm hai miền, mỗi bên
theo một chủ thuyết đối
nghịch
nhau và hai miền đang ở
trong cuộc chiến tương tàn. Miền Nam là thế giới tự do. Miền Bắc là Cộng sản vô thần. Có phải hai miền không thể chấp nhận nhau và nhất định phải tiêu diệt nhau? Vậy thì đâu là dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam? Người nằm chết dưới sông kia nhất định là người Việt Nam. Nhất định người đó có gia đình, người thân, có ước
mơ về hạnh phúc.
Người
đó đã dám chiến đấu
và
chấp
nhận
cái
chết.
Người
đó đã bị người khác giết chết. Và người đó chắc cũng đã từng giết chết người khác. Người ta hủy hoại lẫn nhau để đạt
được được điều
gì?
Chỉ
tội
nghiệp
cho dòng sông của anh bị mang
tiếng
oan. Dòng sông chỉ là chứng nhân, là nơi ghi dấu tội ác của con người thôi. Dòng sông của anh không bao giờ bị vẩn đục, ô uế, ngay
cả bởi xác
người.
Dòng
sông
của
anh có thể tẩy rửa tất cả vì nó có khả năng vô nhiễm. Anh vẫn có thể đắm mình trong nó
để quên đi
những
phiền
muộn
trong cuộc đời.
Có
thể
nào
như
thế
được chăng?
………………………………
Hoài đau đớn trước sự bất lực của mình.
Anh mệt
mỏi
bỏ đi. Anh đi theo
con ngõ.
Ra đường lớn. Đến bến sông trước ngôi
tháp
cổ.
Một
mình.
Dưới
ánh trăng lồng lộng và lạnh lẽo suốt xương da.
Hoài ngồi ở đó cho
đến tận hừng đông. Anh chỉ là một tượng đá cô đơn. Suốt đời
cô
đơn. Đó là định mệnh của anh.
………………………….
Thuyền
ra giữa dòng sông đêm.
Con sông
xanh thẫm, êm và lặng như một mặt hồ. Mặt nước lấp lánh ánh trăng khoác nhẹ một làn sương khói mơ hồ che khuất dòng chảy ngầm lặng im bên dưới không thôi hướng về phía biển. Khoảng này, con sông Thơm trữ tình
lãng
mạn
đang đi ngang
qua giữa
Thành
phố
thơ
trầm
mặc.
Trăng
soi chếch
vào
khoang, nơi năm chàng sinh viên
đang nằm ngồi ngổn ngang với những ly
rượu
sóng
sánh
đã vơi đầy
nhiều
lượt.
Mặt
nước
nâng
ánh trăng rung rinh xao động quấn quýt quanh mạn thuyền.
…
Hoài nhìn ra vùng trời nước đã nhòa đi
trong ánh trăng mờ, nói như độc
thoại,
khi quay lại, Vỹ đã ngủ tự lúc nào, đầu vẫn gục xuống khoang thuyền. Hoài kéo chăn
đắp cho
bạn
và
thẫn
thờ
nhìn
xuống
nước.
Nước
vẫn
lặng
lẽ xuôi
dòng
và
âm vang nhè nhẹ trong tiếng vỗ mạn thuyền. Bên cạnh, những người kia
cũng
đã say ngủ. Riêng Trình, trong cơn mê
vẫn
còn
lảm
nhảm
gọi
trăng,
nước
và
Thảo.
……………………………
Nhóm Hoài bước vào lớp của Siam khi đã gần cuối buổi học. Đã hai tháng rồi từ sau buổi đoạn tình anh không
gặp
cô.
Cô
ngồi
ở bàn gần cuối lớp. Có
cái
gì
thật
khó
tả trong cái nhìn của cô: đau đớn,
oán
trách,
phiền
muộn.
Hay tất
cả các
thứ
đó trộn lẫn. Hoài nhìn cô chăm chú suốt thời gian thằng bạn anh
giới
thiệu
về tờ báo.
Khi hắn
chấm
dứt,
anh lẳng lặng cầm một tờ báo đi
thẳng
đến bàn Siam, đặt trước mặt cô trước sự ngạc nhiên của hai cô bạn ngồi hai bên. Anh nói
nhẹ
nhàng:
- Siam, hãy nhận những gì
sau cuối anh còn có
thể
gởi
đến cho
em.
Nói xong anh im lặng bước ra
khỏi
lớp
học
để mặc các bạn tiếp tục phát hành báo. Anh lại đi ra phía bờ sông,
đốt một điếu
thuốc
ngồi
nhìn
dòng
nước
vẫn
không
thôi
hướng
về phía
biển.
Dù
thế
nào
chăng
nữa,
tình
yêu
của
anh đối
với
Siam vẫn
như
dòng
nước
này,
không
bao giờ
khô
cạn
và
không
bao giờ
ngưng
nghỉ.
…………………………..
Hoài không nói gì. Anh lặng lẽ đạp xe lên dốc. Đến một ngả ba,
hai người chia tay nhau sau khi
hẹn
giờ
gặp
nhau ngày mai. Hoài đạp xe chầm chậm đến công viên
gần
bờ sông.
Anh tựa
xe đạp
vào
một
gốc
cây
và
ngồi
xuống
bãi
cỏ.
Lòng
anh hoang mang. Mặt nước phía trước lấp loáng ánh sáng. Ý tưởng trong đầu anh
rõ
dần.
Buổi
nói
chuyện
vừa
rồi
chứng
tỏ Lãnh
Tụ Tối Cao quả thật độc tài. Độc tài có
cần
thiết
không?
Nếu
độc tài sai lầm, hậu quả bi thảm sẽ không lường được.
Lãnh
tụ có
quả
thực
sáng
suốt
hoàn
toàn
như
ông tin tưởng? Hoàn cảnh hiện tại không cho Hoài tin như thế. Anh không đồng ý nhiều điểm
trong chủ trương của Lãnh tụ. Hiện tình đang bế tắc, chưa tìm được lối thoát. Ngày mai sẽ ra sao? Ít ra anh
phải
được bày tỏ những cảm nghĩ.
Sự đóng góp nào cũng cần thiết trong lúc này.
Lãnh
tụ đã cự tuyệt mọi sáng kiến chỉ vì ông tin mình đúng khi chưa chịu nghe
người
khác.
Vấn
đề đã quá rõ ràng và anh thừa sáng
suốt
để nhận định. Tại sao Lãnh tụ có
thể
nghĩ
như
thế
được? Vì
những
hậu
ý nào, những khó
khăn
nào
không
thể
nói
ra? Rồi sao. Các anh, những người trẻ sẽ đơn phương hành động. Mọi sự sẽ đi đến
đâu? Tương lai bấp bênh nghiệt ngã.
Hoài nhắm mắt lại một lúc rồi mở choàng
ra. Dòng sông trước mặt chợt biến hình. Dòng sông xanh êm mà anh đã đầm
mình
tắm
mát
một
thời
thơ
ấu. Dòng sông tuyệt vời ru êm một thành phố hiền hòa không còn dáng vẻ cố hữu nữa. Mặt nước phẳng yên như nâng cao lên,
im sững. Dòng nước chảy vô hình thể chìm sâu bên dưới quằn quại như một con rắn trườn mình. Dòng sông tách lànm hai phần. Và
bề mặt lặng yên
phủ
lên
chiều
sâu
cuồng
phẫn,
âm thầm.
………………….
Chúng ta đi bộ qua phố ăn
sáng.
Chiếc
Cầu
Trắng
đầy sương mù. Tôi
đi trước một mình. Dòng nước loang loáng bên
dưới
như
một
sự sống trường cửu âm thầm. Thành cầu lạnh vắng. Tôi đi
như
đi một mình trong buổi sớm. Vị cô
đơn thấm vào từ đầu mấy ngón tay rã rời tê buốt.
………………….
Chúng tôi thường gặp nhau
buổi
tối
những
đêm trăng. Tôi từ nhà trọ ở
phố
đạp xe
mấy
cây
số lên
tìm
Siam. Chúng
tôi
đưa nhau
ra bến đá bên dòng sông trước ngôi tháp cổ. Đêm trăng ở đây
thật
tuyệt
vời.
Dòng
sông
phẳng
lặng
uốn
mình
bên
ngôi
tháp
cổ kính
với
những
gác
chuông
trống
và
bia ký chung quanh. Những bậc thềm cao ngất. Hai hàng sứ trắng tỏa hương. Một mặt đường. Một con dốc nhỏ. Rồi bến sông
với
những
phiến
đá lớn rập rình sóng nước. Chúng tôi ngồi trên những phiến đá, thòng chân xuống nước, ngắm mặt sông lấp lánh trăng
sao và nói chuyện thì thầm như hơi thở. Thật khuya tôi mới đưa Siam về. Chúng
tôi
thường
hôn
nhau trước khi từ giã. Hai đứa đứng trong
vòng
tay nhau rất lâu.
Siam áp đầu
vào
ngực
tôi,
tôi
tì
cằm
lên
vai Siam, lắng nghe thịt da hai
đứa khăng khít
suốt
dọc
thân
xác.
Rồi
Siam từ
từ ngẩng mặt lên.
Trăng
qua cành
lá
tre đổ lên khuôn
mặt
trắng
ngần
của
Siam những
điểm
sáng
rung động. Môi
Siam mấp
máy,
mắt
mở lớn chờ đợi. Tôi
cúi
xuống
trên
đôi môi đó như ngụp lặn vào một một vùng
si mê sáng láng. Rất lâu rất lâu. Rồi chúng tôi rời nhau không nói
một
tiếng
nào.
Siam đứng yên lặng, nhìn
theo cho đến khi
tôi
quay lại
vẫy
tay và khuất ở cuối ngõ. Tôi mang theo dư vị của nụ hôn trên đường về miên man và vào trong giấc ngủ nhẹ nhàng phới phới.
…………………
Đứng giữa đám người này, tình
yêu
xanh cao của anh dành cho cô
gái
đã bị hoen ố vì những câu hỏi dần dà
nảy
sinh trong óc anh. Tại sao
cô
đi làm cho Mỹ, nhất là
làm
ở một trại thẩm vấn? Vì tiền chăng? Cô
nghĩ
gì
về anh, về những người tù trong trại giam này, những đồng bào của cô đang bị đối
xử còn
thua những con vật? Cô làm công việc gì trong trại giam đó? Bọn cố vấn Mỹ khả ố
đối xử như thế nào với một cô
gái
xinh đẹp như cô? Cô đã bằng lòng cho chúng nó những gì để
đổi lấy đồng lương và những đồ hộp, những quà tặng sang trọng của bọn đế quốc? Hoài run lên và thấy mình bừng bừng với những câu hỏi này. Một niềm phẫn nộ dâng lên trong anh như cơn nước lũ. Hình ảnh cô gái nhảy múa nhòe nhoẹt trong óc anh và hình như bị bôi
đen đi bằng những vết sơn tàn bạo. Không,
anh không muốn oán trách cô. Anh chỉ thấy xót thương thôi.
Xót
thương
cho bàn chân trắng hồng xinh đẹp của cô đang bước vào vũng lầy bẩn thỉu. Không phải tội ở cô mà tội ở bọn đế quốc. Nếu bọn đế quốc không đến đây thì cô chắc chắn vẫn còn tha thướt trong sân
trường,
trên
con đường xanh
bóng
cây
dọc
theo bờ sông sau khi tan học. Và anh đã có thể đứng đợi
cô
nơi
bến
đá để cùng cô
đi một chuyến đò ngang qua con sông
rất
dịu
dàng
của
Thành
phố
Thơ
này.
…………….
Những tiểu đoạn viết về Đà Lạt trong
tiểu
thuyết
Nửa
đời nhìn lại
Tỉnh đã cấp nhà để
làm
trụ
sở của hội nhà
văn.
Đây là một biệt thự nằm trên đường Thông
Xanh, con đường đẹp
và
yên
tĩnh
nhất
thành
phố
Sương
Mù.
Biệt
thự
này
cũ
kỹ và
có
thể
nói
là
xấu
nhất
trong hàng trăm biệt thự trên con đường này, lại ở cuối đường, nơi một khu vực khá hẻo lánh, xa trung tâm nên việc đi lại rất bất tiện. Các biệt thự sang trọng, tiện nghi
đã được
dành
làm
nơi
nghỉ
dưỡng
của
các
ông lớn hoặc làm khách sạn du lịch. Sau nhiều tháng anh em nhà văn đề
xuất,
cuối
cùng
nhân
có
một
cơ quan sắp nhập vào một cơ quan khác theo chủ trương của trên, trụ sở phải chuyển đi, nên
người
ta lấy
trụ
sở đó cấp cho hội nhà văn. Thế cũng
là
quan tâm lắm, không thể đòi hỏi gì hơn đối với cái hội sinh sau đẻ muộn và phù phiếm này.
Ưu điểm
của
biệt
thự
này
là
không
khí
yên
tĩnh
và
khoảng
sân
rộng
trước
nhà.
Thật
ra đó không phải là sân mà là một khu vườn rộng chỉ có thông và
hoa cỏ dại. Chủ nhân trước đây xây dựng ngôi
nhà
hẳn
là
một
kẻ muốn xa lánh
cuộc
đời nên dù
ngay ở khu vực lặng lẽ này, ông ta đã cho xây nhà
sâu
vào
bên
trong đến gần hai trăm mét
trong khi các
biệt
thự
khác
đều xây dựng sát
đường cái. Sáng sớm và lúc chiều về, sương mù
lảng
đảng trong
vườn
thông,
quyện
lấy
căn
nhà
bằng
một
vùng
bồng
bềnh
tơ trắng.
Khi nắng
lên,
sương
tan và
bãi
cỏ xanh mượt mà dần đổi
sắc,
điểm
đầy hoa
vàng.
Những
bông
hoa bé nhỏ yếu ớt, chiều và
đêm xếp lại náu mình trong cỏ xanh, chỉ xuất hiện một cách bất ngờ khi có ánh nắng mặt trời ban mai. Không
gì
tuyệt
thú
bằng
được nằm dài trên
đám cỏ xanh điểm
hoa vàng này, nhắm mắt lơ mơ nghe nắng nhảy múa trên
mặt,
không
suy nghĩ gì hay chỉ tơ tưởng về một chuyện đời xưa cũ.
………………….
