NHỮNG TRÍCH ĐOẠN TIÊU BIỂU

TỪ TÁC PHẨM CỦA TIÊU DAO BẢO CỰ

 


 

 

TRÍCH ĐOẠN TIÊU BIỂU TỪ TÁC PHẨM TRÊN ĐỈNH THANH XUÂN

 

Anh vẫn cầm lấy tay cô, kéo cô nhẹ nhàng đi ra cổng, bước vào con ngõ dài thăm thẳm chạy ra đến tận con đường nằm bên bờ sông Thơm. Con ngõ từng chỗ sáng tối mông lung huyền hoặc dưới áng trăng. Hai bên, khi là mấy cây sầu đông lá nhỏ, nơi là hàng dâm bụt xén thẳng tắp, chỗ là rặng tre kĩu kịt trùm phủ khoảng không trên  mặt  đường. Hoài cầm tay Siam đi qua những vùng sáng, tối đó, cảm thấy mình lướt êm đi trong trăng, trong đêm. Khuôn mặt cô gái bên cạnh anh dù trong bóng tối mờ vẫn sáng rỡ một mầu trắng lạ lùng. Và bàn tay cô vẫn mát và mềm mại chuyền qua người anh một cảm giác yên bình thanh thản. Hai người hầu như im lặng đi bên nhau cho đến cuối ngõ. Không gian vỡ oà ra trước mắt họ. Trăng lồng lộng trên cao, tứ bề. Dòng sông là một giải ngời sáng lao xao trăng nước từ thượng nguồn về đến trung tâm thành phố, lượn nhẹ một đường cong mềm mại ngang trước con ngõ. Bên kia bờ là khối đen im lìm cây lá của các xóm làng, bên này bờ, dưới chân hai người, con đường nhựa phủ ánh trăng viền một đường bạc lấp lánh dọc theo dòng sông.

…

Hoài đứng im. Tim đập rộn rã đến hơn năm phút sau mới trở lại bình thường. Anh quay gót trở về. Anh đi trên con đường trăng như trong cơn mộng du. Anh đi hay bơi, hay bay, anh không biết nữa. Trên con đường trăng, con sông trăng hay không gian trăng mênh mông. Điều rõ rệt là bàn tay mát và mềm mại, đôi môi thơm hé mở, khuôn mặt trắng ngần của cô gái. Tất cả là nỗi rung động mãnh liệt đến làm anh chấn động bàng hoàng. Và kỳ lạ thay, ngay chính lúc này, anh lại cảm thấy nỗi cô đơn của mình. Anh vẫn chỉ là một mình dù tình yêu của anh đã được đền đáp. Anh đã trở về một mình. Trong đêm khuya và trăng tứ bề vây phủ.

…………………………………..

 

Hoài cảm  nhận niềm đau chung của dân tộc một cách tự nhiên. Những khát vọng về quyền làm người, quyền tự do dân chủ cũng nảy nở một cách tự nhiên như khát vọng về tình bạn, tình yêu và tiếp nhận tri thức. Tuổi mười tám là tuổi muốn chinh phục cả thế giới. Nhưng Hoài chỉ sống trong một môi trường nhỏ bé và anh phản ứng trước mọi chuyện trong môi trường của mình.

……………………………..

 

Dòng sông rực rỡ trong ánh sáng ban mai. Những đợt sóng lăn tăn lấp loáng ánh bạc. Vài chiếc thuyền xuôi ngược rẽ nước nhưng không hề khuấy động được dòng sông êm ả. Sự bình lặng của dòng sông như một sức mạnh trầm hùng không gì lay chuyển được. Dòng sông là sự vững chãi lâu bền, là chỗ dựa cho tâm hồn anh từ thuở ấu thơ.

Dưới sông, xác chết vẫn bập bềnh tại chỗ. Hai hốc mắt bị cá rỉa thành hai hố đen ngòm nhìn xoáy lên đám đông. Hoài nổi da gà và cảm thấy buồn nôn. Anh vội vã bỏ lên bờ lấy xe đạp về nhà.

Chao ôi, dòng sông êm ả của anh cũng tàn ác thế sao. Dòng sông là người mẹ dịu hiền, người bạn tin cậy, sự thanh bình của đời anh sao lại mang cái chết kinh hoàng đến cho người khác. Không, không phải tại dòng sông. Đó là tội ác của con người. Chính con người giết con người, nào phải dòng sông. Dòng sông bị mắc tiếng oan. Người chết là Việt Cộng? Việt Cộng là ai? Người Việt theo Cộng sản. Cộng sản là gì? Cộng sản là kẻ thù của quốc gia như người ta vẫn tuyên truyền hằng ngày. Thực ra, những năm qua, ở tuổi học trò trung học vô tư, anh chưa nghĩ gì nhiều về vấn đề này. Anh chỉ biết đất nước đã bị chia cắt làm hai miền, mỗi bên theo một chủ thuyết đối nghịch nhau và hai miền đang ở trong cuộc chiến tương tàn. Miền Nam là thế giới tự do. Miền Bắc là Cộng sản vô thần. Có phải hai miền không thể chấp nhận nhau và nhất định phải tiêu diệt nhau? Vậy thì đâu là dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam? Người nằm chết dưới sông kia nhất định là người Việt Nam. Nhất định người đó có gia đình, người thân, có ước mơ về hạnh phúc. Người đó đã dám chiến đấu và chấp nhận cái chết. Người đó đã bị người khác giết chết. Và người đó chắc cũng  đã từng giết chết người khác. Người ta hủy hoại lẫn nhau để đạt được được điều gì? Chỉ tội nghiệp cho dòng sông của anh bị mang tiếng oan. Dòng sông chỉ là chứng nhân, là nơi ghi dấu tội ác của con người thôi. Dòng sông của anh không bao giờ bị vẩn đục, ô uế, ngay cả bởi xác người. Dòng sông của anh có thể tẩy rửa tất cả vì nó có khả năng vô nhiễm. Anh vẫn có thể đắm  mình trong nó để quên đi những phiền muộn trong cuộc đời. Có thể nào như thế được chăng?

-------------------------------

Tôi cũng đang cô độc đây. Nhưng tôi không muốn chia sẻ với ai và không cần ai chia sẻ. Nghiến răng lại.  Gậm nhấm nỗi cô đơn của mình. Không phải là một thú đau thương hay sao. Cần gì người khác.

Lúc tôi cô độc, tôi không muốn chia sẻ với ai vì tôi biết không ai chia sẻ được. Lúc cô độc, ngay giữa đám đông tôi vẫn thấy mình cô độc, càng cô độc hơn. Cô độc đến từ bên trong, không phải từ bên ngoài. Không thể chạy trốn được cô độc vì không chạy trốn được bản thân.

…………………………………………

Tao không cho đây là cuộc "chiến tranh Việt Nam". Nói như thế không đúng. Phải nói là cuộc "chiến tranh ở Việt Nam" vì Việt Nam là tên gọi của một bãi chiến trường. Tại sao thế? Khi chiến cuộc đã xẩy ra và diễn tiến một cách khốc liệt, đẫm máu giữa những người Việt Nam đang cầm súng bắn nhau lại không thể cho đó là cuộc chiến của người Việt Nam hay sao. Không phải. Bề mặt của cuộc chiến với những trận tàn sát kinh hồn chỉ là hình thức của chiến tranh, của tình trạng những người bị đẩy đến chỗ cầm súng đối diện nhau và không thể không bắn. Những người cầm súng đó đứng ở vị trí thụ động và những gì xẩy ra đều vì bó buộc, không thể tránh được và ngoài ý muốn nên không thể bảo đó là cuộc chiến tranh của họ được. Khi đã mất tự do, mất thế chủ động, họ không thể tạo ra chiến tranh nhưng họ phải chịu đựng. Thế thôi.

…………………………..

Vừa ghen vừa không. Tại anh rất mâu thuẫn. Anh không có ý chiếm đoạt. Anh tôn trọng tự do của em và cũng muốn em tôn trọng tự do của anh. Nhưng khi chúng ta ở bên nhau, chỉ có anh và em thôi. Không có người thứ ba và cũng đừng nghĩ đến người thứ ba. Sự riêng tư là điều bí ẩn kỳ diệu của tình yêu. Chỉ hai người thôi. Hai người hòa hợp làm một. Hai người khao khát chia sẻ, tìm kiếm, dâng hiến, tiếp nhận nhau. Hai người chan hòa, tan chảy trong nhau. Làm sao có chỗ cho người thứ ba. Cũng như bây giờ đây, chỉ có anh và em, trong mắt anh chỉ có em, trong tâm hồn anh chỉ có em. Anh muốn...

…

Có những điều bí mật không nên cho ai biết cả. Em không muốn là cuốn sách mở ngỏ trước mắt anh và anh có thể đọc từ dòng đầu đến dòng cuối. Như vậy em đâu còn gì để hấp dẫn anh nữa. Đọc xong, anh có thể liệng nó vào xó, đúng không?

- Không đúng. Có những cuốn sách dù đọc mấy lần vẫn chưa hiểu hết. Còn những điều giữa  hai hàng chữ, bên ngoài cuốn sách, bên trong tác giả nữa. Huống chi em không phải là một cuốn sách. Em là một tâm hồn. Anh biết tâm hồn con người luôn là một điều bí ẩn không dễ gì hiểu được như một trang sách. Huống chi em không phải là một cô gái bình thường, em là một cô gái liêu trai.

………………………………

Ngã hữu thốn tâm vô dữ ngữ

Hồng sơn sơn hạ Quế giang thâm

(Ta có tấc lòng không cùng ai giải tỏ

Dưới chân núi Hồng sông Quế thẳm sâu)

 

Tâm sự của Nguyễn Du là tâm sự của một thi sĩ thiên tài nhưng bất lực trước thời cuộc. Những sinh viên sau Nguyễn Du 200 năm thấu hiểu nỗi lòng của ông, không chia sẻ tâm trạng bất lực, nhưng lại đầy hào khí lấp bể vá trời, quyết tâm làm những gì mà nhà thơ thiên tài năm xưa đã không làm được trong một hoàn cảnh lịch sử mới.

---------------------------------

Em hãy hiểu anh. Anh thương mọi người lắm. Nhưng tâm trạng anh bây giờ anh chỉ muốn sống một mình. Em biết không? Có những lúc anh chỉ muốn một mình thôi. Không có ai chung quanh. Không cần ai chăm sóc. Anh muốn thực sự cô độc. Cô độc đến tận cùng. Anh muốn thức suốt đêm. Muốn khóc muốn cười. Muốn đi về bất cứ giờ nào không ai hỏi han. Anh muốn tự do. Muốn làm chủ hoàn toàn đời mình ngay trong từng sinh hoạt nhỏ.

………………………….

Hoài không ngờ mình là người sau cùng còn tỉnh táo trong đêm nay, một đêm ngông cuồng của mấy gã sinh viên, trong bối cảnh những cuộc đấu tranh đang làm rung chuyển Thành phố Thơ yên bình có dòng Sông Thơm dịu dàng này. Hoài biết những câu chuyện ngông cuồng về tình yêu, về Lão Trang, về Lý Bạch chỉ là bề nổi của một dòng tâm thức đang sục sôi của tuổi trẻ trước khi lao vào vùng xoáy không sao cưỡng được. Đất nước đã dậy sóng. Làm sao những người trẻ tuổi có thể bình yên và lãng quên cho riêng mình, cho dù trong cơn say, trên một con sông xanh êm như ánh mắt của bao nhiêu cô gái tơ mềm ở xứ sở này. Riêng Hoài, trước khi ngủ thiếp đi, anh thấy rõ không còn bao lâu nữa, thế nào anh cũng phải nhập cuộc.

--------------------------------------------

Em về rồi. Tôi vẫn còn đứng đó. Bóng em vừa khuất ở cuối ngõ. Tôi vẫn còn khoanh tay im sững ở đó. Trăng chảy trên vai tôi như mưa đổ trên vai một pho tượng. Pho tượng không nói một lời. Pho tượng hoang mang thẫn thờ và nóng bỏng biến cố. Pho tượng điên cuồng trong một lặng im bão tố ngút trời. Một giờ. Hai giờ. Trăng đổ tung tóe đầy trời. Tôi vẫn đứng đó. Tôi đốt một điếu thuốc. Và điếu thuốc trong hai ngón tay rung lên như một sợi tơ đàn.

……………………………….

Và nụ cười tôi tắt phụt đi khi ra khỏi ngõ nhà anh. Và nụ cười của tôi gục xuống trong bóng tối. Và nụ cười tôi đã kiệt sức. Và nụ cười tôi đã rũ liệt. Và nụ cười tôi đã chết ngắt, chết cứng.

………………………………

Thế hệ Hoài đang phải đối mặt với bao nhiêu vấn đề lớn của đất nước. Mọi sự kiện đều có nghĩa đôi, hai mặt, hay các ý nghĩa hoàn toàn trái ngược. Đế quốc thực dân núp dưới hình thức viện trợ. Cộng sản xâm lược hay giải phóng dân tộc. Những con bù nhìn được ngụy trang bằng những chức vụ quan trọng đứng đắn. Chiến tranh chống Cộng hay chiến tranh tiêu thụ vũ khí và gây thế lực. Cố vấn chính trị hay đặt cơ sở tình báo để khống chế mọi hoạt động yêu nước. Vận động chính trị hay vận động xôi thịt. Hô hào đoàn kết và đâm lén sau lưng. Tôn giáo đại đồng hay tôn giáo bộ lạc. Tuổi trẻ trong sạch hay tuổi trẻ bị mua chuộc. Tuổi trẻ nhiệt thành hay tuổi trẻ hèn nhát... Không phải vài vấn đề mà hàng trăm vấn đề như thế.

 

Các thế lực chính trị trong và ngoài nước chia năm xẻ bảy đám dân chúng khốn cùng kiệt quệ. Mọi giải pháp hầu như đã bế tắc. Tương lai không một chút ánh sáng. Hiện tại mê cung loạn mắt. Đi vào lịch sử là lảo đảo chếch choáng. Viễn tượng tương lai trong đó dân tộc chỉ còn là một lũ ăn mày sự sống bẩn thỉu, một bọn lai căng nham nhở hay những đống xác què cụt ngổn ngang đã làm cho những người tâm huyết của thế hệ Hoài kinh hoàng. Vấn đề đặt ra cho bây giờ là phải mở đường máu với bất cứ giá nào. Đã đến cùng đường thì chỉ có đem khát - sống - thú - dữ và cái chết để tìm lối thoát, ngoài ra chỉ là ngụy tín hay hèn nhát.

………………………………………..

Tôi thấy chúng ta chỉ trông cậy được ở chúng ta thôi. Bọn ngoại quốc nào cũng là bọn chó chết. Giúp đỡ vì nhân đạo, vì lý tưởng này nọ chỉ là chiêu bài bịp bợm, che dấu những hậu ý bẩn thỉu. Trong quá khứ, hiện tại và cả mai sau nữa, một cường quốc khi nhúng tay vào nội bộ một quốc gia nhược tiểu dưới bất cứ hình thức nào cũng là bắt đầu một công cuộc vụ lợi. Chúng ta có quá thừa kinh nghiệm đau xót để tin như thế. Dù thế nào đi nữa, chúng ta cũng chỉ có thể trông cậy vào sức chiến đấu và máu xương của mình thôi. Đối với tôi, đó là niềm tin bền vững nhất không gì có thể lay chuyển.

…………………………………

Hoài nhắm mắt lại một lúc rồi mở choàng ra. Dòng sông trước mặt chợt biến hình. Dòng sông xanh êm mà anh đã đầm mình tắm mát một thời thơ ấu. Dòng sông tuyệt vời ru êm một thành phố hiền hòa không còn dáng vẻ cố hữu nữa. Mặt nước phẳng yên như nâng cao lên, im sững. Dòng nước chảy vô hình thể chìm sâu bên dưới quằn quại như một con rắn trườn mình. Dòng sông tách làm hai phần. Và bề mặt lặng yên phủ lên chiều sâu cuồng phẫn, âm thầm.

………………………………..

Một người Việt Nam gắn liền với đất nước Việt Nam nghèo hèn khốn khó tủi nhục. Người Mỹ, người Anh, người Pháp có thể không gắn bó với đất nước họ nhiều vì họ giàu có, xa hoa, đầy đủ. Người Việt Nam ràng buộc với đất nước mình một cách sâu xa và không thể giải thích. Không có luận cứ, bằng chứng nào có thể mô tả mối ràng buộc thân thiết đó. Mỗi người tự cảm thấy. Bởi mỗi ngày có hàng ngàn người Việt Nam chết vì súng đạn của nhau và của ngoại quốc. Bởi ruộng đồng, nhà cửa đã bị san thành bình địa. Bởi thiếu cơm, thiếu áo. Bởi anh em bạn bè gầy guộc, đói rách. Bởi bệnh tật đầy dẫy. Bởi tra tấn tù đày, bởi lừa bịp phỉnh phờ, bởi thương yêu khắng khít. Bởi tủi nhục mất nước, bởi hàng nghìn hàng vạn như thế.

 

Ai kể hết, ai giải thích cho cùng. Anh đã trót làm người Việt Nam và chấp nhận hi sinh cho đất nước như một nghiệp dĩ vô phương cứu chữa.

……………………………………..

Bây giờ là lúc tôi sống đầy đủ và nhọc mệt, choáng váng nhất. Thực ra đó là điều tôi mong muốn. Tôi trưởng thành rồi. Tôi phải tự mình đương đầu với nhiều vấn đề. Tôi vốn không quen nương tựa. Giai đoạn lịch sử băng hoại này đòi hỏi ở những người mới lớn chúng tôi rất nhiều. Chúng tôi thấy có trách nhiệm và cần phải chu toàn trách nhiệm. Chúng tôi không thể cầu an hay hưởng thụ. Ngay cả tình yêu cũng trở nên nhỏ bé. Trú ẩn trong tình yêu không đủ. Sóng gió biển động bên ngoài kêu gọi chúng tôi phải dấn thân. Chúng tôi mê say theo đuổi tiếng gọi đó và lao vào những chuyến đi. Chuyến đi này cũng là một. Chúng tôi không nề hà gì. Tuy nhiên tôi chỉ sợ một điều là có một lúc nào đó mình phản bội mình, nếu không mình trở thành đứng bên lề. Dấn thân là vào một dòng cuốn. Thả buông trôi là điều nguy hiểm. Nhưng cưỡng lại còn khó hơn. Dù sao đi nữa tôi vẫn cố gắng đến cùng, cho đến lúc nào tôi thấy sắp mất mình hay lòng đã nguội lạnh, lúc đó tôi sẽ trở về với mình để đóng kín bản thân lại.

……………………………………..

Tôi và em đã dừng lại trên bãi cỏ của bến sông đó để hai đứa có một thanh bình riêng rẽ. Chưa bao giờ chúng mình có riêng nhau cả phải không em. Làm sao em nói được những điều em muốn nói khi có mặt người khác và người trong gia đình. Bây giờ chúng mình đã liều lĩnh để tạo cho nhau một lần có nhau trọn vẹn. Em đã dối mẹ và tôi đang bị truy nã. Hai đứa đã quyết định đi với nhau trong giờ giới nghiêm của thành phố chết đang trải qua những cuộc lùng bắt bố ráp.

Tôi và em đã dừng lại trên bãi cỏ loang lỗ bóng trăng đó. Tôi nhìn vào mắt em. Tôi nhìn vào một vùng sương khói đẫm trăng không bến không bờ và hai hàng mi chìm xuống như một thoáng gợn liêu trai  bập bềnh trôi dạt. Tôi nhìn sâu vào mắt em. Tôi nhìn vào đôi mắt chợt trở nên thơ dại như mắt một đứa bé khi bú sữa ngước lên nhìn mẹ mà tiếng nói thiết tha đã trở nên vụng dại, đã trở nên hoang sơ như tự một thuở khai nguyên nào.

 

Tôi si mê nhìn vào mắt em và bỗng dưng thấy mình ngất ngư choáng váng trong một nỗi phiêu bồng lên cao sương khói. Tôi quên hết mọi ý niệm dục tình. Tôi tưởng rằng khi có riêng em tôi sẽ điên cuồng hôn em cho cả hai cùng ngất ngư mệt lử. Thế nhưng tôi quên rằng tôi phải hôn em cho sượng sùng tê điếng. Tôi đã quên hết khi nhìn vào mắt em. Khi nhìn vào một nỗi phù du trìu mến. Khi nhìn vào một vùng hư không thanh thoát.

 

Tôi quên tôi.

 

Tôi quên cả ngày mai phải xa em để làm một kẻ trốn chạy trên đường bị truy nã.

…………………………………

 

Tiếng ổ khóa nghiến lên ken két. Cánh cửa mở ra. Người cảnh sát nắm tay Hoài đẩy anh vào phòng. Cánh cửa đóng ập lại sau lưng anh. Tiếng ổ khóa nghiến một cách hung tợn. Hoài nhắm mắt trong một giây. Anh nghĩ thầm: Thế là xong. Việc gì phải đến đã đến. Mình đã chờ đợi giờ phút này từ ba tháng nay. Ba tháng chạy trốn chui rúc. Thực ra cũng chẳng có gì sợ hãi hay hối tiếc. Bao nhiêu bạn bè từng sát cánh tranh đấu đã lần lượt rơi vào tay cảnh sát. Từ khi phong trào bị dập tắt bằng bạo lực, màng lưới cảnh sát, an ninh quân đội đã được tung ra để truy lùng bọn phiến loạn. Hừ, bọn phiến loạn. Cách gọi xấc láo của bọn cầm quyền có sức mạnh của vũ khí ngoại bang. Hành động để thể hiện lòng yêu nước, tranh đấu cho chủ quyền, tự do, dân chủ, bị gọi là phiến loạn. Nhưng điều đó có quan trọng gì. Lý của kẻ mạnh trong nhất thời chứ không phải trong trường kỳ lịch sử. Và ta sẵn sàng trả giá hành động của mình. Nơi đây. Chốn lao tù này.

…………………..

Đồng bào anh là ai? Họ nghĩ gì, sống như thế nào, thực sự khát vọng những gì? Và một tia sáng bỗng lóe lên trong óc anh. Trước hết, nơi đây, đồng bào anh là ba người tù cùng phòng, là ông Tư, là bác Ba, là Kỳ. Anh đã hiểu biết gì về họ chưa, đã chia sẻ gì với họ chưa mà anh dám tự nhận là chiến đấu cho họ. Có một điều làm anh ngạc nhiên hơn nữa khi nhận ra rằng ba người tù cùng phòng đã hết sức tử tế lo lắng cho anh dù việc đó không có lợi gì cho họ cả. Quả thực như vậy vì anh cũng chỉ là một thằng tù không hơn không kém. Anh có thể bị tra tấn, kết án, đày đi biệt xứ và thân mật với anh nhiều khi có hại cho họ nữa là đằng khác. Thế thì tại sao họ đã làm như vậy dù anh vẫn tỏ ra bất cần, lạnh nhạt. Đó có phải là vì bản chất tốt đẹp của họ luôn muốn cảm thông, chia sẻ, đùm bọc lẫn nhau khi chung cùng cảnh ngộ. Đó là một thiện ý đã biểu lộ sâu sắc tình người, đặc biệt nơi những người bình dân chất phác và ít học. Hoài không tìm hiểu những điều đó và những điều tương tự nơi đồng bào anh thì những ý tưởng cao siêu, hoa hòe về Đất Nước, Đồng Bào sẽ lả tả rơi rụng hết.

 

Từ trước anh chưa được đấm lưng bao giờ. Hoài không ngờ rằng có lúc những người xa lạ, khác tuổi tác, khác hoàn cảnh này lại đấm lưng cho anh. Một niềm xúc động thoáng dâng lên trong lòng. Anh cảm thấy vô cùng gần gũi với những người bạn tù trong phòng, những đồng bào đích thực mà từ trước anh chỉ nghĩ về họ một cách mơ hồ và cách biệt. Anh chợt thấy xấu hổ khi nhớ lại những lời hô hào, những bài phát thanh về đồng bào trong những ngày tranh đấu. Anh đã hoàn toàn nói ra những ý sáo, lời sáo mà anh không hề hay biết. Anh tự hỏi, trên đất nước này, còn bao nhiêu nhà lãnh đạo, bao nhiêu chính khách, nói về đồng bào một cách sáo rỗng như thế nữa trong khi họ thực sự không hiểu biết gì về đồng bào của họ cả, nhất là mấy ông khoa bảng ở Tây ở Mỹ về tham chính. Họ có ngụy tín không hay họ chân thực một cách ngu dốt và ấu trĩ. Thật mỉa mai và cũng thật đau lòng.

…………………………….

Mẹ đã nuôi Hoài, nuôi các con, bằng nước mắt và nhọc nhằn. Mẹ long đong suốt một đời. Dù thế, thầy mẹ đã cố sức cho con vào đại học. Và Hoài trưởng thành trong môi trường sách vở, trí thức. Và đứa con đã khôn lớn ngoài vòng tay của mẹ, giữa muôn cảnh đời khốn khó. Mẹ thương con, nuôi con lớn nhưng không hiểu con được. Mẹ không hiểu con đã nghĩ gì, làm gì trong hoàn cảnh bão bùng này của lịch sử. Mẹ chỉ lo vùi đầu kiếm sống. Xã hội này đã làm mẹ đầu tắt mặt tối suốt một đời, không bao giờ ngẩng mặt lên, không hiểu được thế nào là bước đi của lịch sử. Đôi lúc mẹ có phẫn uất nhưng lòng phản kháng đã bị đè bẹp, chỉ thoát ra bằng những lời thở than buồn chán, những giọt nước mắt ưu phiền.

 

Nhưng mẹ đã nuôi con lớn. Và con đã trưởng thành. Con đã thấy rõ mình đang bước đi trong dòng lịch sử. Con phải hiên ngang phấn đấu để xứng đáng với tình thương và nỗi nhọc nhằn một đời của mẹ.

…………………………..

 

Cuộc tìm kiếm phù phiếm. Cơn đau nhức phù phiếm. Hành trình tư tưởng phù phiếm.  Như cơn choáng váng của một cốc rượu mạnh, một điếu thuốc phiện, một liều ma túy. Tất cả đã đưa anh bay lên rất cao, mù khơi thăm thẳm, đứt lìa với sự sống chân thực hàng ngày. Anh đã mải mê theo đuổi những điều đó. Như rất nhiều kẻ được gọi là trí thức, triết gia, nhà tư tưởng. Nhưng anh đã như con diều đứt dây, sau cơn bay lượn, đã lảo đảo rớt xuống mặt đất. Rất nhiều lần anh đã tự nối lại dây cho con diều, để nó nương gió bay lên. Nhưng rồi nó vẫn đứt dây rơi xuống. Cơn khủng hoảng đó chỉ là một vòng lẩn quẩn. Anh vẫn còn là người thì không thể rời bỏ đời sống chân thực.

 

Và đời sống chân thực là gì? Là căn phòng bé nhỏ này với năm người tù đang lặng lẽ ưu phiền. Là bác Ba bị bắt vì muốn bám đất quê hương. Là ông Tư bị bắt vì phản kháng bóc lột. Là Kỳ bị bắt vì cờ bạc, thụt két. Là Nam, là anh bị bắt vì đòi chủ quyền, tự do dân chủ. Là phong trào tranh đấu thất bại. Là âm mưu của thực dân đế quốc. Là chiến tranh, là hòa bình... Đời sống chân thực đặt ra muôn vàn vấn đề, bày ra muôn vàn trở lực. Giải quyết đời sống chân thực còn khó khăn hơn muôn lần giải quyết những vấn đề trí thức phù phiếm. Cơn khủng hoảng tâm linh thuở mới trưởng thành cần thiết nhưng phải qua đi để dọn mình đương đầu với đời sống. Và cuộc chiến đấu giữa đời này mới là cuộc chiến đấu cam go, đẹp đẽ và bi tráng nhất.

………………………….

 

"Hết giờ thăm nuôi." Gã cảnh sát nhắc tôi một cách thô bạo. Siam đã giã từ tôi thế nào tôi không biết nữa. Tôi bàng hoàng đứng đó nhìn Siam đi ra. Hình như Siam có ngoảnh lại vẫy tay cười, môi mấp máy. Tôi bị gã cảnh sát lôi đi với gói quà của Siam trên tay. Tôi ngẩn ngơ như kẻ không hồn. Tôi bước đi khấp khểnh như trên một đường sạn đạo gập ghềnh. Tôi nghe vang lên tiếng gọi thầm cầu cứu tôi ơi, tôi ơi.

………………………….

 

Hoài bỏ không ra đứng ở cửa sổ để đợi nhìn cô gái nữa. Cô đã biến thành một sức nóng nung đốt lòng phản kháng và ý chí đấu tranh nơi anh. Hình ảnh dịu dàng tinh khiết của cô, tình yêu câm nín siêu thoát của anh dành cho cô không cần thiết nữa. Tất cả đã thể nhập vào con tim nồng nàn ngọn lửa thiêu xiềng hủy xích của người tù sinh viên trẻ tuổi.

…………………..

 

Tôi thức dậy trong đêm. Bây giờ là mấy giờ. Giờ thứ 25 trên đất nước. Giờ thứ 25 trên đất nước. Không. Không. Tôi không thể chết được. Dân tộc tôi không thể bị tiêu diệt. Dân tộc tôi trường kỳ kháng chiến trong hàng ngàn năm lịch sử. Lịch sử đất nước tôi viết bằng máu và nước mắt. Lịch sử đó không thể chết ngộp trong giờ thứ 25 này. Đây không phải là giờ cuối mà là giờ khởi đầu một trang sử mới. Tôi phải phấn đấu để góp sức viết tiếp dòng lịch sử cùng với anh em đồng bào ngoài kia trùng trùng lớp lớp. Tôi chợt nhớ đến lời của anh bạn văn công khi biết anh không được trả tự do vì địa phương anh không dám nhận: "Cần quái gì phải có ai nhận. Bước ra khỏi cổng trại giam này là hổ đã về rừng ." Rồi có ngày tôi cũng sẽ là hổ về rừng. Tại sao tôi lại tuyệt vọng. Tôi đứng lên đi tới cửa sổ. Mọi người đang ngủ yên. Tôi cầm lấy hai song sắt lạnh buốt trong tay mình. Mười ngón tay bấu chặt làm những bắp thịt gân tay nổi lên cuồn cuộn. Tôi có cảm tưởng hai chấn song sắp sửa cong vèo đi dưới bàn tay cuồng nộ của mình.