Hôm nay, Nguyễn Vũ
mời
Minh Hương,
Hoài
và
năm
người
dự định tham
gia nhóm hợp tác đi
uống
cà-phê tại nhà Thủy tạ, để bàn việc thành lập nhóm. Nhà Thủy tạ là một công trình độc đáo trên hồ Hương Xuân, được
xây
dựng
từ thời Pháp thuộc. Nhà hàng nằm trên
một
doi đất
nhỏ
ven hồ, cạnh đường, nhưng vươn hẳn ra mặt hồ bằng những trụ chân cắm xuống đáy. Nhà hàng gọn gàng, xinh xắn, có
sân
thượng
bên
ngoài
và
cầu
nhảy
dành
cho câu lạc bộ bơi lội ngày trước. Đây là một công trình
kiến
trúc
rất
đặc trưng và nổi tiếng của thành phố du lịch trên
cao này. Từ ngày nhà nước quản lý và nhà hàng trở thành quốc doanh, có mất đi không khí yên tĩn và vẻ thơ mộng ngày xưa. Thay vì chỉ bán cà-phê
giải
khát,
người
ta bán
cả đồ nhậu, bia rượu và căn phòng
chính
của
nhà
hàng
lúc
nào
cùng
đông nghẹt. ồn ào và sặc sụa mùi thuốc lá. Rồi lại lối phục vụ ghi phiếu, trả tiền trước của các mậu dịch viên
ăn lương nhà nước lúc nào cùng uể oải. Người ta chỉ nghĩ đến kinh doanh,
chưa
hiểu
được tính chất văn
hóa
trong những nơi giải trí, tham quan du lịch. Người ta đã vật chất hóa và tầm thường hóa mọi công trình và thắng cảnh, làm cho trung tâm du lịch này xuống cấp và xuống giá một cách khủng khiếp.
…………………
Minh Hương đang dõi mắt về ngọn núi
Mẹ
xa xa đang nhòa dần trong sương chiều rồi như sực tỉnh:
- Này, nhân tiện đặt
tên
nhóm
Hương
Xuân,
tôi
muốn
tham khảo ý kiến các ông về việc đặt
tên
cho tạp chí văn học của chúng ta. Nhiều anh
em đã đề xuất, nào là
Ngàn
Thông,
Cao Nguyên,
Sương
Mù,
Ngàn
hoa... Nhưng tôi thấy chưa ổn. Tên
tạp
chí
phải
đặc trưng hơn, gợi hơn, nhiều ý nghĩa hơn. Ngọn núi
cao nhất của vùng đất này là núi Mẹ, còn có tên là La Ban, một cái tên
dân
tộc
đầy âm hưởng và chứa đựng một huyền thoại lạ lùng. Tôi rất mê cái tên này. Tạp chí văn học phải có một cái tên thật văn học. Tôi biết mấy ông lãnh
đạo
của
tỉnh
chỉ
muốn
gọi
là
tạp
chí
văn
học
của
tỉnh,
cũng
như
tờ báo
mang tên của đảng bộ tỉnh. Tham vọng của chúng ta đâu
phải
chỉ
làm
một
tạp
chí
trong khuôn khổ của tỉnh này mà còn lớn hơn nhiều. Ta phải chọn một cái tên thật hay rồi thuyết phục mấy ông lãnh đạo.
Hoài lẩm nhẩm rồi nói lớn ý nghĩ của mình:
- La ban... La Ban... Minh Hương và tôi đã nhiều lần trao đổi về cái tên
này.
Đây là một truyền thuyết về chàng La và nàng Ban. Chàng
La vì
tình
yêu
và
công
lý
cho con người đã dũng cảm lên tới tận trời đấu
tranh cho chính
nghĩa.
Nàng
Ban cũng
vượt
qua tục
lệ khe khắt của bộ tộc để đến với tình yêu. Cả hai đều chọn cái chết hơn là
phân
ly vì những luật tục hẹp hồi mù quáng. Tính chất nhân văn đẹp đẽ biết chừng nào. La Ban còn
là
đỉnh cao.
Đỉnh
cao của trí tuệ, nhân phẩm, văn học nghệ thuật. La Ban lại là suối nguồn, dòng sữa mẹ, vì theo một truyền thuyết khác,
hai đỉnh núi kia là hai
bầu
vú
của
Mẹ
in hình
lên
trời
xanh. Đó là suối nguồn của văn học nghệ thuật. Ở xứ này, trời đã cho ta một cái tên
như
thế
mà
không
dùng
thì
uổng
quá.
Nguyễn Vũ
đảo mắt nhìn mọi người.
Anh lẹ
miệng
hưởng
ứng ngay:
- La Ban. Nghe được quá. Chúng
ta phải
dựng
ngọn
cờ trên
đỉnh cao
này.
Bao lâu
nay người
ta đã bôi bẩn đỉnh cao tuyệt đẹp này. Bây
giờ
chúng
ta phải
làm
cho nó tỏa sáng lên.
…………………..
Ở nhà hàng Thủy Tạ ra, Minh Hương và Hoài đi
bộ về nhà.
Cơn
mưa
đã tạnh đột
ngột
như
khi nó bắt đầu.
Cuối
mùa
mưa,
đầu mùa khô
của
xứ này,
khoảng
tháng
10, 11, có
những
cơn
mưa
gần
như
mưa
rào
của
xứ nóng.
Sau cơn
mưa,
không
khí
lạnh
thêm
đến gần như buốt giá. Trời đã vào đêm.
Những
ngọn
đèn đường tù mù và hiếm hoi nhưng trên con đường đẹp
nhất
thành
phố
này,
những
nghệ
sĩ
lang thang và
những
cặp
tình
nhân
không
cần
đến ánh điện. Mây đã tan hết. Sao nhấp nháy
trong hàng cây phủ ngợp mặt đường. Dưới xa kia, những ngọn đèn và những ô cửa sổ của thành phố lờ mờ trong biển sương như một xứ sở nào xa xăm.
Mùi hoa dại, lá
cỏ mục phảng phất. Thỉnh thoảng, một đám sương mù dày đặc từ trong rừng ùa ra rồi tan đi.
………………………………..
Mặt
hồ về khuya như một tấm gương đen thăm thẩm. Những đợt sóng lăn
tăn
âm thầm dưới lớp khói sương. Những ánh sao
đêm nhấp nháy lạnh lẽo và xa vời như những lời mời gọi huyền bí và đầy trắc ẩn. Hai người không
nói
chuyện
nữa.
Im lặng đã ngự trị cả nội tâm và đất trời như một bầu khí ngột ngạt khó thở. Cuối cùng, không chịu đựng nổi, Sơ Huyền đứng lên bảo:
- Thôi, mình về đi. Ngồi đây thêm nữa chắc em sẽ nhảy xuống hồ mất.
…………………
Đồi
Êm là một thắng cảnh gồm ba ngọn đồi thoai
thoải
kế tiếp nhau, nằm song song với hồ Hương Xuân, ngay cạnh khu
trung tâm làm cho thành
phố
này
có
một
không
khí
yên
tĩnh
dịu
dàng
đặc biệt ít nơi nào có. Đồi toàn cỏ mượt mịn màng, luôn xanh non pha phớt tím, dù dưới nắng chan hòa, trong sương mù hay giữa cơn mưa tầm tã vẫn có sức quyến rũ lạ lùng. Những cây
thông
rải
rác
tỏa
bóng
trên
khắp
ngọn
đồi nhưng vẫn dành lại những khoảng rộng để nhìn vào ta có ấn
tượng
đây là đồi cỏ chứ không phải đồi
thông.
Sự hài
hòa thật tuyệt vời này là ưu
thế
của
thiên
nhiên
ở đây
nhưng
cũng
do trí
tuệ
và
trình
độ thẩm mỹ của những người quy hoạch, xây dựng thành
phó
trước
đây. Nếu thiếu hồ Hương Xuân
và
đồi Êm, thành phố này có lẽ mất đi đến ba
phần
tư
hay hơn
nữa
vẻ duyên
dáng
độc đáo của mình. Thế mà nghe nói
trước
đây đã có đồng chí lãnh đạo tỉnh chủ trương cuốc đồi
lên
để trồng mì. May mà sự ngu
dốt
đó chưa được
thực
hiện
hay chỉ
là
một
huyền
thoại
về sự ngu dốt của một số người lãnh đạo mà người dân ở đây đã đặt
ra để châm biếm. Mỗi lần đi qua đồi
Êm, Hoài
thấy
lòng
mình
tĩnh
lặng
hẳn
đi, vơi bớt buồn phiền lo nghĩ nhưng cũng có lúc anh thấy sự tĩnh
lặng
này
im ắng quá, thanh bình quá, gần như tẻ nhạt, đến
độ tầm thường trước cuộc sống sục sôi bão táp. Sự mâu thuẫn thường xuyên trong Hoài đã chi phối đến cả cách nhìn
cảnh
vật.
Dù
sao, thỉnh thoảng được
ngả
lưng
trên
đồi cỏ mượt cũng đã là một hạnh phúc cho những người biết tận hưởng vẻ đẹp dịu dàng bao dung của thành
phố
giữa
lưng
trời
này.
………………………
Hoài hôn nhẹ lên
đôi mắt dịu dàng, đắm đuối và khẩn cầu của Vy anh
lại
thấy
cô
như
ngày
xưa,
nhí
nhảnh,
tươi
mát
nhưng
lại
phảng
phất
nỗi
sầu
muộn.
Anh đứng dậy lấy áo mưa và chiếc dù. Họ đi ra
đường. Họ ôm sát lấy nhau và đi trong cơn mưa. Hơi thuốc của Hoài trong cơn mưa và
đêm lạnh dưới chiếc dù bé nhỏ làm Vy cảm thấy vô
cùng
ấm áp và hạnh phúc. Cả Vy và Hoài đều
biết
những
giây
phút
thế
này
vô
cùng
hiếm
hoi. Họ
đi bất định dưới cơn mưa mênh mông và bóng rừng thông âm
u trong đêm
tối.
………………..
Mặt
trời
vừa
nhô
lên
chiếu
những
tia sáng đầu tiên xua tan đám sương mù lạnh lẽo. Mới đầu
cô
hoa mắt, chỉ thấy một vùng thung lũng
trải
dài
với
những
cây
anh đào khô chết, cành khẳng khiu trùng điệp trong
làn
sương
mờ.
Cô
dụi
mắt
mấy
lần.
Ở chính giữa thung lũng, cách cô không xa, giữa những cây mai anh đào khẳng khiu là một cây thông
hùng
vĩ,
thân
lớn
đến mấy người ôm, cao ngất trời và tán lá
rợp
cả một vùng.
Hoài
đang bị trói dưới gốc cây đó, trước mặt anh là một tiểu đội
lính
dàn
hàng
ngang đang ở
trong tư thế chuẩn bị nổ súng. Sơ Huyền thấy rõ mặt Hoài. Khuôn mặt anh xanh
xao, đôi
mắt
đẹp dịu dàng ẩn chứa một nỗi đau đớn và sầu muộn vô cùng. Đôi môi anh mím
lại,
quả
cảm
như
một
lời
thách
thức.
Hoài
vừa
ngước
lên
nhìn
cô
và
mắt
anh chợt rực lên như một tia lửa. Sơ Huyền vừa gào lên
vừa
chạy
bổ về phía
anh:
- Ngừng lại! Không được bắn! Không được bắn? Không! Không!
……………………
Khi cô chạm vào
Hoài,
sợi
dây
trói
anh bỗng rời ra, rớt xuống đất. Hoài quàng tay bế cô lên và đặt cô ngồi xuống bên gốc cây. Anh mỉm cười:
- Không đâu. Anh làm sao
chết
được. Sao anh lại chết trong mùa mai anh đào nở. Em xem kìa.
Giọng anh ấm
áp, đầy
tự
tin và
như
một
thoáng
reo vui. Cô
quay lại.
Cả một thung lũng rực sắc hồng. Chao ôi
là
hoa. Đúng là một rừng hoa. Những cây mai anh đào khô chết cô thấy lúc đầu bây giờ đã đơm
đầy hoa.
Hầu
như
không
có
lá,
kể cả lá
non. Chỉ
có
những
bông
hoa bé nhỏ, cánh hồng đơm
đầy che
khuất
hẳn
các
cành
khẳng
khiu. Mỗi đóa hoa
là
một
đốm ánh hồng. Mỗi cây là một ngọn lửa hồng. Cả thung lũng là
một
vùng
lửa
hồng
bập
bùng,
ngời
lên
trong ánh nắng. Chưa bao giờ cô thấy cảnh tượng này. Cô sực nhớ đến
tiểu
đội lính hành
hình
nhưng
chúng
đã biến mất như chưa bao giờ xuất hiện. Cô tưởng mình nằm mơ. Cô ấp
úng:
- Có thật không
anh? Sao lại thế này?
Hoài cười. Tiếng cười anh
trong trẻo:
- Em không
tin à? Mà em có thích không
? Em đã từng mơ ước đến một thung
lũng
mai anh đào kia mà. Anh tặng em
rừng
mai này đó. Chính
tay anh đã trồng cùng với sự giúp sức của một bầy chim. Chúng tha hạt đến
bỏ vào
những
hố đất anh
đào bằng chính bàn tay của mình.
Cây
lớn
nhanh đến mức không ngờ. Đây là mùa hoa đầu
tiên
và
em đã tới kịp như anh mong
đợi.
…………………….
Những tiểu đoạn viết về Đà Lạt trong
truyện
ngắn
và
bút
ký
Có lẽ gần khoảng nửa đêm. Nhà thơ đi một mình lang thang trên
những
con đường khuya
khoắt
của
thành
phố
thân
yêu.
Chàng
vừa
uống
mấy
cốc
rượu
nhỏ
với
một
người
bạn
thân,
cảm
thấy
đầu óc hơi lâng lâng và tâm hồn cũng chếch choáng. Trên đường về nhà nhưng chàng đi
không
định hướng. Đã bao lần chàng lang thang một mình trên
những
con đường này để suy nghiệm về cuộc đời, với bao đắng cay và
tin yêu
mà
chàng
đã sống trải.
Đêm nay nhà thơ cảm thấy lòng ấm áp dù đường khuya
im vắng lạnh lẽo. Sương mù bắt đầu
lan ra từ những cánh rừng thông.
Tiếng
gió
thì
thầm
trong lá những lời bí ẩn
chỉ
cảm
nhận
mà
không
hiểu
được rõ ràng. Có
lẽ là
lời
muôn
thuở
của
những
bản
tình
ca dịu
dàng
và
phóng
khoáng.
Hương
đêm thoảng trong gió, trong cây lá. Mùi hương này đối với chàng thân quen quá.
Hương
không
thể
gọi
tên
nhưng
không
bao giờ
lẫn
được. Lá
cỏ mục dưới các
cánh
rừng
ven đường rục rã. Những loài hoa dại không
tên
bé
nhỏ
âm thầm thở hơi nồng nàn vào đêm
sương.
Các
loài
hoa quý phái trong đêm cũng trở thành vô danh. Tất cả tan loãng và
quyện
vào
nhau thành hương đêm thành phố miền cao của thông, hoa và
thấm
đẫm sương mù này.