……………………………

 

Còn những chuyện thời cuộc, chính trị trào sôi anh đã sống trải và trả giá, tất cả đã qua đi rồi tiếp tục những giai đoạn  khác. Vẫn chưa có gì sáng sủa trên đất nước này. Vẫn chiến tranh, hận thù, tranh chấp, phân ly với trăm ngàn thủ đoạn. Những vết thương trên mặt đất, trên thịt da và trong tâm hồn vẫn sâu thêm, lở lói. Khát vọng thanh bình, khát vọng tự do dân chủ vẫn cháy bỏng nhưng nghẹn ngào nơi những tâm hồn bị khủng bố, xua đuổi, đày đọa, giam cầm, trong những thành phố ngột ngạt, những vùng nông thôn tiêu điều đồng khô cỏ cháy và loang lỗ vết bom đạn.

 

Hoài là kẻ tràn đầy khát vọng và tinh thần phản kháng. Anh và bạn bè, những người cùng một thế hệ trào sôi lý tưởng không muốn đứng bên lề. Các anh muốn đi trong lịch sử, làm nên lịch sử với những giấc mơ lấp bể vá trời. Nhưng các anh cũng thật nhỏ bé. Lịch sử đất nước vẫn đi theo con đường chông chênh của định mệnh, nhưng các anh tự hào là những kẻ đã nhập cuộc và dấn thân.

 

Hoài đã suy niệm sâu xa về lịch sử, về đất nước và con người, về những giá trị nhân bản, nơi chốn tận cùng ngục tù của đời sống. Nơi đó, trong đêm đen của vực sâu, tâm thức anh đã đốt  lên ngọn lửa phá xiềng, xiềng xích của nô lệ, hận thù, lầm lạc, yếu đuối và cả tham lam, kiêu hãnh.

Giờ đây, trên cánh bay về tương lai, Hoài thấy mình mang đầy đủ hành trang của tri thức và cuộc sống để tiếp tục con đường chinh phục.

 

 

 

 

TRÍCH ĐOẠN TIÊU BIỂU TỪ TIỂU THUYẾT NỬA ĐỜI NHÌN LẠI

Không thể có tự do tuyệt đối vì ai cũng phải lựa chọn một cách sống hoặc bị du vào một thế sống nào đó và tất yếu phải có ràng buộc dù là tự nguyện hay bị cưỡng bách. "Tự do hay là chết”, lý tưởng thời trẻ của anh, xét cho cùng, thực ra có ý nghĩa hết sức tương đối. Đạt đến cái tương đối đó đã khó và phải chăng khát vọng tuyệt đối chỉ là một giấc mơ bi thảm của con người. (t32)
…

Tự do hay là chết. Chao ôi, đó chỉ là khát vọng ngông cuồng của thời trẻ tuổi. Không làm gì có tự do tuyệt đối trên đời này nếu còn có liên hệ với người khác. Có người khác là mất tự do, nhưng tìm về người khác lại là bản năng và cũng là khát vọng vĩnh cửu của con người. Đôi lúc đi giữa một thành phố lạ, Hoài chợt run người, lạnh buốt xương da khi nghĩ rằng trong thành phố này mình không hề có một người thân thiết và hoàn toàn xa lạ giữa muôn vạn người. Ngược lại, dù không gặp hay chưa gặp, anh cũng thấy ấm lòng khi biết rằng giữa trùng trùng người xa lạ kia, có một người, chỉ cần một người, đối với mình đã từng chia sẻ, gần gũi, và gặp gỡ nhau sẽ trở thành một hạnh phúc không gì sánh được.

Phải chăng anh đã rơi vào bi kịch vì đó là bi kịch của lịch sử và cũng là bi kịch của chính cá nhân anh, của bất cứ ai có chút tấm lòng với lịch sử?(134)

…

 

Hôm nay, ở đây, chính là một ngày nào đó, một nơi nào đó, trong thời gian và không gian, tôi đã tìm em. Tôi đã tìm em những nơi em đã qua. Nhưng lời hẹn thề của em đã bay tan trong gió. Và tôi chỉ tìm thấy tôi - hay chính là tôi đã đi tìm tôi - giữa chốn hư vô.

…

 

Nhưng tình cảm không phải là điều có thể tính toán và khéo léo sắp xếp gọn gàng ngăn nắp trong tâm hồn như sắp xếp đồ vật trong gian phòng. Tình cảm như con ngựa bất kham chợt lồng lên, như cơn gió lốc tự dưng xoáy tròn bốc cao đến tận trời xanh, như hoa nở về đêm âm thầm tỏa hương, như sương mù mỗi sớm mỗi chiều trên xứ sở này cuồn cuộn dâng lên rồi lại lan đi trong khoảnh khắc. Thế nào là trung thành và chung thủy khi vợ chồng nằm bên nhau, đầu gối tay ấp mà vẫn, "đồng sàng dị mộng"? Chao ôi, sao anh suy nghĩ quẩn quanh lắm thế! Đúng anh là con ngựa hoang đã bị xiềng. Tuổi hai mươi anh tung bờm trong gió lộng thảo nguyên nhưng ở tuổi bốn mươi, anh không dám cúi xuống cả bãi cỏ non trước mặt. Anh mất tự do rồi sao? Có thể nào cuộc đời, hôn nhân, yêu thương, trách nhiệm đã làm anh trở nên một tên nô lệ thảm hại, dù là một tên nô lệ tự nguyện?

…

 

Từ thuở mới mười sáu tuổi, anh đã bắt đầu cuộc đuổi bắt này và hầu như suốt đời, anh là kẻ không bao giờ tới đích. Phải chăng anh đã đuổi bắt ảo ảnh, một cái gì gần với tuyệt đối và hư vô, những khái niệm không xác định được nội dung, hay chỉ là nỗi niềm khao khát của một đời người?

…

Hình như trong buổi chia tay ở thành phố Sương Mù, trong nỗi đắng cay và tuyệt vọng, em đã có nói: "Dù sao đi nữa, em vẫn tin rằng, một ngày nào đó, một nơi nào đó, chúng ta sẽ lại gặp nhau, dù sau bao lâu đi nữa, có thể là sau cả sự lãng quên". Có phải đó là lời hẹn thề của em, một lời hẹn thề ở chốn hư vô và nay đang bay tan trong gió? Tôi đã đuổi theo em, đã đi tìm em theo lời chỉ dẫn mơ hồ của những ngọn gió đã tan tác trong không gian xanh cao vời vợi. (t143)

…

Chao ôi? Thế nào là tự do? Có phải tự do là muốn yêu ai thì yêu, làm gì thì làm? Không đâu, anh yêu ai, làm gì, anh sẽ bị ràng buộc với người đó, việc đó không sao tránh được. Đòi hỏi tự do tuyệt đối chỉ là điên rồ, không tưởng.
Vy nhìn Ho
ài nằm thiêm thiếp, ý nghĩ cô quay cuồng và chợt cô đau xót khi thấy rằng con người thân yêu đang nằm kia không thuộc về cô. Anh là một kẻ đãng tử trên trần gian này và không ai ngăn được bước chân phiêu lãng của anh, ngay cả tình yêu đằm thắm cô đang dành cho anh bằng cả một đời tận hiến.(t149)

…

Tình yêu của em là tình yêu dành cho một con người tự do có khả năng từ chối. Anh hãy từ chối em - nếu cần như thế - với tất cả bản lĩnh của anh nhưng đừng biến thành một con người khác. (t154)

…

Thế mà đã có lúc, hồi mới giải phóng, khi làm công tác đoàn, nói chuyện với thanh niên, anh đã phê phán những bài hát này và cả những người hát nó. Lúc đó anh thành thực tin rằng thời đại không cho phép những nỗi buồn riêng và những giai điệu sầu muộn. Anh đã cuồng tín và cực đoan khi tiếp thu chủ nghĩa cộng sản. Bây giờ, ngược lại, anh cảm thấy trong bất kỳ hoàn cảnh nào, những bản tình ca, những lời yêu thương, những nỗi muộn phiền riêng tư vẫn mãi mãi bất tử vì đó chính là con người. Con người cao hơn và trường cửu hơn chủ nghĩa cộng sản hay bất cứ chủ nghĩa nào. Như thế phải chăng đã có những lúc anh phản bội chính mình, một cách chính đáng và không tự giác? (t 173)

…

 Rất nhiều người tự nhận là văn nghệ sĩ nhưng trong họ chất chính trị mạnh hơn chất nghệ sĩ. Bản chất của chế độ đã làm cho chất chính trị phát triển mạnh lên thành chất cơ hội. Điều đó đã làm hư hỏng biết bao văn nghệ sĩ, suốt từ Cách mạng tháng 8 đến nay.

Chế độ đã làm họ hèn đi, xu phụ quyền thế, uốn cong ngòi bút, đánh mất lương tâm, lụi tàn lòng phản kháng, lu mờ sự chính trực. Lỗi ở họ một phần nhưng nguồn gốc của tai họa chính là ở chế độ. Một chế độ độc đảng, độc trị, độc tài, tất yếu không thể dung thứ được tự do, dân chủ và chính trực. (t208)

…

Bất cứ nhân danh gì cũng không được chà đạp lên hạnh phúc của con người, coi con người chỉ là công cụ.

Rộng hơn là chế độ này đã không đánh giá đúng con người và không có chiến lược con người đúng đắn như họ vẫn rêu rao. Con người cao hơn cộng sản nhiều, cao hơn tất cả mọi chủ nghĩa, mọi chế độ chính trị trong khi cộng sản và các chủ nghĩa lại muốn đứng trên và chi phối con người.
Đó không phải chỉ là thảm kịch của chế độ cộng sản mà của nhiều chế độ, nhiều thời đại, khi những kẻ nắm quyền lực bị tha hóa, mất phẩm chất con người.(t225)

…

Chúng ta đều là những con thiên nga bị vặt trụi cánh trên đời, cứ nằm trên mặt đất mà mơ ước trời xanh nước rộng. Con ngựa hoang trên đồng vắng, một mình dưới vầng trăng lẻ loi và cô đơn. Đó không phải chỉ là anh, đó cũng chính là em, là nỗi cô đơn của một kiếp người.

 …

Lá thư này gởi cho các bạn chính là đoạn kết của tác phẩm đó. Thực ra không phải tôi chỉ sáng tác khi ngồi viết mà chính ra tôi sống với tác phẩm trong mọi lúc, kể cả trong giấc ngủ. Tôi nghĩ về tác phẩm trên mỗi bước chân thầm lặng, mỗi nhát cuốc bổ sâu vào lòng đất. Tôi phẩy tác phẩm nơi đóa hoa hé mở, nơi gốc cỏ dại chen lẫn trong vườn rau. Tôi nghe tác phẩm trong những câu thơ xưa, những hồi ức về mọi chuyện vọng về ngân nga trong trí tưởng. Tôi hiểu tác phẩm khi thấy mặt trời lên và chìm trong bóng đêm. Tôi liên tưởng đến tác phẩm khi nghe những bản tin thời sự về đủ mọi vấn đề đang diễn ra khắp nơi trên thế giới. Tôi hòa tan vào tác phẩm khi niềm đau nhức, cơn khắc khoải dậy lên trong cả hồn xác. Tóm lại tôi đã viết tác phẩm bằng toàn bộ con người mình trong mọi nơi, mọi lúc. Tác phẩm chính là tôi, cuộc sống của tôi. Đó là một cuộc sống hòa lần giữa thực và mơ, một sự tồn tại đầy đủ nhất mà tôi đã có từ trước tới nay.

Tác phẩm bao gồm những con người, sự việc có thật và những nhân vật, sự việc hư cấu hay một phần hư cấu. Con người và sự việc có thật mang chính tên họ của mình và như đã xảy ra trong thực tế. Dĩ nhiên cách trình bày và nhìn nhận là của người viết. Tác phẩm xuất hiện từ cuộc đời, làm sao nó có thể thiếu vắng hiện thực. Tôi hiểu cuộc đời qua chính tôi, qua những người quen biết, những điều trông thấy, sống trải. Tôi xây dựng tác phẩm từ đó chứ không thể lấy chất liệu từ hư không (dù hư không chính là quê hương tôi sẽ quay về khi từ giã cuộc sống này). Tôi không cần ám chỉ. Tôi viết những điều tôi nghĩ, tôi chiêm nghiệm về mọi người, mọi chuyện. Đó là quyền tối thượng của nhà văn, một con người có ý thức rõ ràng về việc mình làm. Tuy nhiên đây là tác phẩm, là tiểu thuyết, nên thực ra nó không phải là cuộc đời mà chính là cuộc đời đã thăng hoa trong nghệ thuật. Đó cũng là quan niệm giản đơn của tôi khi sáng tác. (t228)


 

 

 

TRÍCH ĐOẠN TỪ TÁC PHẨM  MẢNH TRỜI XANH TRÊN THUNG LŨNG

 

 

   


 

 

 


 

 

 

            Hoa súng vàng

 

Rồi những hoa súng vàng trên chiếc ao bé nhỏ của tôi cũng tàn. Khi một bông hoa khép cánh lại, nghiêng người chìm dần xuống làn nước đục, tôi thảng thốt kêu lên: "Hoa súng vàng ơi, em có đau đớn không?" Hoa gượng lại, ngẩng nhìn tôi và mỉm cười: "Không đâu. Em đã hiến dâng vẻ đẹp mong manh cho đời và bây giờ em trở về với bùn đất để làm cuộc tái sinh thôi. Hãy chờ em."

Và tôi đã chờ. Và em đã không lỗi hẹn. Những búp mầm mới lại sinh sôi và một sáng nào đó, em lại nhô ra từ làn nước đục, với nụ cười sóng sánh tinh khôi. Em liếc mắt nhìn tôi thì thầm một lời mật ngọt: "Em không thất hứa đâu. Em đã đến và em sẽ đến cùng anh qua suốt cuộc luân hồi khi anh vẫn còn ngồi chờ em bên bờ trần gian khổ lụy."

Cám ơn em vô cùng, hoa súng vàng mảnh mai như một nàng tiên nhỏ đã thề ước và bầu bạn cùng tôi nơi khu vườn khuất nẻo hoang sơ này.

(Trích “Mảnh trời xanh trên thung lũng” của TDBC)

 

 


 

 

 

Tự do

 

Tôi yêu tự do và không thể sống tự do mà không dấn thân vào cuộc chiến đấu. Đó là cái gía phải trả cho tự do. Tự do không phải là tặng phẩm trời cho. Tự do không phải ngồi đợi để được ban phát. Tự do không bao giờ vô điều kiện. Tự do nằm trong mối quan hệ giữa con người và con người và giữa con người với thiên nhiên. Tự do là cuộc đấu tranh với chính bản thân. Tự do là khát vọng thường trực của phận người luôn luôn bị giam hãm trong đủ mọi thứ ngục tù. Tự do là giấc mơ lãng đãng bay lượn trên vòm trời chật hẹp của cuộc sống. Tự do ở bên trong và bên trên mọi yêu ghét tầm thường tục lụy.

(Trích Mảnh trời xanh trên thung lũng của TDBC)

 

 


 

 

 

Chim én trắng

 

Lần đầu tiên đi với một cô gái trên đường phố Sài Gòn. Với dáng người thanh mảnh, trên đôi giầy bic cao gót màu nâu, em cao gần bằng tôi. Liếc nhìn sang, khi không cười nói, em có một vẻ buồn lạ lùng. Tôi nghĩ nỗi buồn từ trong sâu kín của tâm hồn tỏa ra trên toàn bộ nét mặt, nhất là trong đôi mắt mơ hồ sương khói sau cặp kính cận. Vẻ u sầu phảng phất đó làm tôi nhói lòng, như chạm phải một nét đau thương, như động chạm đến chính hồn tôi đang tê tái. Tôi hiểu rằng mình vừa từ bỏ một cuộc tình sôi nổi vui tươi nhưng có phần  hời hợt, bước qua một chặng đường khổ nạn cô độc đến tận cùng và sẽ bước vào một cuộc tình mới mê đắm và bi thương.

(Trích Mảnh trời xanh trên thung lũng của TDBC)

 

 


 

 

Nhóm Đà Lạt

 

Bùi Minh Quốc, Hà Sĩ Phu, Mai Thái Lĩnh và tôi, bốn người có xuất thân và quá trình, tính cách, sở trường, hoàn cảnh  hoàn toàn khác nhau nhưng chúng tôi đã dần dần họp lại thành một nhóm. Điều đã gắn kết chúng tôi là khát vọng tự do. Đó chính là "đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu" trong hoàn cảnh mới của đất nước.

(Trích Mảnh trời xanh trên thung lũng của TDBC)

 

 


 

 

 

 

Khu vườn

 

Chúng tôi mua căn nhà này chỉ vì trong vườn có một giếng nhỏ có đám lau sậy trổ bông trông rất hoang sơ. Tôi không thèm chú ý đến căn nhà cũ gỗ mục mối ăn mà chỉ mê những bông lau trắng phất phơ trong gió.

(Trích Mảnh trời xanh trên thung lũng của TDBC)

 

 


 

 

 

 

Viết và tác phẩm

 

Tôi viết vừa dễ vừa khó. Dễ vì tôi đã từng trải nghiền ngẫm sự việc một cách sâu sắc. Khó vì tâm trạng tôi chưa ổn định, hàng ngày vẫn có những việc khác làm tôi bức xúc. Hơn nữa tôi biết viết ra chỉ để viết ra, chắc chắn sẽ không có nhà xuất bản nào ấn hành tác phẩm của tôi. Tôi tự nghĩ viết trước hết là cho chính mình, để phản tỉnh, sám hối và may ra gởi thế kỷ mai sau.

 

Tác phẩm đã trở thành sự sống thứ hai của tôi. Dù viết hay không, tôi vẫn nghĩ về tác phẩm của mình mọi nơi mọi lúc. Sự ngân nga của một tác phẩm đang hoài thai và phát triển đã mang đến cho tôi những giờ phút xuất thần và mê đắm. Ít ra đó là lạc thú đầu tiên tôi được hưởng dù tác phẩm sau này có ra đời hay không. Tâm hồn tôi không bao giờ yên tĩnh. Sóng gío hầu như đã trở thành bản chất của một tôi lúc nào cũng tự vấn hoài nghi.

(Trích Mảnh trời xanh trên thung lũng của TDBC)

 


 

 

 

Hôn nhân

 

Hôn nhân là cuộc sống chung khó khăn nhất trong mọi cuộc sống chung. Đối với những người khác, bất cứ là ai, ta có thể va chạm, giận dữ xung đột, oán hận nhưng rồi ta có thể quên vì giữa ta và họ ít nhiều có một khoảng cách. Còn trong hôn nhân không có khoảng cách. Trong hôn nhân người ta gần nhau  không phải chỉ trên cùng một chiếc giường, một căn phòng, một mái nhà mà còn trong tâm hồn, trong nghĩ tưởng, trong hiện tại, quá khứ và cả trong tương lai. Chỉ cần một lúc lạc nhịp hay không hòa điệu là sự gần gũi có thể trở nên nặng nề cấn cái.

(Trích Mảnh trời xanh trên thung lũng của TDBC)

 

 


 

 

 

 

 

Hôn nhân (2)

 

Chưa kể đến những điều lầm lỡ. Và điều kinh khủng của hôn nhân không phải là quá trình lầm lỡ mà tiếp tục lầm lỡ trong cả quá trình. Chúng tôi đã có những điều lầm lỡ và đã trả gía cho sự lầm lỡ của mình. Trong cuộc sống chung, mọi vấn đề luôn luôn được đặt ra, cũ và mới. Cũ phát triển thành cái mới và mới gợi lại cái cũ. Trong hoàn cảnh của chúng tôi hiện nay, những vấn đề lại được đặt ra dưới  một góc cạnh khác, một ánh sáng khác. Tôi tiếp tục nghiền ngẫm về ý nghĩa của hôn nhân và điều này chi phối tôi mạnh mẽ không kém gì, có khi còn hơn những vấn đề chính trị thời cuộc.

Có người hiểu tôi và từng nói: Chính trị và tình yêu là hai trò chơi chết người mà anh đã tham dự vào, lại dấn thân một cách hết mình. Tôi không còn cách nào khác là mở hết tâm hồn ra để nhận lãnh mọi vinh quang và nhọc nhằn của cuộc-chơi- đời mà tôi đã sống trọn.

(Trích Mảnh trời xanh trên thung lũng của TDBC)

 

 


 

 

Ăn năn, sám hối, cầu nguyện

 

Ăn năn

 

Dù sao những giờ phút ăn năn và tràn đầy thiện ý cũng là những giờ phút hạnh phúc. Có thể chỉ là phút giây thôi. Nhưng trong những phút giây này những đóa hoa nở ra trên con đường thiên lý của cuộc làm  người.

 

Sám hối

 

Chính sự sám hối sẽ cứu rỗi dân tộc và con người chứ không phải là những lời lẽ ba hoa về chính nghĩa và chiến thắng.

 

Cầu nguyện

 

Từ trước tôi chưa hề biết và khinh bỉ cầu nguyện. Nay tôi cầu nguyện và chúc lành cho những người thân yêu, cho bạn bè, cho cả những người coi tôi là "kẻ thù" dù tôi không có kẻ thù. Nhưng cầu nguyện không phải là thôi đấu tranh.

(Trích Mảnh trời xanh trên thung lũng của TDBC)

 

 

 

 

 

 

Một thoáng phù du điên rồ

 

Phải chăng anh chỉ là một sự  say mê phù phiếm trong cuộc đời này. Anh không thuộc về anh, không thuộc về em, không thuộc về ai cả. Anh chỉ là một thoáng phù du điên rồ.

"Cái gì của riêng anh" có đưa em ra khỏi anh không? Hỡi "sự say mê phù phiếm trong cuộc đời này"?

Đã bao đêm, đã bao ngày, từng giây từng phút, em tự hỏi cái gì đã giữ em  có mặt trong cuộc đời anh suốt gần hai mươi năm qua. Lòng yêu thương! Sự cảm thông ! Chia sẻ! Và nếu không hiểu anh thì làm sao được ???

Dù sao trong em duy nhất chỉ là "Tấm lòng"!.

(Trích Mảnh trời xanh trên thung lũng của TDBC)

 


 

 

 

Khuôn-mặt-tượng-đá-khổ-đau

 

Trên khuôn mặt người phụ nữ tôi đã từng quen biết hơn hai mươi năm này, vẻ đẹp liêu trai mê hồn năm xưa đã hóa thân thành nỗi đau thương cô đặc, đúc thành tượng đá thịt da, được phủ lên một lớp bụi thời gian từ thiên cổ.

 

Tôi không dám nhìn vào khuôn-mặt-tượng-đá-khổ-đau của chị nữa. Câu chuyện văn chương, triết lý giữa Trăng Đầu Núi (Sao Trên Rừng - Nguyễn Đức Sơn) và tôi bỗng trở nên tẻ nhạt. Tôi chợt hiểu rằng không có gì quý hơn hạnh phúc của con người. Bất cứ điều gì, dù là chính trị, văn chương, triết lý... nếu phá vỡ hạnh phúc của con người, chỉ có thể trở thành thuốc độc dán nhãn hiệu hoa hòe để lừa bịp mà thôi.

(Trích Mảnh trời xanh trên thung lũng của TDBC)

 

 

 

 

 

Những đoản khúc  trong bản trường ca

 

1*  Tình yêu đâu nơi môi hôn

Tình yêu đâu nơi đầu mày cuối mặt

Tình yêu đâu nơi gối chăn mải miết

Tình yêu chìm trong im sâu

2*  Khi anh nhìn em thẫn thờ trước cửa

Khi anh nhìn em thất thểu đi về

Khi anh nhìn em thâu đêm vất vả

Khi anh nhìn em nước mắt lưng tròng

Tình yêu nhói như cơn đau

3*  Khi em nhìn anh ngập tràn quá khứ

Khi em nhìn anh chập chờn tương lai

Khi em nhìn anh ngổn ngang hiện tại

Khi em nhìn anh thổn thức tủi hờn

Tình yêu buốt như cơn đau

4*  Khi em mua cho anh điếu thuốc lá lẻ

Khi em nhổ cho anh mấy sợi tóc sâu

Khi em lau mặt anh bằng chiếc khăn nồng ấm

Khi em vá cho anh chiếc áo cổ sờn

Tình yêu mặn đầm muối biển

5*  Khi anh dắt cho em chiếc xe đạp lên dốc

Khi anh xoa bóp cho em cơn đau nhức cơ thân

Khi anh ủ cho em đêm khuya lạnh gía

Khi anh hát cho em nghe những bài tình ca xưa cũ

Tình yêu nồng nàn ngọn lửa

 

6* Khi ta nhìn nhau im lặng

Khi ta ngoảnh mặt quay đầu

Khi ta nhìn về hai phía

Khi ta bên nhau cô đơn

Tình yêu quặn thắt cơn đau

 

7* Khi ta đi bên nhau dưới cơn mưa

Khi ta cùng ngóng trông thư con nơi xa

Khi ta thức cùng nhau nửa khuya mất ngủ

Tình yêu ngọt đắng café.

 

8*  Ta đã trong nhau tận cùng ước vọng

Ta đã trong nhau hết nỗi đau đời

Ta đã uống chung cạn ngàn chén đắng

Ta đã bay lên chín tầng mây trắng

Tình yêu ngân nga

 

9*   Tình yêu đâu nơi lời yêu thương

Tình yêu đâu nơi dòng thư rạo rực

Tình yêu đâu nơi hình hài quấn siết

Tình yêu chìm trong im sâu.

(Trích Mảnh trời xanh trên thung lũng của TDBC)

 

 

 


 

 

Các con

 

Dù sao các con cũng tôn trọng suy nghĩ và việc làm của tôi. Tôi không làm ra tiền bạc, không có địa vị nhưng chúng kính trọng tôi vì tôi sống trung thực và không hèn, như thế là được rồi. Tôi cũng tôn trọng và ít can thiệp vào cách sống của các con. Chúng có tinh thần tự lập cao, kiếm sống khó khăn nhưng hào hiệp với bạn bè, có tình có nghĩa.

Tôi nói cho con hiểu rằng hiện nay có những luật lệ đi ngược lại hiến pháp và ngay cả hiến pháp cũng có những điều đi ngược lại nhân quyền. Tôi chỉ chấp hành những luật lệ nào tôn trọng con người, còn những luật lệ nào chà đạp con người, tôi phải đấu tranh xóa bỏ. Luật lệ không phải là cái gì thiêng liêng, toàn hảo mà do con người, chế độ đặt ra thôi.

(Trích Mảnh trời xanh trên thung lũng của TDBC)

 


 

 

Dã quỳ

 

Thời gian này, hoa quỳ dại đã bắt đầu  nở vàng chung quanh vườn nhà tôi nhưng tôi không chú ý lắm. Mấy ngày qua, trên đường đi lên công an, dọc theo các con dốc, các sườn đồi, hoa quỳ dại đã vàng rực lên bốn bề trong nắng sớm. Chao ôi, màu hoa hoang dã chói chang này năm nào chúng tôi làm cuộc đi xuyên Việt để đấu tranh cho tự do báo chí và xuất bản, cho tự do dân chủ và đổi mới thực sự, đã rực lên khắp núi rừng Tây nguyên, dấy lên trong lòng chúng tôi biết bao cảm xúc. Tôi nhớ lại, cũng vào thời gian này, một tháng cuối đông cách đây tám năm, chúng tôi đã lên đường, giữa mầu hoa nồng nàn thúc giục. Bao nhiêu thay đổi thăng trầm đã trôi qua. Bây giờ  tôi lại vào cuộc chiến đấu, có lẽ khó khăn hơn, nhưng không phải trở về từ khởi điểm, mà bắt đầu từ một mốc dấu mới. Cám ơn hướng dương - dã quỳ đã nhắc nhở tôi luôn hướng vọng về mặt trời -ánh sáng.

(Trích Mảnh trời xanh trên thung lũng của TDBC)

 

 

 

 

 

Người cầm bút

 

Chúng tôi vừa là người trong cuộc, vừa là nhân chứng của một giai đoạn lạ lùng của lịch sử, trong đó thiện-ác, chân thực-gỉa trá, cao cả-thấp hèn, trung thành-phản bội, thân thiện-thù địch, lý tưởng-cơ hội... đan xen, làm nên một mớ bầy nhầy khó phân biệt rạch ròi.

Chúng tôi là những người cầm bút chỉ mong đủ sức viết lên sự thực mô tả được toàn cảnh hoành tráng nhưng nồng nặc mùi hôi thối của một thời kỳ  phi thường  dân tộc đang sống trải.

(Trích Mảnh trời xanh trên thung lũng của TDBC)

 

 

 

 

 

 

Thủy tạ (Đà Lạt)

 

Thủy Tạ là nơi chúng tôi có nhiều kỷ niệm. Ngày mới về với nhau gần 30 năm trước, trong những ngày trăng mật muộn, chúng tôi đã nhiều lần ngồi với nhau nơi đây thưởng thức sương mù, khí lạnh trên mặt hồ bên ly café sóng sánh vàng bốc khói. Thỉnh thoảng khi có dịp kỷ niệm sinh nhật hay ngày về với nhau hoặc các con ở xa về, chúng tôi vẫn ra đây ngồi uống café. Lần này chúng tôi quyết định đến đây để thưởng thức lần cuối, một nơi dễ chịu, nhiều kỷ niệm trước khi mất tự do trong hai năm tới.

 

Tôi nhìn những người đang hò reo trước màn hình (xem đá bóng trên TV) và ngẫm nghĩ. Đây đúng là dịp cho họ giải tỏa ức chế. Chỉ những lúc như thế này họ mới được tự do bộc lộ cảm xúc của mình còn bình thường ai cũng phải căng thẳng vì đủ mọi chuyện cơm áo, việc làm, cạnh tranh, o ép từ đủ mọi phía. Họ hoàn toàn khác chúng tôi và có lẽ cả thành phố này không ai giống chúng tôi cả. Trong khi mọi người đều say mê theo dõi đường lăn của quả bóng thì chúng tôi ngồi đây, giữa tiếng ồn ào và bầu khí  phấn khích, nhưng lại hoàn toàn tách biệt để ưu tư về việc mình sắp mất tự do. Có một cái gì như hư như thực, phi lý và cay đắng trong buổi uống café tạm biệt Thủy Tạ này của chúng tôi.

Phải chăng tôi là kẻ cô đơn, tự mình đứng bên lề dòng cuốn. Có một cái gì phi lý vẫn cứ diễn ra trong đời sống này, trên đất nước này.

Và đất nước trong tôi vẫn chỉ là một niềm đau nhức không nguôi.