Lên hết con dốc, chàng đã bước vào giữa ngàn
sao. Bao nhiêu lần chàng
cảm
nhận
cảm
giác
tuyệt
vời
đó. Đi giữa lưng trời. Những ngọc đèn khuya nhạt nhòa của thành
phố
bên
dưới
còn
sao thì nhấp nháy, xao xác
trong cây, trên cao, trên
thăm
thẳm
vô
cùng.
Nhân
gian và hư vô hình như cũng gần kề trên
bước
lang thang giữa
lưng
trời
này.
Nhân
gian thấp hèn và cao cả nhưng gắn bó,
còn
hư vô
chỉ
là
những
thoáng
đẹp đẽ mong manh.
Chàng
đã làm thơ về cuộc đời
và
hư không.
Tiếng
thơ
của
chàng
ngợi
ca, than vãn, reo vui, sầu não, mơ mộng, bay trong gió
cuộc
đời và chạm tới hư vô.
(trích truyện ngắn Đối mặt)
……………………………
Gần
cuối
đời, họa sĩ
đến định cư ở thành phố Sương Mù.
Ông tự cho đó là diễm phúc của đời mình. Ông là kẻ đã đi nhiều, vẽ nhiều, hầu như khắp mọi miền của đất nước. Đôi mắt tinh tường của ông đã ngắm bao nhiêu vẻ đẹp
hùng
tráng,
thơ
mộng
cũng
như
những
cảnh
tiêu
điều,
đau thương của một quê hương hào hùng và khốn khổ, cả trong thiên nhiên
và
lịch
sử,
tâm
hồn
của
dân
tộc.
Tất
cả đã lắng đọng và ngân vang trong hàng
ngàn
tác
phẩm
của
ông. Nhưng càng về cuối đời,
ông càng nhận thấy những tác phẩm đó, dù được trưng bày nhiều nơi, trong và ngoài nước, ông cũng đã từng kiêu hãnh
về chúng,
lại
chưa
phải
là
tác
phẩm
đích thực của chính mình. Ông vẫn là kẻ trên đường tìm kiếm và chưa đi tới đích.
Lần
đầu tiên đến thành phố này,
ông đã bị thu hút ngay bởi vẻ kỳ diệu, có phần bí hiểm của một cảnh sắc thiên nhiên lạ lùng. Trước đó, ông đã nghe người ta ca tụng nhiều nhưng ông vẫn chưa hình dung, cảm nhận được sức lôi cuốn kỳ
bí
và
âm thầm của nó như lần đầu
tiên
nhìn
cảnh
tượng
huy hoàng của rừng thông trên ngọn đèo trước lúc vào
thành
phố.
Thực
ra đó là một cảm giác ông chưa nắm bắt được
rõ
ràng.
Mãi
cho đến
bây
giờ,
sau một năm ở thành phố, cảm giác đó vẫn còn, như một sự bất lực, một nỗi khắc khoải lâu dài trước cái đẹp, thiên
nhiên
và
nghệ
thuật.
Ông là họa sĩ từng được học hành chu đáo, có điều kiện nghiên cứu phong cách của nhiều trường phái hội họa đông, tây,
kim, cổ, bản thân ông cũng đã từng thể nghiệm nhiều bút pháp,
xu hướng,
có
tác
phẩm
được đánh giá cao nhưng rồi ông vẫn cảm thấy mình còn xa mới đạt
đến đỉnh cao
của
nghệ
thuật
này.
Phải
chăng
hội
họa
là
sự hòa
điệu
của
tâm
hồn
và
ngoại
cảnh
bằng
đường nét và
sắc
mầu
nhưng
âm chưa tìm ra được hòa âm lý tưởng. Càng lớn tuổi, nhất là khi về thành
phố
Sương
Mù
này,
ông cảm thấy gần gũi hơn với phong cách hội họa phương đông, nhất là tranh thủy mặc. Ông hiểu tại sao có người suốt đời chỉ vẽ trúc, chỉ bằng một mực mầu đen duy nhất, lại đạt đến độ vi diệu của nghệ thuật mà con người bao nhiêu thế kỷ sau vẫn còn ngưỡng mộ. Ông bắt đầu tin rằng chỉ có
thể
tìm
thấy
hội
họa
đích thực trong thiên nhiên
chứ
không
thể
tìm
ở đâu
khác.
Chưa
bao giờ
ông được
đắm mình trong thiên nhiên đầy đủ như ở đây.
Với
chiếc
ba lô nhỏ đựng đồ nghề sau
lưng,
ông đi lang thang suốt ngày
trong thành phố. Hầu như mỗi ngày ông đi bộ không dưới hai mươi cây số, bất kỳ thời tiết nào. Ông đi để chiêm nghiệm thiên nhiên, thỉnh thoảng mới dừng lại vẽ vài nét phác thảo lên
tập
giấy
dó
mang theo. Gần suốt một đời cầm cọ, với tay
nghề
điêu
luyện,
ông ký họa nmhanh như chớp. Nhưng vẻ đẹp của thiên nhiên nơi này thật khó nắm bắt. Hồ, rừng cây, núi, mây, trời, sương, hoa... nào có lạ gì đối với bàn tay lão luyện và cuộc đời
từng
trải
của
ông. Nhưng ở đây, mọi cái
tưởng
chừng
như
lắng
đọng lại không hề yên
tĩnh,
từng
lúc
lại
mang dáng vẻ và tâm hồn khác nhau. Có
lúc,
nhất
là
khi chiều tà, hồ, núi, mây, trời chỉ là những biên giới mờ ào, bỗng chốc hòa
lẫn
vào
trong sương. Trong một phút, vừa ký họa xong, ông đã thấy cảnh sắc khác đi.
Ông vẽ lại lần thứ hai nhưng điều
ông vừa ghi lại đã không còn. Sau vài lần như thế, ông hiểu mình không thể vội vàng. Biết bao nhiêu tác phẩm, kể cà thơ, văn,nhạc,
họa,
nhiếp
ảnh cố mô tả và ca ngợi thành phố này nhưng đã có mấy tác phẩm thành công, phần lớn chỉ là sự sao chép máy
móc,
nhợt
nhạt
hoặc
lời
ngợi
ca sáo
rỗng.
Ông tự hứa sẽ dành mười năm - thời gian cuối đời ông hi vọng còn sống và làm việc được
- để thâm nhập và vẽ về thành phố này. Ông hi vọng đó sẽ là những tác phẩm hội họa đích thực ở đỉnh cao mà ông sẽ cống hiến cho đời.
(Trích truyện ngắn Thành
phố
không
còn
họa
sĩ)
…………………
Lão
nằm
chết
lặng
lẽ dưới một gốc thông
bên
đồi Êm. Mãi khá lâu sau khi lão chết, gia đình đi tìm mới phát
hiện
ra. Bây giờ, người ta đã đưa
lão
ra nghĩa trang trong tiếng chiêng trống buồn bã.
Trong hai ngày qua, khi xác
lão còn quàn
ở nhà, thỉnh thoảng, tiếng chiêng
trống
báo
hiệu
đám ma và tiếng cầu kinh nổi lên, âm vang dài trong thung lũng. Đó là những gì người sống đã làm để
tỏ lòng
nhớ
tiếc
lão.
Nhưng
không
ai nhớ
tới
việc
đi tìm một cành trúc cắm trước nhà làm phướn để dẫn hồn cho
lão.
Trước
đây, khi trong
xóm
có
người
qua đời, bao giờ lão
cũng
đi tìm một cành trúc mang đến cắm trước nhà người quá cố. Để hồn họ biết đường tìm về xóm cũ. Ây
thế
mà
đến phiên lão,
người
ta đã quên.
Lão đã sống ở đây
gần
năm
mươi
năm,
là
một
trong nhữnbg người đầu
tiên
khai phá lập nên xóm này, hồi đất
còn
là
rừng
hoang còn cả dấu cọp. Xóm lão ở nằm ven thành phố, một thành
phố
du lịch
nằm
trên
cao nổi tiếng khắp cả nước với khí hậu mát mẻ, cảnh đẹp
và
hàng
ngàn
biệt
thự
đủ kiểu. Thế nhưng cuộc đời
của
lão
cũng
như
nhân
dân
lao động trong xóm ít được
hưởng
hứng
thú
của
thành
phố
du lịch
như
khách
nhiều
tiền
lắm
của
mọi
nơi
tìm
đến.
Lão và bà
con trong xóm đã bám lấy mảnh đất này, chặt cây,
dựng
lều,
cuốc
đất trồng trọt theo
ven suối. Hàng chục năm mới tạo được
cơ ngơi một nếp nhà
và
một
mảnh
vườn,
quần
quật
làm
quanh năm mới tạm đủ sống. Không phải dễ dàng
gì.
Sườn
đồi dốc, đất ba
dan dẻo
quánh
nên
làm
được mảnh vườn với nhiều tầng ngang
chỉ
với
hai bàn tay và
cây
cuốc
là
công
trình
sức
lực
và
mồ hôi
bao nhiêu
năm.
Đã thế, khí hậu rất khắc nghiệt, không chỉ như người ta ca tụng. Trước đây, ở nơi thấp nhất dọc theo
suối,
buổi
sáng,
sương
mù đọng hàng mấy giờ chưa tan và buổi chiếu, khí độc vô hình bốc lên đã làm đau ốm và chết không ít người. Sau này, khi đã lớn tuổi, lúc chiều muộn, lão không dám xuống vườn dưới nữa. Chỉ mới bước xuống thôi, dù đã mặc quần áo ấm, lão
đã thấy ớn lạnh và người ngầy ngật khó chịu, dù thế lão vẫn rất gắn bó
với
mảnh
vườn
của
mình,
nơi
mà
từng
nắm
đất đều in dấu vết bàn
tay sần sùi chai sạn của lão. Cả căn
nhà
nữa,
dù
mấy
mươi
năm
trôi
qua, căn
nhà
lão
vẫn
thế,
một
trong những căn nhà kiểu cổ lỗ nhất còn sót lại ở xóm này, tuy cột đã mục, vách gỗ bị mối ăn.
Chính vì mảnh vườn và ngôi nhà
thân
thiết
mà
lão
đã không đi
Mỹ.
Hồi
75, vợ
lão
đang ở
với
đứa con đầu là sĩ quan
đã cùng nó di tản sang Mỹ. Trước khi đi, con lão có nhắn lão xuống gấp với nó để
cùng
đi, nhưng phần vì chưa biết tin tức đứa
con út cũng đi
lính,
phần
vì
không
nỡ bỏ vườn, nhà,
lão
đã không đi.
Lão
tâm
nguyện,
dù
chê
độ nào, sống chết gì
lão
cũng
ở trên mảnh đất này.
…
Cũng như bao năm qua, lão quanh quẩn với mảnh vườn dù sức yếu không làm được bao nhiêu. Buổi chiều lão thường ngồi trước cửa ngó mông ra vườn và
dọc
theo thung lũng.
Mùa
lá
hồng
rụng
mới
buồn
làm
sao. Những cây hồng xanh mướt rậm rạp che
kín
các
vườn,
sau mùa thu hoạch trái,
trong một thời gian gắn lá rụng sạch. Suốt hai
sườn
đồi, những cây
hồng
trơ
cành
khẳng
khiu như cảnh vật một vùng đất chết. Được
cái
là
chẳng
bao lâu
hồng
lại
đâm chồi nẩy lộc.
Lão thích nhất là gần cuối đông khi mai
anh đào nở. Cây hoa mới lạ. Nó cũng giống hồng ở chỗ mùa rụng lá là rụng sạch trơ cành, những cành còn mảnh mai hơn cành hồng nhiều, nhưng khi ra hoa
thì
nở rộ trước khi ra lá. Chao ôi, những đóa hoa
bé
nhỏ
phớt
hồng
dày
đặc đến độ cả cây bừng lên như một ngọn lửa hay như một đám khói hồng bập bùng
trông
rất
ấm áp và vui
mắt,
dù
hoa chỉ nở và tàn trong vòng
một,
hai tuần. Cuối vườn của lão có hai cây
mai anh đào lớn và bao nhiêu cây
con đang mọc. Các vườn khác trong xóm này cũng
thế.
Lão
cám
ơn loài chim đã duy trì và phát triển loài
hoa lạ đó trong thung
lũng
này
khi mang hạt đem gieo khắp nơi. Trên các
con đường của thành phố có
tên
xứ hoa đào này, các
cây
đào trông ngay hàng
thẳng
lối
ngày
xưa
đã rụi cả. Người ta chỉ muốn chặt cành đem về cắm, thậm chí làm củi chứ không ai bảo vệ, vun
trồng.
…
Có một chi tiết về cái chết của lão mà người ta ngại kể lại. Đó là khi ngã
xuống
bất
tỉnh
rồi
đi luôn, lão gối đầu
lên
một
đống phân bò
lớn,
bên
cạnh
là
gánh
phân
đã chất đầy
khá
nặng.
Có
lẽ trên
đường về, mệt nhọc nhưng thấy đống phân lớn, lão
tiếc
nên
dừng
lại
cúi
xuống
hốt
nốt.
Không
biết
lão
trúng
gió,
lên
cơn
đau tim hay đứt mạch máu. Có
người
chứng
kiến
kể thêm,
điều
kỳ
lạ là
chết
như
thế
nhưng
nét
mặt
lão
rất
thanh thản, hình như phảng phất nụ cười, tay chân lão
không
co quắp
mà
dang ra thoải mái. Lão nằm chết nhẹ nhàng trên thảm cỏ, dưới bầu trời xanh biếc và những ngọn thông hiền hòa
phủ
lên
mặt
lão
tấm
khăn
tang - bóng
mát
dịu
dàng.
(Trích truyện ngắn Người nằm chết trên
đồi)
Vị linh mục dẫn ông và nàng vào nhà thờ và đi
ra khép cửa, để hai người tĩnh
tâm
một
lúc
trong lúc chờ đợi
linh mục trở lại.
Chưa
bao giờ
ông ở
trong nhà thờ vắng lặng như thế này. Nàng ngồi xuống ghế nhắm mắt lại trầm tư. Ông nhẹ nhàng đi một vòng ngắm cách cấu trúc và trang trí
trong nhà thờ.
Ông đã từng đi qua nhà thờ nổi tiếng này hàng ngàn lần nhưng chưa bao giờ vào bên trong. Đó là một ngôi nhà thờ cổ kính, xây dựng gần một thế kỷ nhưng vẫn bền vững với thời gian, hầu như không có
một
vết
nứt.
Trần nhà không cao lắm nhưng có
vẻ lồng lộng với những vòm
tròn
quét
vôi
màu
hồng
nhạt.
Những
cửa
kính
màu
là
những
bức
tranh thánh tích kỳ ảo.
Nhìn
từ bên
trong ra, những vầng hào
quang, những trái tim thánh
thiện,
những
tà
áo thanh sạch của các vị thánh
ngời
lên
ánh sáng sống động lạ lùng. Tất cả là tác phẩm nghệ thuật của những nghệ sĩ bậc thầy chắc chắn đã được
làm
nên
bằng
trái
tim sùng tín và bàn tay tài
hoa cách đây
hơn
sáu
mươi
năm
theo ngày tháng ghi chú
bên
dưới.
Ông cảm thấy mình hơi xa lạ nhưng kính phục loại nghệ thuật này, nghệ thuật trong tôn giáo hay tôn giáo
qua nghệt
htuật.
Ông vốn là kẻ vô thần ngay từ thời trẻ. Nhìn những bức tranh này, ông cảm nhận người nghệ sĩ không phải sáng tạo một cách thông thường mà chắc chắn đã làm nên tác phẩm trong một trạng thái tinh thần hưng phấn kỳ lạ, có thể là một cách nguyện cầu hay dâng
hiến
của
người
nghệ
sĩ.
Bên dưới những bức tranh kính màu,
chỉ
cao hơn tầm đầu
người
là
những
phù
điêu
về sự tích
Chúa
Giê
Su, có
lẽ làm
bằng
xi măng.
Những
phác
họa
đơn giản, mầu vàng nhạt, hơi nặng nề nhưng phù
hợp
với
các
cảnh
Chúa
giê
Su vác
thập
tự giá
trong nhiều tư thế trên đường đi lên chỗ chịu nạn. Cây
thập
tự giá,
một
dụng
cụ hành
hình,
đã trở thành cây thánh giá, tượng trưng cho một tôn giáo,
cho lòng sùng kính của hàng triệu triệu người, bằng sự hi sinh cao
cả của một con người, một con
Thiên
chúa,
theo như giáo lý của tôn giáo này.
Đi hết một vòng quanh tường nhà
thờ,
ông đứng lặng nhìn lên tượng Chúa Giê Su lớn phía sau bệ thờ. Một thân
thể
gần
như
trần
truồng
với
mảnh
vải
khoác
chéo
che thân bị đóng đinh trên cây thập tự lớn mầu nâu. Chiếc đầu
đội vòng gai rỉ máu
ngoẹo
sang bên.
Thân
hình
với
mầu
da rất
giống
người
thật
nổi
rõ
từng
bắp
thịt
trên
cánh
tay, lồng ngực, cặp đùi và những chiếc xương sườn lồ lộ. Những chỗ đóng đinh ở tay, chân
và
vết
thương
ở sườn đang tiếp tục chảy máu. Ai đã khắc họa nên hình
tượng
này
hay chính
là
một
hình ảnh có thực đã trở nên lồng lộng qua không gian và
thời
gian. Đó không phải là
một
thân
thể.
Đó là sự khổ nạn. Không phải khổ nạn. Đó là sự hi sinh. Không phải hi sinh. Đó chính là tình yêu. Một tình yêu mãnh liệt, rộng lớn,vượt
qua phản
bội,
tội
ác, khổ đau và cái chết. Phải chăng
đó là cái gì rất mơ hồ nhưng cũng rất rõ ràng ông cảm nhận được
từ giáo
lý
của
một
tôn
giáo
khi đứng trước hình tượng bi thảm và hùng tráng này.
(Trích truyện ngắn Hành
trình
trăm
năm)
Chàng là một trong
những
gã
lang thang cố
hữu
lâu
nhất
của
thành
phố
sương
mù.
Thành
phố
bé
nhỏ
giữa
lưng
trời
giá
lạnh
này
có
nhiều
cái
tên
huyền
thoại
và
những
huyền
thoại
về các
gã
lang thang. Nhiều
người
đã đến
đây để lang thang một thời gian
trong cuộc đời
họ.
Nghĩa
là
họ có
thể
lẳng
lặng
đi, cảm nhận và suy tưởng mà
không
ai quấy
rầy.
Trong thời
đại này có
lẽ ít thành phố nào có điều kiện như thế cho
những
kẻ
lang thang vì
hầu
như
bất
cứ ở đâu
cũng
có
đám đông, tiếng ồn, nhạc giật, quảng cáo và đủ
mọi
thứ
quấy
nhiễu.
Người
ta khó
lòng
được yên tĩnh
để mơ màng và trầm tưởng cho riêng mình.
Thành
phố
này
đã quyến rũ những kẻ lang thang vì bầu khí và không gian tĩnh
mịch,
đôi khi huyễn hoặc của một vùng mộng ảo.
Một
quán
café
vắng
với
nhac êm
dịu
có
thể
ngồi
nhâm
nhi tách đắng nhìn màn mưa mịt mù qua lơp cửa kính. Một bãi cỏ non êm tơ thoáng đãng có thể ngả mình sưỡi nắng và nghe gió
hát
trên
cao. Một mặt hồ tĩnh lặng ôm chứa ngàn sao và ánh điện phố phường lung linh trong đêm khuya
khoắt.
Một
dòng
suối
rì
rào
bất
tuyệt
bản
trường
ca nguyên
sơ hoang dã. Một cánh rừng vi vu tiếng hát của những lá cây hình kim mềm mại xanh mướt. Một vườn hoa nở rộ trăm hồng nghìn
tía
hay chỉ
là
một
bông
hoa dại vô danh nơi vệ cỏ ven đường. Một buổi chiều tà ánh lên sắc nắng âm u trong bầu trời lạnh giá và trên những dãy núi xa mờ thấp thoáng. Một buổi sáng con đường phố dốc cuồn cuộn sương mù như trong một chuyện thần tiên... Người ta có
thể
đi và trầm tư ở
những
nơi,
những
lúc,
những
phút
giây,
những
gặp
gỡ lặng lẽ dịu dàng
để cảm nhận về khoảnh khắc cô độc êm ái của đời
mình.
Nhiều
người
đã tìm đến đây trong
một
ít tháng ngày để
lang thang, nhưng
riêng
chàng,
hầu
như
chàng
đã dành hết đời
mình
cho cuộc lang thang trên thành
phố
bé
nhỏ
này.
Thế
nhưng
hình
như
chàng
vẫn
chưa
tìm
ra, chưa tìm được cuộc sống đích thực của đời mình. Có
phải
như
thế
không?
Đôi khi chàng đau đớn
tự hỏi.
Chàng đã đến đây từ lâu lắm, thuở còn là một thanh niên trẻ trung và mơ mộng từ một xứ sở khô cằn gió cát. Sau buổi lang thang ban đầu, chàng
đã gặp gỡ người thiếu nữ mình yêu, lập gia đình, có con và làm việc cho cuộc mưu sinh.
Nhưng
một
gia đình không thể lang
thang cùng
chàng,
dù
chỉ
là
trong tư tưởng. Vốn là một giáo sư triết học, chàng bay lượn ở
tầm
cao của những trí tuệ cổ kim đông tây. Với tâm hồn lãng mạn, chàng ngao du qua những trang văn chương diễm tình và những cuộc hợp tan thấm đẫm
niềm
vui và nước mắt. Chàng lắng nghe phận người tuôn chảy trong thời gian
miên
viễn.
Chàng
đắm chìm trong những giấc mơ siêu thoát... Những điều
đó làm chàng ngày càng xa lạ với cái gia đình bé nhỏ mà chàng tưởng đã là nơi sưỡi ấm tâm hồn cô
đơn khao khát
của
mình.
(Trích truyện ngắn Những gặp gỡ không
muộn
màng)
Chàng đã ngồi rất lâu ở ngã tư đường - bến xe ôm - quen thuộc, không buồn nói
chuyện
với
các
bạn
đồng nghiệp chung
quanh. Hôm nay ế khách và ai cũng ngáp dài ngáp ngắn. Chàng đã hút gần một bao thuốc, tàn
vứt
bừa
bãi
bên
lề đường. Một người bạn rủ chàng
đi uống rượu nhưng chàng từ chối. Bây giờ chàng hoàn toàn tự do, không ai quản thúc, có
thể
hút
thuốc,
uống
rượu
tùy
thích
nhưng
hôm
nay chàng
cảm
thấy
tâm
trạng
mình
quá
nặng
nề và
hầu
như
không
nhấc
mình
nổi
khỏi
chiếc
xe. Chàng muốn mình hóa đá trong
buổi
chiều
tà
lạnh
lẽo
của
thành
phố
cao nguyên này.
Mùa đông ở đây
không
mưa
nhưng
lạnh
giá
vô
cùng,
nhất
là
đối với những người phải làm nghề đứng đường như chàng, Lái
xe ôm, không
biết
có
phải
là
một
nghề
không,
công
việc
mà
những
người
đàn ông thất nghiệp, thất cơ lỡ vận phải làm khi không thể tìm ra việc gì
khác.
Đó là nghề không cần được
đào tạo. Chỉ cần một chiếc xe gắn máy và
thông
thuộc
đường trong
thành
phố
là
người
ta có
thể
hành
nghề.
Dĩ
nhiên
phải
chịu
dãi
dầu
mưa
nắng,
đứng suốt ngày ngoài
trời
đợi khách trong bất kỳ thời tiết nào, có khi đến tận nửa đêm.
Đã gần mười năm qua, chàng sống cuộc đời như thế, luôn luôn
ở ngoài đường. Chàng
đã đứng trong những đám sương mù cuồn cuộn lúc tinh mơ đã trở nên hiếm hoi của thành phố có biệt danh thành phố sương mù.
Chàng
đã đứng dưới những buổi trưa nắng gắt không kém buổi trưa oi nồng ở các thành phố bình nguyên. Chàng
đã đứng giữa những buổi hoàng hôn lạnh giá với ngọn gió mang đầy hơi nước thổi thấu tim
chàng
xuyên
qua lớp
áo blouson dày hai lớp. Chàng
đã đứng trong những đêm khuya âm
u mà
muôn
vạn
vì
sao trên trời và ánh
đèn phố thị, kể cả những ngọn đèn cao
áp rực rỡ, không đủ
soi sáng
lòng
chàng.
(Trích truyện ngắn
Trong buổi
chiều
tà)
Ở
Đà Lạt, chúng
tôi đi lo giấy tờ của BY và
đi thăm cáp treo. Nơi đây, nơi chúng tôi đã sống hơn 15 năm, thắng cảnh nào
cũng
đã biết, riêng cáp treo mới được xây dựng và
khai trương vào dịp Tết vừa qua chưa đi.
Đà Lạt là xứ du lịch “trời cho” với cảnh quan
và
khí
hậu
thuộc
loại
hấp
dẫn
nhất
Việt
Nam nhưng
những
việc
“người
làm“ để
phục
vụ
du lịch
còn
quá
ít, đôi khi
phản
tác
dụng
mà
người
dân
địa phương và báo chí
đã phê phán nhiều. Trụ sở vĩ đại và thô kệch của Đài Truyền hình mới xây
dựng
án ngữ ngay lối vào của thành
phố.
“Con chim Lâm Cẩu” xấu xí vẫn còn nặng nề giương cánh
ở bùng binh trước chợ Hoà Bình.
Đồi Cù tự do mộc mạc tuyệt đẹp ngày nào
đã trở thành sân golf hiện đại rào kín
chỉ
dành
cho khách lắm tiền, chủ yếu là người nước ngoài. Vườn cỏ xanh mát dịu dàng
với
những
chiếc
ghế
dài
trắng
tinh rải rác hầu như không lúc nào thấy người ngồi của khách sạn ba sao Đà Lạt Palace là một sự lãng phí lớn, đồng thời cũng là một điều mỉa mai. Cả thành phố Đà Lạt hầu như không còn bãi cỏ tự do nào cho trẻ con đùa chơi và những cặp trai gái tình
tự.
May ra còn chút rẻo quanh hồ Xuân Hương nhưng khi
làm
đường, người ta ủi bừa đất
vào
lô
xô
lảm
xảm,
dù
cỏ mọc lên
cũng
không
còn
mấy
chỗ
ngồi
êm ái.
Đồi Cù
trở
thành
sân
golf hiện
đại, được cải tạo, làm mới, trồng thêm
cây,
đào thêm hồ, cỏ được
chăm
sóc
xanh tốt mịn màng, được rào dậu kỹ lưỡng lại là cái gai trong mắt người dân
thành
phố
và
nhiều
du khách.
Từ năm 1993 khi chính
quyền
tỉnh
cho một công ty nước ngoài thuê
đồi Cù để làm sân
golf, người
dân
thành
phố
và
nhiều
tờ báo
đã lên tiếng phản đối. Người ta bảo quyết định đó chẳng khác gì
đem bán của hương hỏa và thiếu tầm nhìn về chính trị, xã hội và cả kinh tế. Đồi Cù bên hồ Xuân Hương giữa lòng
thành
phố
là
một
cảnh
quan tuyệt vời tạo nên đặc trưng và sức quyến rũ của bộ mặt thành phố cao nguyên xứ lạnh này. Đồi Cù tự do là bãi cỏ thiên
đường ghi dấu kỷ niệm của biết bao cư dân thành
phố
và
du khách.
Với
nhiều
người
từ khi còn trẻ thơ họ đã được chơi đùa trên đồi cỏ và khi
lớn
lên
đã từng cầm tay người yêu ngồi tình
tự dưới bóng
mát
dịu
dàng
của
ngọn
thông
vi vu nắng
gió.
Bây
giờ
thiên
đường đó đã mất. Đúng hơn thiên đường đã trở thành của riêng
của
một
số ít người lắm tiền bạc, phần lớn là khách nước ngoài.
Dân Đà Lạt không bước vào
và
cũng
không
nhìn
rõ
được đồi Cù nữa, vì sau
một
thời
gian các loại cây leo ở hàng rào
mọc
lên
che kín. Chỉ có những công nhân phục vụ cho sân golf và
mấy
cô
sinh viên vào làm thuê xách gậy lếch thếch chạy theo khách thấy được sân golf đẹp như thế nào (!?)
Sân golf đã tác
động
xấu
đến môi trường thành
phố.
Ban đầu lúc mới san ủi, trời mưa cuốn đất xuống lấp cạn cả hồ Xuân Hương. Sau đó thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, phân bón
theo mưa chảy xuống hồ làm ô nhiễm nguồn nước, cùng với các loại tảo độc
xuất
hiện
đã làm nước hồ xanh đen đục
ngầu
và
hôi
thối.
Khu vực
phụ
cận
có
bao nhiêu
ngọn
đồi có thể làm sân
golf được, tại sao lại phải lấy đồi
Cù
ngay giữa trung tâm thành
phố?
Một
quyết
định thiển cận gây nên
bao nhiêu
hệ lụy.
Về mặt kinh
tế,
nghe nói sân golf này thua lỗ triên miên vì không có khách. Chưa có
đường bay trực tiếp từ các nước đến
Đà Lạt nên khách giàu có chơi golf ít
ai muốn
đi 300 cây số đường bộ nhọc nhằn từ Sài Gòn lên Đà Lạt.