(Trích Mảnh trời xanh trên thung lũng của TDBC)

 

 

 


 

 

 

 

Động hoa vàng

 

Buổi chiều tôi ra cổng viết lại số nhà, tên đường đã bị lu mờ. Từ hôm qua tôi đã quét vôi và sơn lại cổng, cái cổng ghép bằng gỗ, sắt và chuồng gà công nghiệp cũ do tôi tự làm đã mấy năm nay. Tôi gắn thêm một miếng thiếc sơn trắng và nắn nót viết ba chữ "Động Hoa Vàng" mà tôi đã tìm kiểu chữ đẹp nhất trong font chữ của máy vi tính. Đây là tên của  khu vườn và nhà tôi mà tôi đã nghĩ từ ít lâu nay. Đúng là vườn tôi có nhiều hoa vàng: hoa bướm, hoa kim châm, hoa sans souci, hoa quỳ dại, hoa súng, hoa mimosa...Tôi đang tu thiền theo Yoga và mầu vàng là mầu giác ngộ. Khu vườn của tôi tĩnh mịch, có đôi chút hoang sơ nên tôi tự nghĩ tên "Động Hoa Vàng" cũng khá thích hợp. (Ấy vậy mà sau đó công an hỏi dò hàng xóm tôi viết như thế có ý đồ gì, mật mã gì, cho ai…???!!!)

(Trích Mảnh trời xanh trên thung lũng của TDBC)

 

 

 

 

 

 

Quyền lực

 

Hãy cảnh giác với quyền lực. Câu nói đó đã vang lên nhiều lần ngay trên đất nước này do chính  những lãnh tụ cộng sản nói ra.

Bây giờ lời cảnh báo đó lại càng khẩn thiết. Quá rõ ràng đất nước này nào phải của riêng những người cộng sản và cái gì gọi là "bách chiến bách thắng muôn năm" chỉ là một ước mơ không nên đeo đuổi nữa.

(Trích Mảnh trời xanh trên thung lũng của TDBC)

 

 

 

 

 

Diệt cái ác

 

Tôi dùng cuốc phạt ngang thân cỏ dại. Chẳng bao lâu chúng lại mọc lên. Tôi nỉa đất  ba lần xuống sâu nửa thước để nhặt cho hết rễ cỏ. Chúng không mọc được nữa. Một mẩu rễ bé tí còn sót trong đất ẩm, một thời gian sau sẽ đâm chồi và nếu không ngăn cản nó sẽ lan tràn. Hàng đống rễ cỏ đem phơi nắng thật khô sẽ bốc cháy thành tro bụi khi châm vào ngọn lửa. Muốn tiêu diệt cái ác, không thể vội vàng, thô bạo mà phải kiên trì tách nó ra khỏi môi trường thuận lợi cho nó phát triển. Đó là một trong những bài học tôi rút ra được khi làm vườn mỗi ngày.

(Trích Mảnh trời xanh trên thung lũng của TDBC)

 

 


 

 

 

Yoga

 

Việc chúng tôi đi học Yoga không phải chỉ để học phương pháp dưỡng sinh hay chữa bệnh như đối với nhiều người khác mà là một cơ duyên. Chúng tôi biết mình sẽ dấn thân và gắn bó với con đường lạ lùng này. Con đường nhỏ ngoằn ngoèo chạy từ đỉnh Himalaya huyền bí đi vào giữa nhân gian thời hiện đại sẽ dẫn tôi đi bình an qua mọi nẻo đường khổ lụy của cuộc sống chông gai này.

Dada U cùng với các Dada Didi khác đã giúp chúng tôi nhìn thấy một thế giới khác, một thế giới không biên cương hòa bình và an lạc mở rộng ra đến toàn vũ trụ. Khác với thế giới đó, thế giới hiện nay của những biên cương và mâu thuẫn, xung đột giữa các quốc gia, dân tộc, chủ nghĩa, tôn gíáo... thật quá chật hẹp, tầm thường, tồi tệ và khổ đau. Tiếc thay đây lại là thế giới thật của hôm nay.

(Trích Mảnh trời xanh trên thung lũng của TDBC)

 

 

 

 

 

 

Hư vô

Cô gái nói thầm vào tai tôi:  "Nơi đây yên nghỉ những người xa lạ, những bạn bè và cả những người ghét bỏ anh. Một ngày nào đó anh có cần một chỗ bên họ cho ấm cúng không?"  Lần này tôi trả lời cô, giọng rõ ràng vang lên trong khung cảnh tịch mịch: "Tôi không cần một nấm mồ. Tôi muốn trở về hư vô. Nhưng sau khi tôi chết đi, những người sống làm gì với thân xác tôi  cũng không quan trọng. Tôi bây giờ chỉ là một dấu chấm nhỏ của cát bụi trong cuộc đời. Đến một lúc nào đó nó sẽ tan đi không còn lưu vết. Tôi không có gì phải lưu luyến đâu".

 

 

 

 

 

 

 

 

Đối kháng quyền lực

 

Vậy là trong vòng 2 năm nữa tôi sẽ bị giam lỏng ở đây. Tôi không thể chống lại chuyện này vì Nhà nước có công an, quân đội và nhà tù. Tôi chỉ là một cá nhân nhỏ bé. Dĩ nhiên tư tưởng là chuyện khác. Nhưng phải chăng đây là định mệnh, cái giá phải trả của những người như tôi. Có lần Hồ Hiếu nói với tôi : "Chúng ta là những người đi giữa hai lằn đạn, bên nào cũng bắn”.  Riêng tôi, trong chế độ cũ tôi đã ở tù, bây giờ "chính quyền cách mạng" lại giam lỏng tôi. Nhiều bạn bè đã lạnh nhạt hoăc xa lánh tôi vì những việc tôi đã làm. Tôi là kẻ không biết tùy thời, suốt đời phản kháng. Và những kẻ nắm quyền lực, từ xưa đến nay, bất kể đông tây, cộng sản hay tư bản, chủ yếu vẫn là củng cố quyền lực, còn chuyện lý tưởng vì dân vì nước chỉ là thứ yếu và là ngôn từ trên giấy hoặc đầu môi chót lưỡi. Tôi đã lỡ dấn thân vào con đường đối kháng với quyền lực và đã tham dự vào một trò chơi chí mạng, trong đó phần thiệt thòi nhất định thuộc về mình. Dù sao tôi không có chọn lựa nào khác.

(Trích Mảnh trời xanh trên thung lũng của TDBC, viết năm 1997, Văn Mới, Hoa Kỳ xuất bản năm 2007)

 

 

 

 

 

 

 

Cảm nhận Mảnh trời xanh – Nguyễn Mạnh Trinh (Hoa Kỳ)

 

Viết hồi ký, kể chuyện thực tại. Viết tiểu thuyết tự truyện, kể chuyện qúa khứ, có phải ? Hình như tác giả không có dụng ý ấy. Bởi chất thơ, chất mơ mộng đã ăn sâu vào xương tủy ông. Những bài thơ, những đoản văn, những hồi ức về tình yêu, về một đời sống đã thành kỷ niệm  hay  cả những lúc lao đao rối bời bị vùi dập, bị  mất tự do  của hiện tại, đều  phảng phất cái lãng mạn của người trí thức  miệt mài đi tìm chân lý nhưng muôn đời vẫn là những hư ảo rỗng không. Trong cái chân thành  soi rọi lại chính bản thân vẫn có ý hướng tin tưởng vào công việc mình làm  hiện tại và được sự giúp đỡ của những người tốt.

Đọc " Mảnh Trời Xanh Trên Thung Lũng ", cảm giác sau cùng vẫn là nỗi ngậm ngùi. Có những quyết định, đã làm thay đổi cả cuộc đời. Và cũng có, những người bình tâm nhìn lại quá khứ, để trong góc sâu thẳm nào đó của tâm linh thấy được những ánh sáng . Chiến tranh đã qua, bây giờ là lúc phải ngoái cổ nhìn lại lịch sử để trong tương lai, những kẻ broker đấu thầu chiến tranh hưởng lợi không thể nào tạo chiêu bài lợi dụng những tâm huyết của người yêu nước. Đến đoạn kết, tôi lại càng chia sẻ hơn với cái tâm viễn mơ của Tiêu Dao Bảo Cự, khi gặp một cô gái và cùng nắm tay phiêu du vào một thế giới nửa hư nửa thực  có  bóng dáng anh chàng công an ngăn trở. Kỳ lạ thay, cây súng và máy bộ đàm là vũ khí đàn áp của công an lại trở thành hoa súng 16 cánh nở rộ. Và người đẹp hoa súng đã trở về nguồn nước trong mặt ao để thành bóng gương soi lại  dáng hình  hai vợ chồng chàng thi sĩ. Giấc mơ hoa súng trổ bông ấy có phải là tâm nguyện của một người đang lao đao trong chế độ công an trị khắc nghiệt và tàn bạo? Tác giả muốn nói gì với chúng ta, bây giờ ?

Sách do nhà xuất bản Văn Mới ấn hành. Địa chỉ liên lạc: PO Box 287, Gardena Ca 90248. Điện thoại (310)3666867.

Nguồn:

http://www.tvvn.org/forum/entry.php/338-M%E1%BA%A3nh-tr%E1%BB%9Di-xanh-tr%C3%AAn-thung-l%C5%A9ng-Ti%C3%AAu-Dao-B%E1%BA%A3o-C%E1%BB%B1

 

http://phusaonline.free.fr/ButViet/NMTrinh/100_GTSM_ManhTroiXanh.._TDBC.htm

 

 


 

 

 

 

Cảm nhận Mảnh trời xanh – Trần Kiêm Đoàn (Hoa Kỳ)

 

Tạm quên đi những thể loại văn chương quy ước để gọi cuốn sách dày 730 trang này là “bút sự” vì đây là một tập hợp tuyển văn mang đậm nét tự sự. Nhưng đây cũng là một sự phối hợp đầy mầu sắc của ký sự, hồi ức, khảo luận, chính luận, triết luận, thơ,… qua những dòng tâm bút của tác giả. Đã viết ra những hoài niệm, suy tư và cảm xúc của mình thì có con chữ, dòng chữ, mớ chữ nào mà không là… tâm bút nhỉ? Đành vậy, nhưng khi tính hư cấu và lý luận mờ nhạt; nhường lại cho một nhịp độ cảm xúc, suy tư, trăn trở dồn dập, dâng trào và chiếm lĩnh gần hết dòng văn của tác giả thì chất “tâm bút” sẽ đậm đà hơn.

Đọc văn của Tiêu Dao Bảo Cự là đọc… Văn Tình. Một nguồn tình cảm lãng mạn, vỡ bờ; nhưng cũng rất đậm tình người và chân thật. Mấy năm trước đây, khi đọc tác phẩm đầu tay Nửa đời nhìn lại; và bây giờ đọc Mảnh trời xanh trên thung lũng của Tiêu Dao Bảo Cự, tôi như thấy được thấp thoáng bóng mình một thời trong đó. Thấy được mình là thấy được bạn bè, những người tuổi trẻ Việt Nam thuộc thế hệ Chiến tranh Việt Nam đã lớn lên bằng tuổi chiến tranh và bằng nỗi tự hào cùng khổ nhục của đất nước – hơn một nửa đã ra đi và còn một ít quanh đây – nên Bảo Cự tự nguyện làm trang sách mở rộng. Anh viết về những mảnh đời riêng của chính mình mà ngỡ như đang nói đến những vết thương xã hội, những ung nhọt còn đau nhức và những vết sẹo chưa lành qua những chặng đường thăng trầm của đất nước.


B
ảo Cự vẫn còn lại giữa lòng đất nước, bạn bè và chính anh; trong khi nhiều nhân vật đồng thời còn sống nguyên tại chỗ mà lại… đã ra đi!

 
Napa Valley, mùa Lá xay Rượu vàng 2008
© 2008 talawas

Nguồn: http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=14459&rb=0102

 


 

 

 

 

TRÍCH ĐOẠN TỪ CÁC BÀI CHÍNH LUẬN

 

 

 

Đọc thơ  Đông Trình

Thế hệ chúng tôi là một thế hệ đầy ưu tư và chất men lý tưởng. Ở tuổi hai mươi, đang ngồi trên ghế giảng đường đại học, vẫn học, vẫn yêu và lao vào những cuộc đấu tranh trên đường phố với tâm trí luôn bị ám ảnh bởi niềm đau của một đất nước đầy bất hạnh:

 

Ta đã ngồi chờ bao nhiêu năm

Nhìn cảnh binh đao ruột tím bầm

Sống giữa quê hương làm người đất trích

Tự gõ mà ca một khúc lưu vong

 (Đêm nghe pháo kích, dậy đọc cổ thi – thơ Đông Trình)

               

Hơi thở của lịch sử đã thấm đẫm vào máu thịt của chúng tôi từ khi nghe mẹ kể chuyện cổ tích, nói tục ngữ, hát ru ca dao và từ những trang viết vụng dại đầu đời học sử của tiền nhân:

Chúng tôi hòa mình trong niềm đau chung của tổ quốc, nỗi bất hạnh của cả một dân tộc anh hùng nhưng chịu nhiều tai ương. Chúng tôi không sao có thể bình yên để hưởng thụ cho riêng mình mặc dù chúng tôi có khả năng để hưởng thụ nếu mình nuốn, như một số người khác ở thế hệ chúng tôi đã làm:

Đất nước ta nhỏ bé, nghèo thật nhưng quyết không thể hèn hạ hay đi  ăn xin. Nói “Không có gì quý hơn độc lập tự do” mà luôn quỳ gối trước Nga, Tàu, đổi thù thành bạn, đổi bạn thành thù như chong chóng. Theo Liên Xô, chống xét lại rồi lại thân Liên Xô, rồi lại chống cải tổ. Tình hữu nghị “núi liền núi, sông liền sông”, “môi hở răng lạnh”, đổi ngay thành “kẻ thù truyền kiếp, trực tiếp và nguy hiểm”, rồi lại đổi tiếp thành “hữu nghị lâu đời”, rồi chưa biết sẽ đổi thành gì nữa. Đế quốc Mỹ là “kẻ thù trực tiếp, nguy hiểm và lâu dài” nhưng sau chiến thắng lại năn nỉ, khẩn cầu Mỹ bỏ cấm vận và thiết lập quan hệ bình thường. Mỹ bỏ cấm vận là đúng và cần thiết nhưng không phải vì thế mà chỉ biết van xin một cách hèn hạ.

…           

Hoàn cảnh đất nước ta cần hết sức đề cao sự nghiệp giữ nước, có chính sách ngoại giao khôn khéo và thông minh. Đó không phải là điều mới mẻ gì. Những người lãnh đạo đất nước ta hàng ngàn năm qua đã chứng minh và làm được điều đó, dù là dưới chế độ “phong kiến thối nát” như cách đánh giá của những người cộng sản.

 …         

Trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và giành quyền lãnh đạo, ban đầu những người cộng sản đã chiến thắng nhờ có nhân dân ủng hộ và sách lược đúng. Chiến thắng này không phải là một lần và mãi mãi. Thuận lòng dân thì còn, nghịch lòng dân thì mất. Lịch sử đã chứng minh chân lý ấy. Ngày xưa ông cha ta nói “Được làm vua, thua làm giặc.” Các triều đại phong kiến ngày xưa cũng tự cho mình là thiên tử, thay trời để trị dân, cho ai chống lại mình là nghịch mệnh trời, tự tung hô mình vạn tuế nhưng mấy triều đại quá được trăm năm? Những người cộng sản phê phán phong kiến sao vẫn tự mình hô muôn năm và đòi mãi mãi độc quyền lãnh đạo? Hãy tự xem mình còn đủ năng lực và tín mhiệm để lãnh đạo không chứ đừng tự huyễn hoặc mình và dùng bạo lực đè đầu cỡi cổ nhân dân, buộc nhân dân phải phục tùng độc quyền lãnh đạo.

Phải chăng chính tình tự dân tộc và những khát vọng có tính lâu dài, phổ quát mới là những giá trị vĩnh cửu và đẹp đẽ, trong sáng nhất mà mỗi người có thể cảm nhận thuở mới vào đời. Còn chủ nghĩa, tất cả các chủ nghĩa chỉ là phương tiện để đạt tới cứu cánh. Các chủ nghĩa có thể sai lầm và phải được kiểm nghiệm trong thực tiễn. Thực tại biến chuyển không ngừng và không chủ nghĩa nào có thể có giá trị vĩnh cửu. Lịch sử nhân lọai không phải đã chứng minh điều đó quá rõ hay sao? Thế tại sao chúng ta, kể cả các nhà chính trị, các nhà trí thức, các nhà văn, lại có thể tin tưởng vào một chủ nghĩa, một giáo điều, tự mình huyễn hoặc làm nhận thức sai lạc đi đến trở thành cuồng tín?

 …           

Văn nghệ không phi chính trị nhưng văn nghệ không thể phục vụ mù quáng, làm công cụ tuyên truyền cho một chủ nghĩa. Văn nghệ, về một phương diện, phải là tiếng nói của lương tri. Lương tri phải nhận biết đúng sai, phải biết phản kháng, phải nói lên sự thật. Nếu văn nghệ có sứ mệnh thì sứ mệnh của văn nghệ phải chăng là đi theo con đường của tự do và chân lý, mang lại cái đẹp, cái thiện cho cuộc sống của con người. Chính trên con đường thênh thang này, văn nghệ mói có thể thể hiện tài năng của người nghệ sĩ.

Trước Cách Mạng Tháng Tám, một thế hệ nghệ sĩ đầy tài năng đã xuất hiện, tác phẩm của họ thời đó đã làm rung động tâm hồn, chiếm lĩnh tình cảm của cả dân tộc qua mấy thế hệ, cho đến tận ngày hôm nay. Thơ Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính … Văn của Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng, Nam Cao, Nguyễn Tuân, Nguyễn Công Hoan, nhóm Tự Lực Văn Đòan … Nhạc Phạm Duy, Văn Cao, Lê Thương, Cung Tiến, Đặng Thế Phong …

            

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, khi người nghệ sĩ với lòng tự nguyện, dấn thân cho sự nghiệp độc lập dân tộc, với hào khí vinh quang của người chiến sĩ ra trận, các tác phẩm của họ cũng đã đi vào cuộc sống, trở thành tiếng hát chính trái tim mỗi người. Nhưng khi người nghệ sĩ đã “giác ngộ”, tôn thờ một chủ nghĩa, phục vụ cho một chế độ chính trị, tác phẩm của họ chỉ còn là những bài tuyên truyền gượng gạo, lố bịch, những bản tụng ca một chiều. Nếu người nghệ sĩ thực sự đầy tài năng thì tài hoa của họ cũng chỉ phết được lớp sơn màu mè lên một nội dung thô nhám.

…

Người nghệ sĩ tự hủy hoại chính mình và tác phẩm của mình khi phục vụ cho một chủ nghĩa, một chế độ chính trị hay chủ nghĩa và chế độ chính trị đã làm  thui chột tài năng, hay cả hai điều này cộng lại đã tạo nên sự tàn phá khủng khiếp cho văn học nghệ thuật trong  những thời kỳ lịch sử?

…

Ở đây, tôi cũng muốn nói đôi lời về khía cạnh tổ chức đào tạo, giáo dục của một chế độ đối với hoạt động văn học. Chế độ xã hội chủ nghĩa có các tổ chức đào tạo, bồi dưỡng những ngưởi viết văn, có trường đại học viết văn, trả lương cho những người viết văn chuyên nghiệp nhưng đã sản sinh ra bao nhiêu nhà văn, trong đó có bao nhiêu nhà văn lớn? Ý thức phục vụ chính trị và tính chất rập khuôn đã làm hạn chế tài năng  và tinh thần tự do sáng tạo của nhà văn như thế nào? lại còn các tổ chức văn học nghệ thuật mang tính chất nhà nước . Những hội gọi là sáng tạo mà cũng phải gò vào một tổ chức bất kể quan điểm, xu hướng, phong cách sáng tác. Trong những tổ chức này người ta lại điều hành theo kiểu hành chính, quan liêu, lôi bè kéo phái, tranh giành  quyền lực, chia chác quyền lợi, đấu đá lẫn nhau, không còn gì gọi là văn học nghệ thuật nữa. Những người lãnh đạo văn nghệ có khi lại không có khả năng sáng tác văn nghệ hoặc khi đã trở thành lãnh đạo, những người làm quan lại không còn khả năng sáng tác.

Văn nghệ sĩ chân chính cần quái gì các tổ chức này. Cùng xu hướng, tâm đắc với nhau thì tự động tập hợp lại thành nhóm, thành hội hoặc cứ một mình mà đi trong thênh thang trời rộng, giữa dân tộc và loài người, cần chi phải chui đầu vào tổ chức.

Có người nói môn văn là môn học làm người và ai cũng thừa nhận, nói chung, ngành giáo dục là nơi đào tạo con người, đào tạo những người chủ tương lai của đất nước. Đào tạo con người ngoài kiến thức, chuyên môn, kỹ thuật, còn có đạo lý, nhân cách, bản  lãnh. Thế nhưng một điều lạ lùng là trong các chế độ không phải là xã hội chủ nghĩa, mà là "thực dân phong kiến", "ngụy quyền tay sai", sinh viên học sinh lại đầy lòng phản kháng, nhận thức rất rõ và dám đứng lên đấu tranh cho độc lập tự do của tổ quốc, cho công bằng xã hội (trong đó có nhiều người sau này là lãnh tụ cộng sản), nhưng sinh viên học sinh trong chế độ xã hội chủ nghĩa ưu việt ở Miền Bắc trước 1975 và cả nước sau 1975 lại hầu như tê liệt lòng phản kháng, chỉ biết phục tùng và sa vào chủ nghĩa thực dụng. Nếu giải thích điều này bởi chủ nghĩa xã hội ưu việt thực,  không có bất công áp bức và có đầy đủ mọi quyền tự do dân chủ nên không ai muốn kêu đòi gì nữa, nói như thế chắc chẳng ai tin. Vậy phải chăng chỉ có thễ giải thích đây chính là sự ưu việt của chủ nghĩa xã hội trong việc đàn áp, thống trị tư tưởng và hành động của con người?

…

Nội dung, đề tài của văn nghệ là vô tận. Văn nghệ ca ngợi tình yêu, thiên nhiên, tuổi thơ, đắm mình trong huyền thoại, ước mơ về một tương lai viễn tưởng… Không thể cưỡng bức văn nghệ phải chuyên chở nội dung này, khai thác đề tài kia như các chế độ độc tài, nhất là độc tài cộng sản đã làm. Văn nghệ không phi chính trị nhưng  không phục vụ chính trị một cách mù quáng. Văn nghệ không cần mang tính đảng  mà phải phi đảng. Văn nghệ không tôn thờ chủ nghĩa.Văn nghệ phụng sự cho dân tộc và con người. Văn nghệ không biên cương quốc gia, biên cương thời gian và biên cương chủ nghĩa. Nhưng nếu văn nghệ  vì con người thì không thể né tránh thân phận con người, nhất là khi thân phận hàng triệu người bị quy định, chi phối  bởi các chế độ độc tài tàn bạo. Văn nghệ lúc đó phải biết và dám nói tiếng nói của lương tri. Đó là văn nghệ dấn thân và phản kháng.

Văn nghệ phải đến  được với công chúng, đối tượng, mục đích, môi trường và đất sống của mình. Các chế độ độc tài luôn ngăn chặn văn nghệ tự do, chỉ  muốn lùa văn nghệ vào các chuồng nuôi thú làm cảnh. Văn nghệ phải biết  cách chiến đấu. Từ xa xưa, ông cha ta đã biết điều này. Đó là truyện  tiếu lâm, câu đối, ca dao, hò vè, thơ ca châm biếm, sau này còn có cách viết "lách" trên sách báo  hợp pháp, xuất bản sách báo bất hợp pháp, tổ chức "hát cho đồng bào tôi nghe"… Văn nghệ phải ươm mầm phản kháng, thức tỉnh lương tri, kêu gọi đấu tranh, đánh thẳng vào mặt cường quyền, đóng đinh tội ác vào giá của lịch sử.

…           

 Chính trị bao giờ cũng cần thiết cho một dân tộc, một xã hội và toàn thế giới. Đường lối chính trị có thể đúng hoặc sai. Người làm chính trị có thể tốt hoặc xấu. Làm chính trị phải nắm được quyền lực. Quyền lực là sức mạnh vạn năng và là con dao hai lưỡi. Quyền lực xây dựng và cũng  quyền lực hủy hoại con người, hủy hoại ngay chính người làm chính trị. Cám dỗ quyền lực rất lớn và nguy hiểm.

…            

Dù sao người làm chính trị cũng có lương tri. Tiếng nói của lương tri và sức mạnh của quần chúng nhân dân sẽ ngăn chặn được sai lầm và tội ác. Mục đích chính trị có tốt đẹp tới  đâu nhưng phương tiện, con đường đi là độc tài, chà đạp nhân quyền, vi phạm tự do, khủng bố bằng bạo lực, gây ra nội chiến, trả gía bằng máu và nước mắt đều không thể tự biện minh, không đạt đến mục đích.

…          

Văn nghệ và chính trị đều phải biết sám hối. Tốt hơn là đừng để phải sám hối nhưng đã lỡ sai lầm thì phải sám hối trước khi quá muộn.

 

Hòa giải hòa hợp và giao lưu văn học

Mặc dù dân tộc Việt Nam có một lịch sử rất lâu dài với bao nhiêu bài học quý giá nhưng có lẽ mỗi người, mỗi thế hệ chỉ có thể nhận ra được điều gì thật sâu sắc khi chính mình có một độ lùi lịch sử của chính thời đại mình. Trong những cuộc chiến gần đây của đất nước, dù ai dùng ngôn từ nào, với bất cứ lập luận nào, đứng trên bất cứ lập trường nào, những cuộc chiến đó đều mang tính nội chiến, vì người Việt đã nổ súng vào nhau trên chiến trường, đã hận thù nhau trong tim óc. Đó là một giai đoạn lịch sử phân ly và bi thảm.

Những người quốc gia đã kêu gọi cộng sản "chiêu hồi, trở về với chính nghĩa quốc gia". Những người cộng sản đã hô hào những người quốc gia "bỏ hàng ngũ địch, trở về với nhân dân". Chưa kể những người quốc gia với nhau, cộng sản với nhau, cũng đã từng đấu tranh, hận thù, truy bức, hủy diệt nhau.

 Dấu mốc 30/4/75 dù quan niệm đó là "ngày chiến thắng, giải phóng hoàn toàn Miền Nam Việt Nam, thống nhất tổ quốc" hay "ngày quốc hận" thì đó cũng là một việc đã có , đã rồi và là một dấu mốc, một cơ hội lớn của dân tộc. Sau ngày đó, người cộng sản đã tuyên truyền một cách đại lượng: "Trong cuộc chiến này, người Việt Nam không có kẻ thắng người bại, chỉ có dân tộc Việt Nam chiến thắng". Dĩ nhiên câu nói đó những người quốc gia khó lòng chấp nhận. Nhưng nếu câu nói đó được thực hiện đúng tinh thần của nó , nghĩa là không có tước đoạt, truy bức, cải tạo… mà thực hiện ngay hòa giải hòa hợp dân tộc, rõ ràng dân tộc Việt Nam đã chiến thắng và đất nước đã đi lên mạnh mẽ trong 18 năm qua chứ không phải vẫn còn là một trong những nước nghèo đói nhất thế giới. Câu nói đó không được thực hiện, dân tộc Việt Nam chỉ là kẻ chiến bại và chỉ có nhân dân Việt Nam là đau khổ.

Hòa giải  hòa hợp dân tộc chỉ  có thể được thực hiện  khi đó  là niềm thôi thúc, là sự nghiệp của cả dân tộc chứ không phải chỉ là vấn đề của một số cá nhân. Nếu nhiều người cộng sản còn nghĩ rằng: Ta đang nắm quyền lực (và quyền lợi), tội gì phải hòa giải hòa hợp với ai, lơ mơ sẽ bị lật đổ. Nếu nhiều người quốc gia ở nước ngoài còn nghĩ: Ta đang giàu có, sống  thoải mái, đâu có thể hạ mình xin nói chuyện hay về nước để lọt vào vòng kềm tỏa của bọn cộng sản độc tài. Nếu nhiều người khác còn nghĩ: Ta chỉ cần yên ổn làm ăn sinh sống, dại gì dính vào những chuyện chính trị… Nếu đa số người Viêt Nam còn nghĩ như thế, rõ ràng khó có hòa giải hòa hợp dân tộc.

Nhưng nếu  đối với nhiều người, đất nước nghèo đói là niềm đau, nỗi  nhục của mọi người Việt Nam; sự phân ly, hận thù là vết thương, căn bệnh  nặng nề của cả dân tộc; thiếu dân chủ tự do  là sự phản tiến hóa, bầu khí ngột ngạt nhiễm độc của toàn xã hội… Đó vẫn  còn là cơ may cho hòa giải hòa hợp dân tộc.

Thực ra chưa có quyền lực chính trị, quyền lực thế gian nào là vĩnh viễn, bất khả chiến bại. Ý chí của một người phát huy đến mức  cao nhất cũng rất mãnh liệt và tác động đến toàn xã hội, đè nặng  lên số phận hàng triệu người. Lịch sử thế giới đã chứng minh điều đó. Dĩ nhiên, một mình họ không đủ, sau lưng họ còn là cả một tập đoàn. Nhưng một tập đoàn không thể mạnh hơn một  dân tộc, mạnh hơn cả nhân loại. Vậy thì tại sao đa số người cùng chung một nguyện vọng, một ý chí lại sợ hãi, bất lực trước một tập đoàn.

 Những người cầm quyền thường lộng hành và chế ngự nhân dân bằng cách dùng bạo lực gây ra nỗi sợ. Muốn chống lại cái ác, mỗi người bằng cách nào đó của mình, phải "vượt" qua nỗi sợ để làm một cái gì đó. Ý chí của đám đông lương thiện, nếu được thể hiện và tập hợp lại, dù dưới  hình thức bất bạo động, nhất định sẽ gây sức ép, chuyển hóa và buộc  thiểu số phải chấp nhận hòa giải hòa hợp, dù thiểu số đang nắm quyền lực, được tổ chức và trang bị bằng bất cứ vũ khí nào. Đó là hòa giải hòa hợp đi đôi với việc  chống lại cái ác bằng những  phương tiện hòa bình,

…

Thực ra chưa có quyền lực chính trị, quyền lực thế gian nào là vĩnh viễn, bất khả chiến bại. Ý chí của một người phát huy đến mức  cao nhất cũng rất mãnh liệt và tác động đến toàn xã hội, đè nặng  lên số phận hàng triệu người. Lịch sử thế giới đã chứng minh điều đó. Dĩ nhiên, một mình họ không đủ, sau lưng họ còn là cả một tập đoàn. Nhưng một tập đoàn không thể mạnh hơn một  dân tộc, mạnh hơn cả nhân loại. Vậy thì tại sao đa số người cùng chung một nguyện vọng, một ý chí lại sợ hãi, bất lực trước một tập đoàn.                