Biến
đồi Cù thành sân
golf là
một
quyết
định sai
lầm
về mọi mặt, chẳng có
lợi
gì
cho ai ngoại trừ một vài kẻ nào đó có thu
nhập
bất
chính
qua chuyện
lo lót
khi ký các hợp đồng kinh tế.
Theo ý kiến nhiều người, đồi Cù trở thành công
viên,
vườn
thực
vật
mới
là
giải
pháp
tối
ưu và sẽ trở thành nơi thân yêu của cư dân thành phố và du khách có thể cảm nhận rõ nhất thế nào là Đà Lạt, thành phố dịu dàng
và
trữ
tình
nhất
trong mọi thành phố của đất
nước
này.
Công bằng mà nói thành
phố
cũng
đã được
sửa
sang xây
dựng
nhiều.
Các
khách
sạn
Đà Lạt Palace, Đà Lạt
Novotel đã trở thành khách
sạn
ba sao nổi tiếng sang trọng. Nhiều khách sạn khác
cũng
được nâng cấp hoặc xây
dựng
mới
hiện
đại. Các công sở, nhà
hàng
và
nhà
các
quan chức to đẹp
bề thế mọc lên
khắp
nơi.
Đường sá nội thành hầu như mở rộng và
làm
mới
hoàn
toàn,
một
số công
viên
mới
được xây dựng. Tuy
nhiên
việc
xây
dựng
không
theo quy hoạch, không
tôn
trọng
không
gian kiến trúc và cảnh quan môi trường, chặt phá
tùy
tiện
các
đồi thông đã làm Đà Lạt mất dần bản sắc ngày xưa, một cái
gì
là
hồn
phố
lãng
mạn
êm ả,
trữ
tình
làm cho Đà
Lạt
không
giống
bất
cứ thành
phố
nào
khác.
Thành
phố
này
muốn
vươn
cao cùng thời đại
mà
vẫn
giữ
được bản sắc, cần những người lãnh đạo không những có
trí
tuệ,
tầm
nhìn
cao hơn, mà còn cần phải có ít
nhất
một
chút
lãng
mạn
và
trái
tim dễ rung động của người nghệ sĩ đam mê cái đẹp chứ không phải là đầu óc thực dụng.
Riêng về cáp treo, một loại hình phục vụ du lịch rất phù hợp với địa
hình
Đà Lạt đã được
nói
đến và thực hiện trong
nhiều
năm
trước
nhưng
bất
thành.
Một
công
ty nước
ngoài
nào
đó đầu
tư,
quảng
cáo
ầm ĩ
nhưng
không
rõ
vì
sao đã động thổ khởi công rồi bỏ cuộc, nghe nói là
không
có
vốn.
Thật
kỳ
lạ
! Mới
đây, người ta âm thầm làm, không
dám
quảng
cáo
gì
nữa
và
lúc
sắp
hoàn
thành
đưa vào sử dụng mới dám
công
bố.
Chúng
tôi
cũng
háo
hức
đi xem thử bộ mặt cáp treo Đà Lạt thế nào.
Đầu
trên
của
cáp
treo được xây dựng trên ngọn đồi
đầu đèo Prenn. Theo con đường nhựa mới mở chạy quanh
co khoảng
vài
trăm
mét
là
đến vị trí của đầu cáp trên
đỉnh đồi. Đây là một mặt bằng khá rộng được
thiết
kế một công
trình
kiến
trúc
khá
hợp
lý
với
bãi
đậu xe,
nhà
hàng,
nhà
khách,
phòng
bán
vé
và
nơi
điều
khiển
cáp
treo trên tầng cao nhất. Một sân rộng hình
bán
nguyệt
với
cây
cảnh
và
lan can bao quanh lộng gió.
Từ đây có thể nhìn toàn cảnh thành phố bên dưới, một chặng đèo quanh
co phía
đông nam và dãy núi
với
đỉnh Lang Bian cuối trời phía
bắc.
Chúng tôi đến gần trưa nhưng khách vẫn đông. Giá vé khá đắt: 50.000đ cho người lớn một lượt đi về. Nghe nói chỉ trong mấy ngày Tết đã thu tiền vé được vài tỉ. Cáp
treo có 50 cabin, mỗi cabin ngồi được bốn người, thiết kế gọn và xinh
xắn,
nhiều
mầu
sắc
khác
nhau với cửa kính trong suốt tứ phía.
Hai dây
cáp
lớn
chuyển
động liên tục giữa các
ròng
rọc
trên
các
đầu trục đưa các cabin êm ả
lướt
về hai chiều ngược nhau trên các
ngọn
thông.
Đầu dưới của cáp treo ngay trên lối vào
Trúc
Lâm
thiền
viện
cách
đầu trên khoảng hơn hai cây số. Cho đến
nay đây là cáp treo dài
nhất
Việt
Nam.
Việc
chọn
địa điểm
cáp
treo ở đây khá thích hợp. Cùng
với
chùa
Trúc
Lâm
và
hồ Tuyền Lâm, đây
quả
là
một
khu du lịch phức hợp lý tưởng. Khách có thể đi cáp treo đến
chùa
viếng
cảnh
rồi
thuê
thuyền
đi chơi trên hồ, sinh hoạt dã ngoại trong
rừng
và
trở
về bằng đường cáp treo cho một ngày đi chơi thú vị.
Cabin chúng tôi đi lúc
mới
lên
có
bốn
người
nhưng
ngay sau đó, hai người kia, có lẽ là đôi tình nhân hay vợ chồng trẻ nhảy vội xuống đi cabin sau, họ nói muốn đi riêng để
chụp
hình.
Những
người
phụ
trách
cáp
treo không phản đối
nên
chúng
tôi
cũng
được đi riêng hai người. BY
sợ độ cao nên cứ nắm chặt lấy tay tôi và chúng tôi ở bên nhau, trên
cao lồng lộng, trong một cảm giác mới mẻ gợi nhớ những ngày
tháng
lãng
mạn
xa xưa
thời
trẻ.
Chúng
tôi
chụp
hình
cho nhau với bối cảnh bên
dưới
là
rừng
thông
bát
ngát
và
hàng dọc những cabin khác đang chuyển động trên đường dây.
Cáp treo là
một
công
trình
phục
vụ
du lịch
mới
đáng tán thưởng. Tuy nhiên việc trồng cây quanh hồ Xuân Hương và trên các trục đường, nhất là đối với loại cây mai anh đào, một đặc trưng của Đà Lạt thật đáng chê trách. Gần 30 năm
qua, năm
nào
cũng
hô
hào
phát
động trồng cây ầm ĩ
mà
đến nay mới chỉ một số ít cây sống được,
phần
lớn
chết,
bị chặt phá
hay xác
xơ còm
cõi.
Năm nay do khí hậu thời tiết thay
đổi tác động, hoa mai anh
đào nở muộn. Thường hoa này
chỉ
nở và
tàn
khoảng
một
tuần
trước
hoặc
sau Noel nhưng năm nay đến Tết hoa mới nở. Ngày chúng
tôi
về đây vẫn có một vài cây còn hoa bập bùng
một
màu
hồng
nhạt
quanh hồ Xuân Hương
và
trên
đường dốc lên khu Hoà Bình.
Hầu
như
tất
cả đều là những gốc mai
già
còn
sót
lại
từ thời xa xưa. Chúng
tôi
cũng
ghi được
mấy
tấm
hình
bên
cảnh
tượng
hiếm
hoi này.
Người
dân
địa phương và báo chí
rất
tán
thưởng
hiện
tượng
này,
coi đây như nét hồi sinh của “thành phố hoa
đào” một thời vang bóng. Nghe nói
nhân
dịp
này
chính
quyền
địa phương đã quyết định đặt
tên
một
con đường là đường “Mai anh đào” và quyết tâm trồng lại hàng
cây
kỳ
diệu
đặc trưng này của thành
phố.
Cũng
rất
mong điều này được thực hiện và người dân Đà Lạt có thể tự hào về một tên gọi lãng mạn của thành phố mình bên cạnh những tên gọi khác như “thành phố ngàn hoa”, “thành phố trên cao”…
(Trích bút ký Hành
trình mùa xuân)
Tôi đã từng đi xuyên Việt bốn lần, bằng những phương tiện và với mục đích khác nhau. Đây là lần thứ năm tôi
lại
đi, có những cảm nghiệm khác, với những người bạn đặc
biệt,
tất
cả đều là cựu sĩ quan
Thủy
Quân
Lục
Chiến
của
Việt
Nam Cộng
Hòa
ngày
trước.
Tôi có một người bạn cũ từ thời trung
học.
Khai Nguyên
là
mật
danh trong đơn vị của anh
sau này. Hồi đó chúng tôi mới 15-16 tuổi, học trung học đệ nhị cấp ở một tỉnh lẻ miền Trung. Hai chúng tôi
đều yêu một cô
bé
13 tuổi,
mới
học
đệ lục. Chuyện tình – nếu có thể dùng được từ đó –
thật
dễ thương. Chúng
tôi
không
ganh tị nhau mà lại thân nhau mới lạ. Hàng đêm
chúng
tôi
đến trước cổng nhà cô bé chờ đợi để được nhìn thấy bóng cô xuất hiện bên ánh đèn cửa sổ. Chúng tôi
đi chơi trèo lên một ngọn núi đá, mỗi đứa đều cố sức leo
lên
mỏm
cao nhất để khắc tên mình
và
cô
bé
trên
đó. Chúng tôi viết những lá thư tình có ướp
hoa ngọc lan … Đủ
mọi
kiểu
của
tình
yêu
học
trò.
Nhưng
oái
oăm
thay, khi lớn lên
một
chút,
cô
bé
lại
đi yêu một anh chàng khác,
cũng
là
một
người
bạn
của
chúng
tôi.
Hai kẻ
thất
tình
đều vỡ mộng. Có thể vì thế mà thêm một lý
do để chúng tôi thân nhau chăng.
Lớn
lên
mỗi
người
đi mỗi ngả, chỉ gặp nhau vài lần. Tôi
học
sư phạm, ra trường đi dạy. Anh vào binh chủng Thủy Quân Lục Chiến. Năm 75 anh sang Mỹ, đi học lại, tốt nghiệp kỹ sư, làm việc cho các công
ty tin học.
Theo lời
anh nói, anh là
một
trong những người Việt tỵ nạn khá thành đạt trên xứ người, từ hồi đi làm, chưa ngày
nào
thất
nghiệp.
Mấy
năm
gần
đây, đọc
được các sách
của
tôi
xuất
bản
bên
Mỹ và
những
bài
báo
tôi
viết
trên
mạng,
anh bắt đầu
tìm
cách
liên
lạc
lại
bạn
cũ.
Trong một
chuyến
trở
về quê
hương
lần
trước,
anh đã bỏ công thuê xe đi tìm những nơi tôi đã từng sống mà anh
biết,
cuối
cùng
có
được số điện thoại và địa chỉ của tôi. Anh lập tức gọi điện
và
hôm
sau có mặt ở nhà tôi. Chúng tôi ôm
lấy
nhau sau hơn 30 năm
xa cách
và
nói
chuyện
từ sáng
cho đến
tận
khuya.
Đầu
năm
nay anh lại về thăm cùng với gia đình. Anh có nhã ý mời vợ chồng chúng tôi và vợ chồng ba người bạn cũ khác đang ở
trong nước, mới liên lạc lại, đều
là
là
cựu
sĩ
quan Thủy Quân Lục Chiến, làm một chuyến lãng du xuyên Việt. Tất cả chi phí đều do anh đài thọ. Ba anh chàng cựu sĩ
quan này có hoàn cảnh hơi khác nhau. Đơn Dương bị bắt làm tù
binh. Hòa Bình sau 75 mới đi cải tạo. Trung Dũng bị thương giải ngũ trước 75 nhưng cũng phải đi cải tạo. Ba người này vì
điều
kiện
riêng
và
hoàn
cảnh
gia đình, không
ai đi nước ngoài, chịu nhiều cay đắng của những người lính thất trận và tất cả đều
kiếm
sống
bằng
đủ mọi thứ nghề linh tinh.
Rất
tiếc
ba bà vợ của ba người này bận việc gia đình không đi được,
nên
cuối
cùng
đoàn
lữ hành
chỉ
có
hai phụ nữ là Khanh, vợ Khai Nguyên, BY vợ tôi và
năm
người
đàn ông.
Khai Nguyên sợ Khanh và vợ chồng chúng tôi
không
hòa
hợp
với
những
người
bạn
lính
tráng
cũ
của
anh nhưng điều lo ngại đó đã không xảy ra. Khanh là
một
phụ
nữ có
bề ngoài
khả
ái, tính tình cởi mở, phóng khoáng, đã nhanh
chóng
trở
nên
thân
thiết
với
BY, luôn
chăm
sóc
chu đáo cho chồng và các bạn, nên
tất
cả chúng
tôi
đều nhanh
chóng
hòa
đồng và trở thành bạn bè,
đôi khi có không khí
như
một
gia đình. Tôi
là
cựu
sinh viên tranh đấu chống chính quyền Sài
Gòn,
đã từng gia nhập đảng cộng sản và bị khai
trừ,
đang là người bất đồng chính kiến với chế độ. Tôi và Khai Nguyên cũng như các bạn mới tuy có nhiều khác biệt nhưng đều đã lớn tuổi, trải nghiệm nhiều nên hầu như ai cũng trầm tĩnh, có cái nhìn nhân ái,
bao dung về
cuộc
sống.
Sự trân
trọng
tình
bạn
cũ
với
Khai Nguyên
cũng
là
một
mối
liên
kết
giúp
chúng
tôi
gần
nhau qua những câu chuyện xưa mà chúng tôi cùng chia sẻ. Nhờ thế, chuyến đi hơn hai tuần đã không ngớt lời trò chuyện và đầy ắp tiếng cười.
Tôi đang ở Đà Lạt. Các bạn khác từ Sài
Gòn
lên,
ở đây
chơi
vài
hôm
trước
khi đi tiếp ra
trung. Vợ chồng Khai Nguyên mấy năm trước đã từng qua đây
nhưng
các
bạn
khác
đã khá lâu chưa lên Đà Lạt, vì thế chúng tôi
đưa họ đi
chơi
một
vài
nơi
như
Hồ Tuyền Lâm, Thung Lũng Vàng…
Từ thành phố, hiện nay có
ba đường đi Hồ Tuyền Lâm. Đổ
đèo Prenn, giữa đèo rẽ phải vài cây số. Đi bằng cáp treo từ đầu
đèo, với vài chục phút lướt trên rừng thông. Qua ngả Dinh 3 Bảo Đại theo con đường mới mở chạy thẳng đến cuối hồ. Hồ Tuyền Lâm theo quy hoạch, tương lai sẽ là một khu
du lịch
phức
hợp
gồm
nhiều
loại
hình
và
đang có nhiều dự án đầu tư, tuy
nhiên
tiến
độ triển khai rất chậm.
Bên cạnh cuối hồ Tuyền Lâm là Chùa Trúc Lâm,
một
thiền
viện
thuộc
hàng
lớn
nhất
nước,
mới
được xây dựng hơn 10 năm
nay, trên
mấy
ngọn
đồi thông, với hàng
trăm
tăng,
ni sinh đang tu học. Chùa Trúc Lâm nhanh chóng trở thành
một
thắng
cảnh,
không
chỉ
là
nơi
Phật
tử đi chiêm bái mà còn là điểm đến hầu như của mọi du khách khi đến
Đà Lạt. Ngoài chùa chính với những công trình phụ trợ như gác chuông, cây cảnh ở ngay lối vào và
các
nhà
ở cách biệt của tăng,
ni khuất sau rừng, phía trước là
một
cảnh
quan được xây dựng dựa vào địa thế tự nhiên với nhiều kỳ công. Hàng mấy trăm bậc cấp đi vòng theo thế núi, đưa khách đi
dần
xuống
bến
thuyền
dưới
hồ,
thỉnh
thoảng
lại
có
một
mái
đình nhỏ có ghế đá để khách ngồi nghỉ chân
ngắm
cảnh
hồ bát
ngát
qua thấp
thoáng
ngọn
thông.
Con đường dẫn tiếp đến lối ra,
dọc
theo một rừng trúc vàng và một chiếc hồ nhân tạo, để khách không
cần
phải
trở
về theo lối cũ.
Chúng tôi ngồi dưới một mái đình nghỉ mệt để chụp ảnh và trò chuyện. Khai Nguyên rất thích chụp ảnh. Anh là
một
tay máy nghiệp dư nhưng trang bị hẳn cho
mình
một
máy
ảnh chuyên nghiệp, hiện đại,
với
nhiều
đồ phụ tùng lỉnh kỉnh chứa đầy
một
ba lô chuyên dụng mà lúc nào anh cũng
mang theo người.
Anh thường
mặc
quần
jean đen, áo khoác màu
đen và đội chiếc mũ tai bèo Thủy Quân Lục Chiến anh vẫn còn giữ được, trông
rất
bụi.
Đơn Dương cũng mặc jean,
kể cả áo khoác, màu xanh jean truyền thống. Hòa
Bình
với
cặp
kính
đen đeo vào
trông rất oai phong.
Trung Dũng
có
mái
tóc
muối
tiêu
uốn
lượn
bồng
bềnh.
Bốn
chàng
“4 chữ” (TQLC) xem ra khá phong
trần
và
có
lẽ ngày
xưa
đều thuộc loại hào hoa phong nhã trong
mắt
các
“em gái hậu phương”.
Mọi
người
đều thừa nhận Đà Lạt tuy có nhiều thay
đổi, vẫn còn
là
một
thành
phố
tương
đối bình yên
nhất
hiện
nay. Đối với những người đã có ấn
tượng
và
tình
cảm
đẹp với Đà Lạt từ nhiều năm trước, nhất là trước năm 1975, vẫn thường thất vọng khi
trở
lại
Đà Lạt ngày hôm nay. Đường sá, nhà cửa, phố xá được mở rộng, xây dựng nhiều nhưng xô bồ đã làm mất đi nét lãng
mạn,
trữ
tình
và
tĩnh
mịch
của
thành
phố
ngàn
thông
ngày
nào.
Tuy nhiên,
cuộc
sống
phải
đổi thay
và
đi tới không ngừng, nhất là với số dân từ nhiều nơi mới nhập cư đông đảo, kinh tế thị trường tác động dữ dội, làm sao có
thể
không
thay đổi. Vấn đề là trình độ, nhận thức của những người quản lý chưa đủ tầm để quản lý đô thị trên đà phát triển nhưng vẫn giữ được
bản
sắc
của
thành
phố.
Đây là vấn đề không riêng
của
Đà Lạt mà của mọi nơi trên cả nước, đặc
biệt
đối với những thành phố cổ có
nhiều
bản
sắc
văn
hóa
đặc trưng truyền thống.
Chúng tôi cũng
đi chơi Thung Lũng Vàng, một khu du lịch mới được khai
thác
trên
đường đi Suối Vàng. Dankia-Suối Vàng là
vùng
đồi núi ở phía tây
bắc
thành
phố,
cách
khoảng
20 cây
số,
nơi
ngày
xưa
Yersin đã từng có dự định xây dựng khu nghỉ dưỡng khi
mới
phát
hiện
ra Đà Lạt. Đây là vùng đồi núi còn
tương
đối giữ được nét tự nhiên hoang dã.
Một
số công
ty nước
ngoài
đã có dự định đầu
tư lớn, xây
dựng
hẳn
một
thành
phố
nghỉ
dưỡng
ở đây,
một
Đà Lạt 2, nhưng chưa thực hiện được.
Hiện
tại
mới
có
một
khu trồng hoa của tư nhân và
Thung Lũng
Vàng
do Công
ty Cấp
Nước
thực
hiện.
Công ty này quản lý
Nhà
Máy
Nước
Suối
Vàng,
nhà
máy
được Đan Mạch tài trợ, cấp nước cho thành phố, trụ sở đóng ngay bên cạnh hồ Suối Vàng,
nên
có
điều
kiện
xây
dựng
khu du lịch Thung Lũng Vàng. Hiện nay ở bất cứ đâu, các
khu du lịch cũng xây dựng các bồn hoa, cây cảnh, hồ suối nhân
tạo… nhưng Thung Lũng
Vàng
có
ưu điểm là nằm trên một vùng đồi núi rộng, cách xa thành phố ồn ào, với hồ suối tự nhiên,
việc
xây
dựng
biết
dựa
vào
thiên
nhiên
nên
khung cảnh tạo được
cảm
giác
yên
bình,
thư
giãn
cho du khách. Khai thác thiên nhiên nhưng vẫn giữ được thân thiện với môi trường là vấn đề lớn đối với những quốc gia
đang phát triển nhưng những người lãnh đạo và cả nhân dân còn thiếu nhận thức và trình độ,
cũng
là
vấn
đề Việt
Nam đang phải đương đầu.
Chỉ
chạy
theo nhu cầu bức xúc
của
cuộc
sống
và
lợi
nhuận
đã để lại những di hại trước mắt và lâu dài
không
sao bù đắp.
Đà Lạt có nhiều khu du lịch “trời
cho” với cảnh quan tuyệt đẹp như Thung Lũng Tình
Yêu,
Thác
Prenn, Thác Datanla, Hồ Than Thở, Suối Cam
Ly, Đồi Mộng Mơ, Núi Langbian… với những huyền thoại và sự vang danh trong quá khứ, mới nghe tên, du khách
chưa
từng
đến Đà Lạt đã thấy hấp dẫn. Tuy nhiên khi đến nơi, người ta có hài lòng
và
muốn
trở
lại
lần
nữa
không
lại
là
chuyện
khác.
Điều
đó hoàn toàn không dễ dàng. Xu hướng ban đầu là “bóc
lột
thiên
nhiên”, chủ yếu do các cơ quan nhà nước quản lý, chỉ rào lại rồi bán vé và bán đồ lưu niệm. Dần dần người ta ý thức hơn, và cũng do đòi hỏi thực tế của kinh tế thị trường, một số nơi được giao
cho tư nhân đầu tư tôn tạo, khai thác. Tuy nhiên
còn
xa mới
đạt đến sự hoàn chỉnh. Những công
trình
xây
dựng
mới,
nhất
là
bằng
bê
tông
cốt
sắt,
bị lạm dụng và
“chỏi” với cảnh quan thiên nhiên
nhiều
khi đã làm hại đến
thắng
cảnh.
Những
người
đầu tư có vốn, nhưng cần hơn, phải có đầu óc và trình độ
thẩm
mỹ cao, với sự giúp sức của các chuyên gia trong lĩnh vực này, chứ không phải cứ quăng tiền ra là được.
Điều
đáng buồn nhất ở Đà Lạt là chuyện sân golf-Đồi Cù. Nét độc đáo nhất của thành phố Đà Lạt là Hồ Xuân Hương
và
Đồi Cù. Nơi nào
có
hồ và
đồi thông, không
phải
một
mà
đến ba
ngọn
đồi kế tiếp nhau
với
rừng
thông
vi vu, nằm
ngay chính giữa trung tâm thành
phố?
Hồ và
đồi thông làm
cho thành phố dịu lại, lao xao,
xanh mướt đượm
nét
trữ
tình
lãng
mạn.
Từ chợ hay khu phố Hòa Bình, chỉ cần đi bộ năm, mười phút
là
khách
đã có thể đến
ngồi
bên
bờ cỏ ven hồ ngắm sóng nước hay lang thang dưới rặng thông ngập tràn
nắng
gió. Trước đây cư dân thành
phố
hay khách
đến Đà Lạt đều
có
những
kỷ niệm êm đềm
về ngọn đồi thơ mộng này thuở còn
bé
dại,
lúc
đang say đắm
trong cuộc tình hay những lúc nhàn
du trên
thảm
cỏ xanh mượt pha màu tím
biếc
với
những
ngọn
cỏ
may nghịch
ngợm
bám
vào
gấu
quần
theo về đến
tận
nhà.
Ngày
hôm
nay, điều
đó đã trở nên xa vời như ảo mộng.
15 năm trước đây, đúng vào dịp kỷ niệm 100 năm
thành
phố
Đà Lạt, chính quyền đã cho một tập đoàn
kinh tế nước ngoài thuê Đồi Cù 20 năm để
làm
sân
golf hiện
đại theo
tiêu
chuẩn
quốc
tế
(sau này kéo dài thời hạn thuê thành 50 năm, nhưng dân
Đà Lạt thì gọi là đem bán “của hương hỏa”). Lúc đó nhân dân, trí thức Đà Lạt và báo chí nhiều nơi phản đối
kịch
liệt,
nhưng
những
người
cầm
quyền
đã bất chấp tất cả. Họ chỉ biết lợi nhuận, và dân cũng không biết lợi nhuận này vào đâu.
Những
người
chủ
sân
golf mới
đã đổ vào rất nhiều tiền bạc để làm lại Đồi
Cù,
trồng
cỏ mới, đào thêm hồ, quy hoạch lại rừng thông và
nhất
là
rào
kín
chung quanh sân
golf. So với
trước,
sân
golf bây
giờ
sạch
sẽ,
mượt
mà,
sang trọng
hơn
và
cũng
giả
tạo
hơn
nhưng
đã khuất sau hàng rào
cao cây phủ. Đó là một thiên đường đã mất của nhiều người, trở thành mảnh thiên đường riêng của những những ông chủ lắm tiền nhiều của nước ngoài, một số tư bản đỏ trong nước và những quan
chức
có
đặc quyền.
Xu hướng hiện nay của thế giới là đưa các sân
golf càng
xa thành
phố
càng
tốt.
Vì
sân
golf nhìn
đẹp đẽ nhưng công việc duy trì thảm cỏ gây ô nhiễm môi trường và
độc hại ghê gớm bởi các loại phân
bón
và
thuốc
trừ
sâu
bệnh.
Hồ
Xuân
Hương
Đà Lạt có dạo cũng đã “lãnh đủ”
hậu
quả
của
việc
làm
sân
golf với
đất bồi lắng và các loại tảo độc xuất hiện. Về lâu dài,
tác
hại
còn
ghê
gớm.
Xa xa chung quanh thành phố còn có vô số đồi,
thung lũng có thể làm sân golf, cớ gì phải tước đoạt
một
tài
sản
vô
giá
này
của
nhân
dân
để trao vào tay những “ông chủ ngoại quốc”
và
để lại bao nhiêu di hại?!
Thảm
cỏ rộng lớn nhất dưới rừng thông,
công
viên
tự nhiên
lớn
nhất của Đà Lạt đã không còn là của mọi người, bây giờ chỉ có những rẻo cỏ nho nhỏ quanh
hồ
Xuân
Hương
cho những ai muốn ngồi trên một bãi cỏ. Trong thời hiện đại
này
mà
tất
cả các
thành
phố
đều bê tông hóa,
nhựa
hóa,
việc
ngồi
trên
một
bãi
cỏ,
dưới
một
tàng
cây
chính
là
niềm
hạnh
phúc
mà
tiền
bạc,
hàng
hóa
tiện
nghi sang trọng không thể so sánh
được.
Công bằng mà nói, hiện nay Hồ Xuân Hương đã được
chỉnh
trang khá chu đáo.
Nạo
vét,
xây
bờ kè
những
nơi
cần
thiết,
trồng
thêm
cây,
sửa
lại
đường và nhất là làm mới, lát
gạch
men bờ
lề ven hồ để khách có
thể
đi lại thoải mái. Buổi sáng và chiều, con đường chung quanh
hồ,
con đường đẹp và ít xe cộ nhất của thành phố là
nơi
nhiều
người
đi dạo, tập thể dục, đi xe
đạp đôi, tạo nên một khung cảnh sống động nhưng cũng không
làm
mất
đi vẻ yên tĩnh của hồ vì hồ khá dài và rộng, chu vi đến hơn 5 cây số.
Dù sao đi
nữa,
các
bạn
của
tôi
cũng
khá
hài
lòng
về Đà Lạt, nơi đã cho họ cảm giác êm đềm,
nhất
là
lúc
đi dạo trên những con đường dốc mù sương vào sáng sớm, đêm khuya
hay ngồi
quán
café
Thủy
Tạ nhìn
ra mặt hồ gợn sóng với ngọn tháp chuông độc đáo của trường Yersin
xa xa ẩn
hiện
trong rừng thông.
Nhà hàng Thủy Tạ là nhà hàng độc đáo và mang nét
đặc trưng nhất của Đà Lạt, được
xây
dựng
từ thời Pháp. Công trình vươn ra hồ từ một bán đảo nhỏ, hầu như không có
tường,
chỉ
có
những
khung sườn bê tông được lắp kính rất tao nhã. Phía
ngoài
còn
có
ban công
rộng
không
mái
che có thể ngồi khi trời không mưa, có
cả cầu nhảy (cho những người thích bơi lội của câu lạc bộ thể thao ngày xưa). Ngồi uống café ở đây có thể ngắm hồ gợn sóng từ xa, chiêm
ngưỡng
Đồi Cù xanh
mướt
thấp
thoáng
bên
kia bờ,
thấy
một
góc
thành
phố,
với
tầm
nhìn
rộng
thoáng,
lại
khá
yên
tĩnh
vì
cách
đường khá xa. Điều
hơi
đáng tiếc là ở đây giá cả hơi đắt, thức ăn không được ngon lắm nên hầu như chỉ có
khách
du lịch
vào,
còn
cư dân
bản
địa hiếm người lui
tới.