Những người cầm quyền thường lộng hành và chế ngự nhân dân bằng cách dùng bạo lực gây ra nỗi sợ. Muốn chống lại cái ác, mỗi người bằng cách nào đó của mình, phải "vượt" qua nỗi sợ để làm một cái gì đó. Ý chí của đám đông lương thiện, nếu được thể hiện và tập hợp lại, dù dưới  hình thức bất bạo động, nhất định sẽ gây sức ép, chuyển hóa và buộc  thiểu số phải chấp nhận hòa giải hòa hợp, dù thiểu số đang nắm quyền lực, được tổ chức và trang bị bằng bất cứ vũ khí nào. Đó là hòa giải hòa hợp đi đôi với việc  chống lại cái ác bằng những  phương tiện hòa bình,

…                                                                                              

Tôi vẫn nhớ những giọt lệ chảy dài trên má mình lúc còn bé đọc "Tâm hồn cao thượng" của E.D. Amicis và cả về sau mỗi khi đọc lại. Tôi vẫn không sao quên được cảm giác đau đớn lạ lùng khi ở trong tù thời sinh viên đọc "Giờ thứ 25" của C.V Gheorghiu mà tác phẩm chảy dạt dào trong tôi như  một cơn nước lũ. Bây giờ và chắc cả về sau này nữa, tôi vẫn ứa nuớc mắt khi đọc một trang sách, xem một cảnh phim cảm động, không sao cầm giữ và cũng không muốn cầm giữ. Điều gì đó của phận người đã rung lên trong tôi như một sợi tơ đàn tạo nên hòa điệu. Đằng sau những giọt nước mắt là cái gì sâu xa hơn giúp tôi đi suốt cuộc làm người một cách mạnh mẽ, tốt đẹp và hạnh phúc hơn.

Tôi hiểu như thế nên khi viết về một tác phẩm, tôi ước ao và mong chờ một điều gì đó tương tự nơi người đọc tác phẩm của mình, những người đọc "có tâm hồn" và tự do đối với bất cứ tù ngục tinh thần và cụ thể nào.          

Tôi tin tưởng giao lưu văn học sẽ tạo nên sự đồng cảm và nối kết có  vẻ mong manh nhưng lại hết sức bền vững và có khả năng công phá, bền vững hơn và có thể công phá được cả những bức tường sắt thép, kẽm gai hay những rào cản của hận thù và ý thức hệ.

 

Thư ngỏ gởi những người cộng sản Việt Nam

 

Ðể nắm được quyền lãnh đạo đất nước, trong suốt lịch sử hơn 60 năm của mình, Ðảng Cộng sản đã chịu đựng biết bao gian khổ, hy sinh không ít máu xương và đã chứng tỏ tài vận động, tổ chức, lãnh đạo đấu tranh của mình. Ðiều đó, dù kẻ thù cũng phải nhìn nhận.

Khi đã trở thành đảng cầm quyền, đảng tự hô và bắt toàn dân phải hô "Ðảng Cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm" và coi đất nước như của riêng mình. Ðiều này không khác gì các triều đại phong kiến ngày xưa. Triều  đại nào lên làm vua cũng tự tung hô "vạn tuế". Nếu các triều đại đó đạt được như thế thì làm gì đến lượt người cộng sản.

Trong giai đoạn lịch sử vừa qua, trong nhân dân, và ngay trong đảng, không phải chỉ Hồ Chí Minh là người duy nhất biết suy nghĩ và sáng tạo. Thế nhưng tất cả mọi việc đều quy về Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh là người sáng lập ra đảng, sáng lập ra nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, sáng lập ra các lực lượng vũ trang, Mặt trận và các đoàn thể công nông thanh phụ, thiếu niên nhi đồng, các ngành văn hóa nghệ thuật, báo chí và cả các ngành chuyên môn khác nữa. Hồ Chí Minh gởi thư cho ngành nào, giới nào, đến thăm địa phương, cơ sở nào cũng thành những sự kiện trọng đại, những ngày lịch sử. Có nơi còn dựng bia kỷ niệm Hồ Chí Minh đi tắm biển. Mới hơn 50 tuổi, Hồ Chí Minh đã trở thành "vị cha già của dân tộc".

Chao ôi, như thế nếu không có Hồ Chí Minh thì sẽ không có dân tộc Việt Nam, không có cách mạng Việt Nam hay sao? Toàn đảng, toàn dân tộc không ai làm được một việc gì nếu không có Hồ Chí Minh hay sao?

Ðó chính là tệ sùng bái cá nhân và cái tệ này đã gây ra biết bao tai họa trong lịch sử nhân loại đông tây kim cổ.

Hơn nữa, xu thế của người cầm quyền ở bất cứ nơi đâu cũng là lạm quyền. Càng độc quyền càng dễ lạm quyền vì người cầm quyền tự cho mình là đúng đắn và có thể làm tất cả khi có quyền lực.

Nói đa nguyên chính trị và đa đảng đưa đến rối loạn là không đúng. Biết bao quốc gia thực hiện đa nguyên chính trị và đa đảng nhưng không rối loạn và quyền dân chủ lại càng được phát huy. Sự cạnh tranh chính đáng bao giờ cũng lành mạnh và nhân dân có quyền lựa chọn người cầm quyền có năng lực và thực sự đại diện cho mình.

Tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do lập hội là khởi đầu của đa nguyên chính trị, đa đảng. Ít ra bước đầu đảng phải chấp nhận tiếng nói đối lập. Ðối lập không đồng nghĩa với đối kháng. Ðối lập với đảng không có nghĩa là đối lập với nhân dân vì đảng không thể đồng hóa với nhân dân.

Ðảng sợ đối lập, sợ đa nguyên chính trị, đa đảng vì đảng không đủ tự tin vào uy tín và bản lĩnh của mình khi đứng trước sự cạnh tranh tự do và bình đẳng với các thế lực chính trị khác trước nhân dân.

Ðảng quy mọi hoạt động đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền đều là "diễn biến hòa bình". Chỉ trên phương diện ngôn từ, khái niệm "chống diễn biến hòa bình" đã cực kỳ phi lý. Diễn biến hòa bình là vận động, thuyết phục, tạo ra những chuyển biến bằng phương tiện hòa bình, tại sao lại chống. "Diễn biến hòa bình" nhất định phải tốt hơn "diễn biến chiến tranh". Diễn biến hòa bình là cuộc đấu tranh cần thiết giữa con người với con người, giữa các thế lực chính trị để thủ thiêu cái ác, giành phần thắng cho điều thiện bằng những phương tiện hòa bình.

Ðảng có thói quen nhìn những ai khác mình là phản động, kẻ thù. Thực tế cuộc sống vô cùng đa dạng và phong phú, làm sao bắt mọi người đều phải nghĩ như mình. Ðất nước là của nhân dân, sao đảng lại cứ độc quyền yêu nước.

Xét cho cùng, nói thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, chống đa nguyên chính trị và diễn biến hòa bình thực chất là cốt duy trì sự thống trị của đảng. Ðó là lợi ích của đảng chứ không phải lợi ích của nhân dân nhưng vẫn nhân danh nhân dân để củng cố quyền lực của mình.

 

 Hà Sĩ Phu, biểu tượng của trí tuệ và tự do tư tưởng

Những người Cộng Sản tự cho đã được lịch sử giao phó sứ mệnh lãnh đạo cách mạng, lãnh đạo đất nước. Thực ra, những người Cộng Sản đã giành được quyền đó trong một gian đoạn lịch sử và đã có những đóng góp nhất định cho đất nước (dù cũng có người không thừa nhận sự đóng góp này). Tuy nhiên, việc nắm quyền lãnh đạo đó, không phải một lần là mãi mãi. Những người lãnh đạo phải ngang tầm với đất nước và được sự chấp nhận của đa số nhân dân. Nếu không thế, sớm hay muộn, nhất định những người lãnh đạo không xứng đáng sẽ bị loại bỏ. Lịch sử rất công bình và nghiêm khắc. Bao nhiêu triều đại, chế độ đã hưng phế theo thời gian. Làm sao những người Cộng Sản có thể cứ tự mãi hô muôn năm?            

Liên Xô là cái nôi của chế độ Cộng Sản, là nước đứng đầu hùng mạnh của hệ thống Xã Hội Chủ Nghĩa toàn thế giới, sau 75 năm đã sụp đổ tan tành. Trên đất nước Xô Viết đa số nhân dân đã không còn chấp nhận chế độ Cộng Sản, tại sao những người Cộng Sản Việt Nam vẫn "bảo hoàng hơn vua", vẫn còn cố nêu lên định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa khi chưa rõ hình thù nó như thế nào? Tại sao như Hà Sĩ Phu nói, những người Cộng Sản qua sông rồi, vẫn còn vác thuyền trên vai mà đi, không chịu can đảm tuyên bố chia tay ý thức hệ, một ý thế hệ ngoại lai có một số đóng góp cho đất nước trong một giai đoạn, nhưng cũng đã tàn phá đất nước đến tận cùng?            

Những người Cộng Sản Việt Nam muốn độc quyền chân lý, độc quyền yêu nước nhưng điều đó không thể được. Bộ máy thông tin tuyên truyền báo chí hùng hậu của cả chế độ không trấn áp nổi mấy bài viết hơn 100 trang của Hà Sĩ Phu nên phải dùng tới bạo lực nhà tù. Trấn áp không phải lúc nào cũng chỉ đưa tới sợ hãi mà còn tạo ra sự căm phẫn và phản kháng. Cai trị bằng sự sợ hãi không phải là một phương cách lâu bền. Tất cả mọi chế độ độc tài trên thế giới này đều đã thử nghiệm và cuối cùng đã thất bại. Những người Cộng Sản, trong một giai đoạn, từng đấu tranh cho độc lập dân tộc và công bằng xã hội tất phải thấu hiểu hơn ai cả về điều này.     

Dù đất nước Việt Nam vẫn còn nghèo nàn lạc hậu, dù đang thời kinh tế thị trường, con người nhất định không phải chỉ là con vật kinh tế. Dù Đông hay Tây, dù với đặc thù nào, một quốc gia nói tôn trọng Nhân Quyền mà không tôn trọng tự do tư tưởng và các quyền dân chủ của nhân dân thì thực chất chỉ coi con người như con vật, nói gì đến việc xây dựng chiến lược con người.   

       

Hà Sĩ Phu và cuộc hành trình gian nan của dân tộc


Trong chế
độ cộng sản, ngày xưa, phản động là một từ, một cái mũ thật khủng khiếp đối với những ai bị gán cho. Tuy nhiên, ngày nay, không phải chỉ có nhà cầm quyền kết án người dân là phản động, mà người dân cũng có thể kết án nhà cầm quyền là phản động, đi ngược lại quyền lợi của nhân dân, của đất nước, đi ngược lại trào lưu tiến hóa của lịch sử. Đó mới thật là phản động!

Đâu là bản chất của sự vận động lịch sử hiện nay? Chúng ta nên bi quan hay lạc quan? Tôi nghĩ trong cuộc hành trình gian nan về tương lai của dân tộc, không một ai có thể hoàn toàn quyết định bước đi của lịch sử. Tình hình tùy thuộc nhiều yếu tố nội tại và ngoại tại. Nhiều cuộc vận động tự thân của các thành phần dân tộc, nhiều cuộc đấu tranh giằng co giữa các thế lực hiện đã lên đến cao điểm, và cuối cùng nhân dân sẽ biết nên đi con đường nào.

Cuộc hành trình lắm gian nan nhưng không phải như chiếc xe lửa trên đường ray cố định, mà trái lại, có tìm kiếm, lựa chọn không ngừng. Trong cuộc hành trình đó, có những người tiên phong. Những người tiên phong, tuy chịu nhiều hy sinh, nhưng không bao giờ cô độc, không bao giờ vô ích. Hà Sĩ Phu là một trong những người đó. Mong rằng khi ra tù, Hà Sĩ Phu vẫn lại có mặt ở vị trí hàng đầu và tìm được những lý giải sáng suốt cho những vấn nạn đang đặt ra.                   

Tự sự cuối năm.

 

Nhưng tiếng gọi tự do và lòng phản kháng chính trực  cứ vang động, thôi thúc trong lòng tôi. Tự bao giờ những điều này đã thấm vào máu xương và hơi thở. Làm sao tôi và người khác có thể sống mà không được quyền nghĩ, nói theo ý mình. Làm sao những người làm việc cật lực, đổ mồ hôi sôi nước mắt vẫn sống nghèo khổ trong khi những kẻ lười biếng chỉ múa môi mép lại sống xa hoa phè phỡn. Làm sao nhiều kẻ bất tài tham lam độc đoán lại muốn độc quyền cai trị đất nước, chi phối cả thế giới trong khi nhiều người trí tuệ, tài năng lại chỉ biết phải vâng lời, khuất phục. Làm sao những ý thức hệ, chủ nghĩa và cả lòng tham, sự ngu dốt và phi nhân, độc ác vẫn cứ thống trị toàn xã hội... Những điều này có thể xẩy ra với bất cứ chế độ chính trị, bất cứ người lãnh đạo nào nếu xã hội không có một cơ chế hãm cần thiết và thích hợp. Do đó, hơn ai hết, những người lãnh đạo cần được phê phán và phải lắng nghe phê phán hơn ai hết.

             

 Vì thế, tôi thấy cần phải làm một cái gì đó khác hơn tu, sáng tác hay trồng cây. Điều nhỏ bé đầu tiên có thể làm là viết và nói thẳng, nói thật. Nhưng trong hoàn cảnh Việt Nam hiện nay, chỉ chừng đó thôi cũng không phải dễ dàng.

…

Tôi cần bình yên nhưng có thứ bình yên lại là bình yên trong phản bội. Tự do là tự do trong nô lệ. Sống làm người lại là sống như con vật - kinh tế.                

Suy nghĩ cho cùng, vượt qua sự yếu đuối của bản thân, sự sợ hãi trước bạo lực, tôi chỉ có một lựa chọn: Sống như một con người tự do, tôi sẽ có bình yên đích thực dù cho phải trả một giá nào.

Tôi tin vào luật nhân quả. Tôi làm điều tốt hay xấu sẽ có hậu quả tương xứng. Và cả đảng Cộng sản, dân tộc này, nhân loại này cũng không thoát khỏi luật nhân quả. Tôi không có gì phải lo lắng.               

Thông cảm, bao dung và chiến đấu với điều ác, nhất định sẽ mang lại một cái gì tốt đẹp hơn cho con người và xã hội. Những chế độ chính trị rồi sẽ thay đổi, qua đi nhưng con người vẫn còn tồn tại. Chỉ có tình thương mới mang lại cho đất nước, trần gian này cuộc sống hạnh phúc dù phải trải qua nhiều thiên niên kỷ.