Sau hai ngày thăm thú
Đà Lạt, trước khi rời đi Nha Trang, tôi hỏi các
bạn
điều
gì
ấn tượng nhất về Đà Lạt, điều ngạc nhiên là có mấy bạn nói đó là ngôi nhà
và
khu vườn “động
hoa vàng” của chúng tôi. Khu vườn này chúng
tôi
mua từ 20 năm trước, ở một nơi hơi hẻo lánh, nằm dưới thung lũng và
lúc
đó chẳng có mấy giá trị. Căn nhà gỗ cũ kỹ mối mọt đã hơn 60 năm tuổi, được
chủ
nhà
xây
dựng
từ khi mới đến
đây khai đất làm vườn. Tôi mua vì
một
ý tưởng lãng mạn, mê
mấy
ngọn
lau phất phơ bên bờ một cái giếng thơi nhỏ trong vườn. Sau hơn 15 năm bị bao vây,
cô
lập
và
thất
nghiệp
bất
đắc dĩ, khu vườn này đã cứu chúng tôi
khỏi
cảnh
khốn
cùng.
Với
nền
kinh tế thị trường và cơn sốt nhà đất, chúng tôi đã bán hơn một nửa mảnh vườn để giải quyết nhu cầu của cuộc sống.
Với
hơn
500 mét
vuông
đất còn lại, tôi
xây
ngôi
nhà
mới
và
dỡ ngôi
nhà
cũ
dựng
lại
bên
cạnh
làm
lưu
niệm.
BY là
người
rất
yêu
hoa và thích trồng hoa. BY đã đi sưu tầm rất nhiều giống hoa
vàng
để khu vườn xứng với tên gọi “động hoa vàng”, nhất là những giống hoa
đặc trưng của Đà Lạt: Mimosa, hoa súng
vàng,
hoa giấy vàng, hoàng anh, ngũ
sắc
vàng,
hài
tiên,
kim châm…, đặc
biệt
là
hoa bướm vàng, một loại hoa mảnh mai
đong đưa
trong gió nhưng sức sống phi thường mà ngày nay ít
người
trồng.
Rồi
các
loại
hoa và cây cảnh khác, hoa hồng, tỷ muội, tường vi,
huệ
tím,
cẩm
tú
cầu,
mai anh đào, liễu rủ, phượng hồng, phượng tím, phượng đỏ, thông, tùng
bách
tán,
tùng
la hán
... Các
loại
dây
leo như móng rồng, móng cọp, sao đỏ, xác pháo, mai tím,
thiên
lý… Chúng tôi
trồng
trên
đất chứ không trồng trong chậu, hơi lộn xộn nhưng vì thế lại có phần hoang dã, không
tỉa
tót
cầu
kỳ.
Riêng
mai anh đào có duyên nợ với chúng tôi. Loại cây mà các công ty nhà nước trồng ven
hồ rất khó
sống
lại
mọc
tự nhiên
đầy trong
vườn
chúng
tôi,
do chim mang hạt đến.
Các bạn quen
ở nhà hộp Sài Gòn
nóng
bức,
thiếu
không
khí
trong lành, thiếu tầm nhìn, thích
“động hoa vàng” của chúng tôi
cũng
phải.
Chúng
tôi
tự hào
vì
đã bỏ ra rất nhiều công sức, tự tay mình trồng, chăm bón để
xây
dựng
“một
cõi
đi về”
bình
yên
êm ả
cho riêng mình sau bao nhiêu
sóng
gió
và
có
thể
đón bạn bè ở một nơi chốn có thể giúp họ tạm thời rũ bỏ những ồn ào, bụi bặm và cạnh tranh quyết liệt của cuộc sống đời thường.
(Trích bút ký Một chuyến du hành xuyên
Việt)
Đà Lạt thông, cỏ và
gió
(bút
ký)
Người
ta thường
gọi
Đà Lạt là “Thành
phố
hoa” nhưng thực ra ấn tượng đặc
trưng
đầu tiên của du khách
khi đến
Đà Lạt không phải là hoa, lại càng
không
phải
là
hoa dã quỳ. Dã quỳ không chỉ của riêng Đà Lạt mà là nét chung cho cả tây nguyên.
Vào
giữa
đông, bắt đầu
mùa
khô,
đi theo quốc lộ 20 dọc theo
tây
nguyên,
ta sẽ
thấy
sắc
hoa quỳ vàng rực rỡ khắp các thung lũng,
sườn
đồi của Đà Lạt, Ban Mê Thuột, Pleiku chói chang trong nắng ấm. Còn hoa, với phương pháp
trồng
cấy
và
trưng
bày
hiện
đại, hoa có thể hiện diện khắp mọi nẻo đường ở
bất
kỳ
thành
phố
nào.
Dĩ
nhiên
khi được
mệnh
danh là “Thành
phố
hoa”, Đà Lạt phải có cái gì hơn hẳn các thành phố khác về hoa, nhưng đó là khi người ta có đủ thời gian để đi sâu khám
phá.
Dù lên Đà
Lạt
bằng
đường đèo Prenn hay đèo Dran, du khách sẽ chìm ngập giữa đồi
núi
chập
chùng
và
rừng
thông
bát
ngát
trong một mầu xanh êm dịu mượt mà của những sợi lá kim vi vu trong gió. Vào đến trong phố, ta vẫn không xa thông
vì
phố
ở trong rừng hay rừng đi vào trong phố. Rồi đi khắp nơi ta vẫn thấy thông gần gũi, nhất là bên những mặt hồ lung linh soi bóng
bầu
trời
hay chung quanh những công
trình
kiến
trúc
kiểu
Pháp
còn
lại
với
dấu
vết
thời
gian rêu phong.
Bạt
ngàn
thông
nhưng
không
hề đơn điệu.
Có
thể
là
vô
vàn
hàng
cây
thân
thẳng
tắp
song song với cành lá giao hòa
làm
thành
mầu
xanh êm
dịu
của
núi
rừng.
Có
thể
là
những
cổ thụ riêng
lẻ nằm bên
đường với gốc vững vàng sù
sì
thô
nhám,
cành
uốn
lượn
vươn
tỏa
bóng
mát
bình
an trăm
năm,
thách
thức
thời
gian dâu biển. Có thể là muôn nghìn búp non thắp nến trên vạn cành
mới
đong đưa
trong gió. Có thể là những cây non tơ xanh
mướt
đầy sức sống hình chóp
nhọn
tuyệt
đẹp hứa hẹn một mai
đâm thẳng tới trời xanh. Có thể không
còn là cây
mà trở thành vô số cảnh sắc khác biệt mang chứa mầu sắc, mùi hương, vị ngọt và rung động của cảm giác, cảm xúc và tâm tình của những người đã một lần trải qua kỷ niệm dưới bóng mát chở che dịu dàng của chỉ một cành
thông
hay ngàn
thông
từ vạn cổ.
Ấn tượng thông đầu tiên của Đà Lạt nhất định phải là trên những con đường quanh co mềm mại của đèo Prenn hướng nam
từ Sài
Gòn
lên
hay đèo Dran hướng đông sau
khi khách từ đồng bằng ven biển vượt qua đèo Ngọan Mục. Hai ngọn đèo thông dịu dàng
này
là
hai lối vào tuyệt đẹp
đưa đến xứ sở giữa chốn lưng trời lãng đãng sương mù. Dù là với những tia nắng óng vàng xuyên qua tán lá
buổi
hừng
đông hay sương khói mịt mờ lúc hòang hôn, hay ngay cả lúc
mưa
gió
nhòa
nhọet,
rừng
thông
vẫn
cho bạn cảm giác thật êm đềm, dịu dàng và mơ mộng mà có lẽ không ngọn đèo nào trên đất nước này có được.
Ấn tượng đó lại càng mạnh mẽ khi bạn có thời gian
lang thang trong những cánh rừng thông
ven Thung lũng Tình Yêu, hồ Tuyền Lâm, hồ Than Thở hay cả vùng Suối Vàng rộng lớn nguyên sơ. Ấn tượng đó vẫn không phai khi bạn ngước mắt ngắm nhìn những công trình kiến trúc nổi tiếng của quá khứ vẫn còn tồn tại ẩn hiện dưới hàng thông
hay những
cánh
rừng
nho nhỏ như Dinh 1, Dinh 2, Dinh 3, Trường Yersin
(nay là
Trường
Cao Đẳng Sư Phạm),
Trường
Đại Học Đà Lạt, Giáo Hòang
Học
Viện
(nay là
Trường
Đại Học Dân Lập Yersin), Khách sạn Palace, Nhà hàng Xuân Hương,
Dòng
Chúa
Cứu
Thế
(nay là
Phân
viện
Sinh Học
VN), nhà
thờ
Con Gà,
nhà
thờ
Saint Domaine, Bệnh
viện
Sohier (nay là nhà nghỉ Công Đòan), hay khu biệt thự phong
cách
Pháp
đường Trần Hưng Đạo, đường Lê Lai, đường Nguyễn
Du (nơi
có
resort Hòang
Anh –
Gia Lai mới
xây
dựng)…
Bạn
đứng đó chiêm ngưỡng hay nhìn vào những tấm ảnh và thử tưởng tượng những công trình
kiến
trúc
này
không
có
hàng
thông
vây
phủ
sẽ như thế` nào,
có
còn
giữ
được vẻ đẹp hút hồn lữ khách như chúng vốn có? Hay là sẽ trơ trụi, cộc cằn, thậm chí trơ trẽn như một số công trình
mới
xây
dựng
gần
đây dù theo kiểu cọ nào
cũng
chỉ
là
bê
tông
với
xi măng,
sắt
thép
cứng
nhắc
vô
hồn.
Ngay cả
nhà
Ga Đà Lạt, Cục Bản Đồ hay Trường Yersin với đường cong
tuyệt
mỹ bằng gạch mộc và
tháp
chuông
hình
cô
gái
trùm
khăn
xám
có
một
không hai, nổi tiếng là
những
công
trình
kiến
trúc
đẹp bậc nhất Đông Nam Á, nay chỉ còn lại mấy hàng thông hay mấy cây thưa thớt, cũng
đã giảm đi sức quyến rũ mấy phần so với ngày trước.
Nếu
tiếp
tục
nhớ
lại
ngày
xưa,
ta sẽ
còn
tiếc
nuối những cánh rừng thông nho nhỏ trong phố như bên sườn đồi
đường Bùi Thị Xuân,
đường Hải Thượng Lãn Ông, đường Hà
Huy Tập…nay đã bị phá gần sạch, phố hóa với nhà
cửa
lô
xô
xanh đỏ
trong cơn sốt chiếm lĩnh nhà đất của nền kinh tế thị trường, chỉ còn lại vài
cây
lạc
lõng
cô
đơn, ta sẽ thấy thông
cần
thiết
đối với vẻ đẹp và sức quyến rũ của thành phố này như thế nào. Thôi dù sao quá
khứ
đó không thể sửa chữa. Chỉ mong sao
sự tàn
phá
được dừng lại kịp thời và mãi mãi để thành phố này nổi tiếng là “Thành
phố
ngàn
thông” trước khi
là
“Thành phố hoa” độc nhất vô nhị của đất
nước
này,
một
danh hiệu có sức mời gọi mãnh liệt đối
với
nhiều
lọai
du khách
trong và ngòai nước. Đó cũng là “thương hiệu”, một cách làm
kinh tế, làm du lịch bằng sức hấp dẫn của cảnh quan môi trường chứ không
phải
chỉ
là
nhà
hàng
khách
sạn,
dịch
vụ ăn uống vốn không phải là thế mạnh của Đà Lạt.
Dưới
thông
thường
là
thảm
cỏ.
Có
thể
là
cỏ tự nhiên
lá
rộng,
cỏ
may hay cỏ
Nhật,
cỏ Mỹ mới được trồng gần đây ở
các
sân
golf, khách
sạn,
công
viên,
khu du lịch. Đẹp
hoang dại là cỏ tự nhiên lá rộng xanh mướt xen lẫn với cỏ may phớt tím và
lá
thông
rụng
mầu
nâu
trải
thảm
mượt
mà
mời
gọi
đến mê hồn. Vô số cư dân Đà Lạt và khách du lịch bốn phương đã có bao nhiêu kỷ niệm không
quên
đối với thảm cỏ tự do của Đồi Cù Đà Lạt ngày nào. Đó là tuổi thơ vô tư chạy nhảy, lăn tròn,
chơi
đùa thỏa thích trên thảm cỏ bình an dưới cặp mắt hạnh phúc của bố mẹ. Đó là tuổi trẻ trong tay
người
yêu
dạo
chơi
hay ngồi
bên
nhau thì thầm trên
bãi
xanh mượt mà dưới hàng thông dịu dàng trong hòang
hôn
hay đêm trăng mà khi về lưu vết chứng nhân
vẫn
còn
là
những
bông
hoa cỏ may tinh nghịch ghim
vào
quần
áo. Đó là tuổi trung niên và
tuổi
già
với
điếu
thuốc
trên
môi
hay cuốn
sách
trong tay, ngồi trên
thảm
cỏ,
đọc và tư lự về thế sự. Đó là … không thể kể hết được.
Tin chắc
rằng
nếu
phát
động một cuộc thi
viết
về kỷ niệm trên
bãi
cỏ Đồi Cù, ta sẽ nhận được
hàng
ngàn,
hàng
vạn
bài
cảm
động không những từ khắp mọi miền của đất nước mà còn từ khắp nơi trên
thế
giới.
Phải
chăng
đây cũng là một ý tưởng để “tiếp thị” hình ảnh của Đà Lạt trong công tác
du lịch?
Đồi
Cù
bây
giờ
là
sân
golf hiện
đại. Thông được trồng thêm, cỏ được
trồng
lại
và
chăm
sóc
kỹ lưỡng, xanh hơn, mượt mà hơn, trông xa như tranh
vẽ nhưng có
cảm
giác
giả
tạo
với
“hoa chăm cỏ bón lối thẳng cây trồng”. Tuy nhiên điều quan
trọng
là
bãi
cỏ lớn nhất Đà Lạt này không còn là bãi cỏ tự do của Đồi
Cù
năm
xưa
mà
đã nằm trong vòng rào
chắc
chắn
và
kín
đáo, đứng ngòai chỉ thấy thấp thóang. Bãi cỏ lớn nhất ngay giữa trung
tâm
thành
phố
nhưng
chỉ
dành
riêng
độc quyền cho
một
số rất ít người giàu có đến để chơi trò thể thao
thư
giãn.
Điều
này
ngay từ đầu
khi Đồi
Cù
được cho
thuê
để làm sân golf đã bị đông đảo
cư dân
Đà Lạt và nhiều báo chí trong nước phản đối nhưng cuối cùng mọi sự vẫn được tiến hành. Theo nhiều người đây là điều cần phải sửa chữa dù làm điều
đó khá khó khăn nhưng không thể không làm được.
Bãi cỏ lớn và đẹp thứ hai là bãi cỏ chung quanh khách sạn
Palace, trước
đây cũng là chốn tự do nhưng nay đã trở thành kín
cổng
cao tường với những chiếc ghế gỗ sơn trắng trơ vơ không mấy khi có người ngồi, trông vô
cùng
lãng
phí.
Bãi
cỏ của nhà
thờ
Con Gà
là
nơi
khá
tự
do nhưng
quá
nhỏ,
mỗi
năm
vào
dịp
lễ Giáng
sinh cỏ đã bị dày xéo tan nát và
nhà
thờ
lại
phải
tốn
nhiều
thời
gian chăm sóc trở lại. Những bãi cỏ mới ở các khu du lịch, công
viên,
khách
sạn
thường
được chăm chút
kỹ nhưng thường được để bảng “Xin đừng đi trên cỏ”. Thật kỳ lạ. Cỏ không để dẫm lên thì để
làm
gì.
Dĩ
nhiên
chỉ
nên
dẫm
lên
cỏ với đôi chân trần để cảm giác được sự mềm mại, êm ái của một tặng vật vô giá từ thiên nhiên.
Những bãi cỏ dưới các cánh rừng thông ở hồ Tuyền Lâm, hồ Than Thở hay Thung lũng Tình Yêu có vẻ đẹp
thiên
nhiên
hoang dã tuy phải đi khá xa và
muốn
vào
phải
mua vé. May ra chỉ còn
những
rẻo
cỏ quanh hồ Xuân Hương
là
nơi
mọi
người
còn
có
thể
ngồi
ngắm
hồ,
câu
cá.
Lẽ nào
nơi
thành
phố
ngàn
thông
lại
không
có
những
bãi
cỏ tự do cho trẻ thơ, cho thanh
niên
thiếu
nữ,
cho người già, cho những người mơ mộng? Và
hồ
Xuân
Hương
cần
chi đến những cây sung, si cổ thụ giả tạo được
bứng
gốc,
cưa
cành
đem ở
đâu đâu về với bao nhiêu
tốn
kém.
Cả những phiến đá trơ vơ lạc lõng nữa. Hồ Xuân Hương
không
phải
là
hồ Gươm ngàn
năm
tuổi
của
Hà
Nội,
cũng
không
phải
là
hồ mới kiến tạo ở những khu
vui chơi giải trí của Sài Gòn. Hồ Xuân Hương
của
Đà Lạt chỉ cần thông, liễu rũ, mai anh đào và thảm cỏ để
làm
nên
vẻ đẹp mộc mạc nhưng quyến rũ rất riêng của mình
như
nhan sắc của một nàng sơn nữ giữa núi rừng.
Đó là thông
và cỏ? Còn gió? Gió ở đâu mà chẳng như nhau.
Không
phải.
Gió
vô
hình
nhưng
lại
có
hình
tướng,
mầu
sắc
và
hương
vị riêng
của
không
gian và tâm tưởng. Chẳng phải là gió biển vị mặn phóng khóang và gió sa mạc khô
cháy
hoang vu đó ư? Làm sao gió có thể vi vu bài tình ca bất tuyệt khi
không
đi qua ngàn vạn lá thông kim dưới bầu trời xanh thăm thẳm. Làm sao gió
có
thể
ve vuốt dịu dàng khi ta không
nằm
trên
một
bãi
cỏ êm dưới bóng thông che chở. Làm
sao gió có thể vào được những khối nhà bê tông dày đặc trong những đô thị nhung nhúc người và
xe cộ nếu không phải là gió giả. Vậy thì gió Đà Lạt ắt phải có hình hài và tâm hồn riêng mà không phải ai cũng khám phá được. Bạn hãy đến đây, vào
mùa
khô,
nằm
trên
thảm
cỏ dưới rừng thông
trong một giờ cô tịch, bạn sẽ hiểu thế nào là gió Đà Lạt.
Đà Lạt là thành phố ngàn thông, là phố trong rừng thông. Khi không
còn
rừng
thông
trong phố, Đà Lạt sẽ không còn là Đà Lạt hay Đà Lạt như hình ảnh của một xứ sở mộng mơ sẽ chết vì những đầu
óc thực dụng cùn mằn hẹp hòi và bàn tay thô
bạo
của
những
gã
phàm
phu tục tử.
Đà Lạt cuối đông 2006
Đan Vy - TDBC
Có nhiều con đường nối liền rừng và biển nhưng đây là con đường nối liền hai
thành
phố
du lịch
nổi
tiếng
tây
nguyên
và
miền
trung, Đà Lạt và Nha
Trang, vừa
mới
được mở ra
và
chính
thức
thông
xe. Trước đây muốn đi từ Đà Lạt xuống Nha Trang, ta phải đi qua đèo Prenn
hay đèo Dran, đổ xuống Đơn Dương, lại qua đèo Ngoạn Mục xuống Phan Rang, từ đó theo
quốc
lộ
1 ra Cam Ranh, đến Ngả Ba Thành rồi rẽ về thành phố biển, tất cả dài 220 cây số. Bây
giờ
bạn
có
thể
đi thẳng từ rừng xuống biển, chỉ 140 cây số. Buổi sáng bạn uống café ở
Thủy
Tạ bên
hồ
Xuân
Hương
se lạnh,
buổi
trưa
bạn
có
thể
nằm
tắm
nắng
trên
bãi
biển
Nha Trang nghe sóng
đại dương vỗ bờ.
“Đi thẳng” chỉ là một cách nói
thôi
nhé.
Mà
đi thẳng thì còn gì thú vị cho một chuyến du lịch phiêu lưu. Từ trung tâm thành phố Đà Lạt, bạn theo con đường đi về hồ Than Thở, qua xã Thái Phiên là nơi nổi tiếng trồng rau với các vườn rau, hoa mượt mà khoe
sắc
rồi
cứ thế theo con đường độc
đạo xuyên rừng đi về phía đông. Đó chính là con đường mới mở nối liền rừng và biển.
Con đường này do hai tỉnh Lâm Đồng và Khánh Hòa thi công
từ hai phía và gặp nhau nơi ranh
giới
giữa
núi
rừng
trùng
điệp.
Phía
Lâm
Đồng, dù
đã thông xe, vẫn chưa hoàn
chỉnh.
Mươi
cây
số,
từng
chặng,
vẫn
còn
những
khoảng
đang rải đá hay làm lại nền đường bị lún, hoặc mở ra những đoạn
đường mới để tránh những uốn khúc quanh co đã làm xong nhưng quá
nguy hiểm. Một cây cầu bắc qua sông vẫn còn là cầu tạm. Nhưng bạn cứ yên chí đi
tiếp,
qua khỏi
xã
Đạ Sa, đường đã êm mượt và rộng ra
thênh
thang, dĩ
nhiên
chỉ
là
thênh
thang giữa
núi
đồi thôi chứ không
thể
so sánh
được với những xa lộ dưới bình nguyên.
Nếu
bạn
chạy
xe máy, đây
là
đoạn
đường tuyệt vời khi
tay lái bạn quanh co liên
tục
vài
chục
cây
số trên
những
đường cong
tuyệt
mỹ giữa rừng thông
bạt
ngàn
hoang dã. Dù hoang dã,
bạn
sẽ cảm thấy thông
bao giờ
cũng
dịu
dàng
chở
che với tiếng gió vi vu qua những tàn lá
kim xanh mướt. Đây chính là cảm giác đặc biệt mà bất cứ du khách nào cũng cảm nhận được
khi đến
với
Đà Lạt, thành phố ngàn thông, nơi rừng vẫn còn lặng lẽ đi vào trong phố. Bây giờ bạn đang chạy xe
giữa
rừng
đại ngàn, tất cả các
giác
quan đều mở rộng để đón
nhận
làn
gió,
tiếng
chim, màu xanh trùng
điệp,
mùi
hương
núi
rừng
trong tốc độ của một cánh bay giữa những vòng
lượn
duyên
dáng
mượt
mà
như
những
đường cong
thiếu
nữ.
Đâu phải ai, lúc nào cũng có thể hưởng cảm giác hạnh phúc đó.
(Trích bút ký Phiêu
du trên con đường nối liền rừng và biển)
Từ xưa, ngoài tên
gọi
Thành
phố
Ngàn
thông,
Ngàn
hoa, Đà Lạt còn được gọi là Thành phố Mai anh
đào hay Xứ hoa đào. Tuy nhiên cũng đã từ lâu Đà Lạt không còn xứng với tên gọi đó nữa.
Một
thời
gian dài, cây mai anh đào hầu như vắng bóng trên
thành
phố
này.
Chỉ
còn
sót
lại
một
vài
cội
mai già đây
đó còm cõi không đủ
sức
nở hoa. Thật buồn cho những người còn mơ mộng khi cất lên tiếng hát "Ai lên xứ hoa đào" quyến rũ
một
thời.
Mấy
gốc
mai già bên đường nếu còn cố ra một vài cành
để đơm
nụ cũng
bị người nào
đó còn yêu hoa đào, chặt mang về nhà cho
riêng
mình.
Không
ai cần
giữ
gìn
một
vẻ đẹp tưởng đã sắp đi vào quên
lãng.
Hình như từ năm 1993, lúc Đà Lạt tổ chức kỷ niệm 100 năm ngày bác sĩ Yersin phát
hiện
ra Đà Lạt, bắt đầu
đặt lại tên đường và dựng tượng Yersin,
người
ta mới
nghĩ
đến chuyện gầy dựng lại xứ hoa
đào. Tuy nhiên công việc này không mấy kết quả. Hàng năm, người ta đều
tổ chức trồng cây,
trong đó có mai
anh đào, nhưng nếu không
"trồng
cây
nào
chết
cây
ấy" thì cũng chỉ sót lại vài cây còi cọc. Mà mai anh đào không phải là
giống
khó
trồng.
Đặc biệt đất của Đà Lạt rất phù hợp với giống cây này. Cứ đi vào các
thung lũng ngay trong thành
phố,
các
nhà
vườn,
ta sẽ
thấy
lũ
chim đã làm việc này
dễ dàng
như
thế
nào.
Khi mai anh đào kết trái, những trái mọng chín nho nhỏ tím
thẫm,
lũ
chim tha đi khắp nơi, hạt rơi đến
đâu mọc đến
đó. Ấy thế mà bao nhiêu
công
sức
tiền
bạc
đổ ra, mai
anh đào được trồng trong
những
lễ lạc rùm
beng vẫn không sống nổi, kể cả những cây cổ thụ người ta mua ở các vườn bứng mang về.
Nhưng
rồi
tín
hiệu
vui đã đến.
Mấy
năm
gần
đây, có thể do một cơ chế làm ăn
mới
nào
đó, mai anh
đào được
khôi
phục,
chăm bón, trồng mới trên
một
số
con đường bắt đầu có kết quả và mọi người đã có thể từ từ thấy lại mầu hoa ngày cũ
mỗi
độ đông tàn.
Đến
cuối
đông đầu
xuân
năm
nay, Kỷ
Sửu
2009, nhất
là
từ một tuần sau Tết Nguyên đán cho
đến Nguyên tiêu (rằm tháng
giêng),
như
một
phép
lạ,
thành
phố
bỗng
rực
lên
một
mầu
hồng
như
những
ngọn
lửa
bập
bùng
êm dịu từ muôn vạn cánh hoa bé
nhỏ.
Hầu
như
ai cũng
muốn
reo lên "Mai anh đào nở hoa!". Và
mặc
nhiên
Đà Lạt lấy lại được
mỹ danh ngày nào.
…
Mai anh đào. Chỉ một hai tuần thôi. Loài
hoa nào mà chẳng chóng tàn nhưng vẻ đẹp
của
sắc
hương
trời
đất vẫn còn đó, trong tâm tưởng, trong hoài niệm, trong sự thánh thiện của thiên
nhiên
và
hồn
người
làm
cho thế giới này bớt u ám và buồn đau.
(Trích bút ký Về một xứ hoa
đào)
Đà Lạt
thường
được
gọi
là thành phố ngàn thông, thành
phố
ngàn hoa, thành phố lưng trời nhưng đặc sắc và
biểu
trưng
nhất
có lẽ là tên
gọi
“thành phố Mai anh đào”.
Vì ngàn thông,
ngàn hoa, lưng trời tuy hiếm nhưng không phải là duy
nhất.
Duy nhất
chỉ
có một xứ sở Mai anh đào.
Không phải
anh đào Nhật Bản,
không phải đào Hà Nội, không
phải
đào Sapa, không phải đào lông mà
là mai anh
đào Đà lạt. Có
lẽ các nhà thực vật học, các
nhà nghiên cứu văn hóa, lịch sử nên
làm một cuộc nghiên cứu công
phu để làm rõ
thêm tính độc đáo của loại hoa mai
– đào này.
Mỗi năm hoa chỉ nở một lần, sau khi
cây trút lá. Đóa mai
anh đào năm
cánh bé bỏng, đơn sơ, màu hồng phớt tím nhưng khi hàng ngàn
hoa nở rộ, toàn cây
thành một ngọn lửa bập bùng, không
rừng
rực
nhưng
dịu
dàng, nồng nàn, ấm
áp. Thân cành mai anh đào
khi còn non mảnh mai nhưng khi già trở thành
cổ thụ cũng sần sùi, tạo dáng
vững
chãi và có
thể
cao đến mươi thước.
Trước đây mai anh đào
thường
nở vào trước hay sau Noel nhưng những năm gần đây do thời tiết thay
đổi,
thời
gian nở chậm dần và tết năm
Kỷ
Sửu 2009, lần đầu tiên
mai anh đào
nở rộ vào đúng dịp tết, tạo thành
một
hiện
tượng
làm cư dân thành phố và du khách
kinh ngạc và vui
mừng,
báo hiệu sự hồi sinh của xứ sở mai
anh đào.(*)
Đà Lạt
nổi
tiếng
với
muôn ngàn sắc hoa, được nhiều người nhắc đến với “mimosa từ đâu em
tới
đất
này”, hay “dã quỳ nồng nàn thúc
giục”,
các loài lan kiêu sa
vương
giả,
hay cả
cây phượng tím cổ thụ duy
nhất
trước
chợ
Hòa Bình nở tím cả một vùng
trời
năm xưa (bây giờ người ta đã nhân
được
giống
trồng
khắp
nơi
nhưng
không
có
cây
nào
có
được
tàn cây lớn và
vẻ đẹp lạ lùng của cây phượng tím
cổ thụ này)… Tuy vậy, có lẽ những người từng gắn bó sâu
xa hay có “kỷ niệm rưng rưng” với Đà
Lạt,
không ai có thể quên lời nhắc nhở tha thiết của nhạc sĩ
Hoàng Nguyên năm xưa “ai lên xứ hoa đào đừng quên
mang về một cành hoa”.
(Trích bút ký Xuân về trên xứ sở Mai anh đào)