 

Khoan thai mùa xuân  và hối hả đi về thế kỷ 21

 

            Thiên nhiên lặng lẽ và từ  tốn chuyển mình theo quy luật tự nhiên của muôn đời. Những cây khô đã trút hết lá trong mùa đông chậm rãi đâm chồi, từng chiếc một. Những chiếc lá xanh non đầu tiên xuất hiện, lác đác trên cành khô. Từng ngày, từng ngày nhựa sống âm thầm chuyển dịch. Và một lúc nào đó, ta ngạc nhiên thấy dáng cây in sẫm màu lên trời xanh, tỏa bóng mát dịu dàng giữa trưa nắng nồng. Cùng với bóng lá, hương mùa xuân của vô vàn bông hoa hữu danh và vô danh thoảng đưa trong gió, gửi tín hiệu đến những chàng bướm đa tình, những chú ong cần mẫn bay lượn. Rồi những trái non tơ bé xíu tượng hình, tiếp nối mầm sống cho các thế hệ mai sau. Và những con chim én nữa. Từ đâu những cánh chim bé nhỏ phiêu lãng này hội tụ về đây chao liệng  trên vùng  trời đầy nắng  gió báo hiệu một mùa xuân.

           

Cứ thế, thiên nhiên khoan thai chuyển mình trên đôi cánh thời gian đi về vĩnh cửu. Nhưng con người đã mất thói quen chậm rãi. Hối hả. Vội vàng. Tăng tốc. Để kịp bước chân vào thế kỷ 21.

 

Mỗi người và đất nước này có lý do chính đáng để chạy đua với thời gian. Cần phải nhanh hơn và nhanh hơn nữa. Điều đó cần thiết. Cần nhưng chưa  đủ. Vì cuộc sống đích thực lại cần phải có những dấu lặng, những chỗ dừng, những lúc chờ đợi, những phút lắng lòng, những  thời khắc yên nghỉ, những trầm tư sâu sắc, những câu hỏi phản tỉnh.

 

Con người có thể lên mặt trăng, sao kim, sao hỏa nhưng nội chiến và hận thù, khủng bố diễn ra khắp mọi nơi. Các nước phát triển đã giàu có vẫn không ngừng toàn cầu hóa chiến lược kinh tế của mình trong khi hàng triệu trẻ em Châu Phi chết đói. Đã có nhiều cố gắng hoạt động cho dân quyền và nhân quyền nhưng lợi nhuận vẫn mạnh hơn tình  nhân đạo, lòng tham vẫn lớn hơn từ tâm, độc ác phi nhân vẫn lấn át chính nghĩa.

              

 Phải chăng con người cần sống vội vàng  nhưng cũng  phải biết dừng lại để tự hỏi ta là ai, đang làm gì, sẽ đi về đâu. Những câu hỏi muôn đời nhưng con người vẫn hay quên vì đã đánh mất mình trong dòng cuốn của cuộc sống.

 

Những nước phát triển vì muốn có quan hệ làm ăn kinh tế có lợi cho mình, đã gác qua một bên các vấn đề nhân quyền khi bàn bạc hợp tác với các nước theo chế độ độc tài, có xứng đáng là những quốc gia văn minh luôn đề cao tự do dân chủ cho con người hay không?

               

 Lên án bạo lực nhưng lại ngầm bán vũ khí cho bọn khủng bố, cho các  đội quân khát máu hủy diệt chính đồng bào, đồng loại mình. Phát triển đất nước mình bằng cách xâm lăng đất nước láng giềng. Bảo vệ tự do và quyền sống của dân tộc nhưng lại khủng bố, tàn sát người vô tội của dân tộc khác. "Độc quyền lãnh đạo sáng suốt" bằng cách hủy diệt trí tuệ và làm thui chột tiềm năng của dân tộc. Chống độc tài áp bức bằng cách kêu gọi hận thù, đòi máu trả máu…

               

Tất cả những điều này sẽ mang lại gì cho từng đất nước và cả loài người?

 

Không phải vô căn cứ và mê tín dị đoan khi có những nhà tiên tri tiên đoán đầu thế kỷ 21 sẽ là thời điểm diễn ra thảm họa trên nhiều quốc gia, thậm chí là một sự hủy diệt lớn lao gần như tận thế. Thiên tai kinh hoàng trên khắp các lục địa vừa qua và máu đổ, người chết, hận thù, xung đột diễn ra khắp nơi không phải là dấu hiệu cho bi kịch lớn sẽ xảy ra cho con người đó sao? Không phải Thượng đế hủy diệt mà chính con người hủy hoại môi truờng và hủy diệt chính mình.

              

Con người có thể xác, tinh thần và tâm linh. Đất nước có núi sông, môi trường sinh thái và lịch sử, truyền thống. Xã hội có kinh tế và quan hệ nhân bản giữa con người và con người. Những người lãnh đạo phải có tài năng, trí tuệ và đạo đức. Con người chỉ có thễ tự cứu, sống còn và hạnh phúc khi có được sự hòa hợp, cân bằng giữa các yếu tố như thiên nhiên đã làm nở một nụ hoa vàng trong nắng gió mùa xuân.

              

 Con người có trí tuệ nên thông minh hơn và cũng tàn bạo hơn con vật. Lý thuyết "mục đích biện minh cho phưong tiện" là phát kiến đốn mạt và độc ác nhất trong lịch sử tư tưởng và chính trị của loài người. Phát triển kinh tế rất cần thiết và là điều kiện thuận lợi cho công bằng xã hội, tự do dân chủ nhưng không thể quan trọng  hơn công bằng xã hội và tự do dân chủ trong thế giới văn minh này, không chỉ trong phạm vi quốc gia mà toàn thể nhân loại. Kinh tế thị trường và toàn cầu hóa kinh tế nhưng không có  nền tảng nhân bản chỉ là sự bóc lột của người giàu và quyền thế đối với người nghèo, sự xâm lược của các quốc gia phát triển và các công ty siêu quốc gia đối với các đất nước kém phát triển.

             

Thế kỷ 21 là niềm hy vọng gần kề và loài người đang hối hả dấn bước. Nhưng nếu thiếu tình thương, sự huy hoàng của nền văn minh đã mang sẵn mầm hủy diệt.

 

Tiếng vọng lẻ loi và tự do báo chí.

 

Cũng như nhiều người khác, quan điểm của tôi thật rõ ràng:  Ủng hộ dân chủ, không tán thành độc quyền lãnh đạo nhưng không chủ trương bạo động, lật đổ, gây hận thù, đổ máu mà thúc đẩy quá trình dân chủ hóa đất nước bằng những phương tiện hòa bình, chủ yếu là thông qua việc bày tỏ trung thực và thẳng thắn quan điểm của mình, thực hiện quyền tự do tư tưởng, ngôn luận và báo chí.

 

Trong ý hướng đó, tôi không coi vấn đề nào là cấm kỵ, không cần lựa lời nói cho dễ lọt tai, vừa lòng lãnh đạo. Cũng như nhiều người khác, tôi không phủ nhận và ít viết về những thành tựu mà tập trung phân tích, phê phán những thiếu sót hay sai lầm. Điều đó dễ hiểu. Đã có gần 500 đài, báo của trung ương và các địa phương do đảng và nhà nước lãnh đạo thông tin về đường lối chính sách và ca ngợi thành tích rồi, chúng tôi không cần thiết phải làm việc đó.

 

Tôi cho rằng đảng và nhà nước không thể đứng trên nhân dân và luật pháp. Đảng và nhà nước phải lắng nghe và chấp nhận sự phê phán của công luận dù điều này rất khó chịu đối với một đảng đã từng tự cho mình luôn sáng suốt, lãnh đạo xã hội toàn diện, triệt để và tuyệt đối, theo một ý thức hệ "bách chiến bách thắng muôn năm" và không muốn chia sẻ quyền lãnh đạo với ai khác.

 

Vụ Nhân văn-Giai phẩm năm 1956-57 là một vụ án báo chí-văn nghệ thảm khốc, một bi kịch lớn, không những đã hủy hoại tài năng, trí tuệ, tâm huyết và cả sinh mệnh của bao nhiêu văn nghệ sĩ, nhà báo tài năng, trung thực, dũng cảm nhất ở trong cuộc, đày đọa họ cho đến cuối đời mà còn làm thui chột óc sáng tạo, tinh thần phản kháng chính trực của cả mấy thế hệ cầm bút, làm cho họ không chỉ mặc đồng phục, xếp hàng đi trong đội ngũ và hướng đi định sẵn mà còn tự mình nằm trong gông cùm của chính mình do sự sợ hãi, sự quy phục trong chính đầu óc mình dù tự nguyện hay không tự nguyện. Đôi người muốn đi ra ngoài hàng, lập tức bị nghiền nát. Đừng vội dẫy nẩy lên và cho rằng đây là luận điệu phản động của bọn thù địch. Giáo sư Hòang Ngọc Hiến là ai khi ông viết về văn nghệ "phải đạo"? Có ai dám nghi ngờ về quan điểm lập trường và lòng trung thành của nhà văn đại tá quân đội Nguyễn Minh Châu khi ông viết "Đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ"? Không phải nhiều văn nghệ sĩ đã nói đến ông kiểm duyệt nằm ngay trong đầu mình  khi sáng tác và một vị tổng bí thư đã lớn tiếng hô hào cởi trói cho văn nghệ sĩ đó sao? [Đáng tiếc chẳng bao lâu cũng chính ông đã cho trói lại.]

…

Nhân dân ta đã rất yêu nước, rất thông minh làm sao có thể chấp nhận những luận điệu xằng bậy, nhưng nếu có những ý kiến tốt, những lý luận sắc sảo và thuyết phục, những quan điểm đúng đắn thì nhân dân sẽ ủng hộ, đảng và nhà nước cũng phải tiếp thu nghiên cứu nghiêm túc. Tại sao cái gì cũng hô hoán, quy kết là âm mưu "diễn biến hòa bình". Diễn biến hòa bình không tốt hơn diễn biến chiến tranh sao. Trong diễn biến hòa bình phần thắng sẽ thuộc về người có chính nghĩa, chinh phục được trái tim và khối óc của người dân. Đó là cuộc đấu tranh thẳng thắn, công bằng và không đổ máu, tại sao lại không chấp nhận luật chơi văn minh này.

 

Lịch sử thế giới và Việt Nam đã cho thấy độc quyền dù trong tư tưởng, chính trị hay kinh tế cũng không bao giờ tốt, chỉ dẫn đến sai lầm, độc tài và độc ác như nhiều người đã nhận xét. Phải có đối thoại, đối lập và cạnh tranh một cách hòa bình, lành mạnh mới có thể xây dựng một xã hội, một chế độ tốt đẹp và văn minh, mang lại tự do và quyền lợi cho đa số nhân dân. Trong vấn đề này, tự do báo chí là một trong những phương tiện hữu hiệu nhất.

 

Đó là những tiếng vọng lẻ loi ư? Không. Tiếng vọng lẻ loi không còn là tiếng vọng lẻ loi mà đã trở thành tiếng chim báo bão. Đây không phải là bão tố cuồng nộ của hận thù, máu lửa và áp bức mà là những ngọn gió phóng khoáng của dân chủ, tự do, của sự thật, bao dung, nhân bản và hòa bình, những giá trị đích thực của con người sẽ chiến thắng trên đất nước và cả hành tinh này.

 

 Hữu Loan: “Cây gỗ vuông chành chạnh….”

 

Cuộc sống của Hữu Loan thời kỳ đêm dài 30 năm đúng là “vô cùng căng thẳng”, đặc biệt khi “cuồng tín nhân dân” còn bị nhồi sọ và kích động bởi bộ máy tuyên truyền hùng hậu.

Thời kỳ đó đã qua và hiện nay những nhà văn chân chính như Hữu Loan không cô độc nữa, dù cũng còn phải chịu đựng không ít khó khăn trù dập. Trung thực và dũng cảm vẫn là điều không thể thiếu khi nhà văn muốn nói lên sự thật.

Riêng Hữu Loan, ông đã giữ vững sự lựa chọn đó đến cuối đời. Theo tôi biết, nếu không lầm, sau thời kỳ đổi mới, Hữu Loan là người duy nhất không làm đơn xin khôi phục hội tịch Hội Nhà văn Việt Nam.[*] Cuộc sống của ông cho đến tận hôm nay, dù trải qua bao nhiêu gian nan khốn cùng, đó vẫn là một cuộc sống làm người tử tế đúng nghĩa. Hơn nữa đó còn là một cuộc đời bi tráng rực rỡ, lấp lánh niềm đau và khí phách như những bài thơ của chính ông.

Cuộc đời Hữu Loan chính là một tượng đài của nhân cách, lòng trung thực và khí phách anh hùng. Tượng đài đó có thể biểu trưng bằng “cây gỗ vuông chành chạnh” và một chữ Tâm. Người xưa nói “ Dụng nhân như dụng mộc”. Cây gỗ vuông này thời đại của ông không dùng nhưng lịch sử sẽ dựng lên thành một tượng đài, cũng là một loại bút “ tả thanh thiên” lồng lộng giữa đất trời.

 

Tả thanh thiên

 

Ngòi bút không chỉ thù tạc và vẽ vời phong hoa tuyết nguyệt. Ngòi bút không chỉ viết những bài tụng ca chế độ. Ngòi bút viết lên trời xanh chỉ có thể là viết về nỗi thống khổ của con người, về sự hà khắc tàn bạo của thế lực cầm quyền. Viết lên trời xanh là để kêu gào. Viết lên trời xanh là để gởi tới con người và gởi tới mai sau khi ngòi bút, những người cầm bút bị kềm hãm, phong toả. Viết lên trời xanh là hành động can đảm của người cầm bút chống lại chế độ độc tài thống trị…. Có thể hiểu như thế được chăng?

 

Đọc lại tiểu sử của hai người bạn “thần Siêu, thánh Quát” và về việc Nguyễn Văn Siêu dựng Tháp Bút, ta tự hỏi phải chăng Nguyễn Văn Siêu đã ký thác nhiều tâm sự của chính mình và của người bạn ngang tàng Cao bá Quát khi viết ba chữ ‘Tả thanh thiên” lên Tháp Bút. Và ta suy ngẫm gì khi đứng dưới chân ngọn tháp mang chứa nỗi niềm và khát vọng của người xưa?

 

Có người nói kẻ sĩ - trí thức Việt Nam hèn nhát, không đóng được vai trò lịch sử của mình. Điều đó có thể đúng khi nhìn nhận kẻ sĩ - trí thức như một giai cấp có nhiệm vụ chỉ đường và lãnh đạo xã hội. Nhưng kẻ sĩ - trí thức thường chỉ thể hiện như một cá nhân và những cá nhân ưu việt tiêu biểu cho một tầng lớp. Xét cho cùng trong những tình huống cực đoan của lịch sử, sứ mạng của kẻ sĩ- trí thức không gì khác hơn là “Tả thanh thiên”.

 

Sứ mệnh của người cầm bút không phải chỉ là “Tả thanh thiên”. Còn biết bao nhiêu điều để kẻ sĩ - trí thức - văn nghệ sĩ theo đuổi và hiến dâng trên con đường suy ngẫm, nghiên cứu và sáng tạo của mình: ngợi ca tình yêu và cái đẹp, đi tìm chân lý cho cuộc sống, soi rọi những trang lịch sử u ám, bị bỏ quên hay bóp méo, lang thang trên những nẻo tâm linh muôn thuở…

 

Tất cả đều mang lại giá trị tinh thần cho con người. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh mà con người bị chà đạp, tước mất quyền sống như con người, ngọn bút “Tả thanh thiên” là cần thiết. Dù tình hình bi đát đến đâu, kể cả khi tưởng như tuyệt vọng, nhưng nếu vẫn còn những ngọn bút “Tả thanh thiên”, dân tộc hãy còn có hy vọng.

 

Nhưng để hoàn thành một cuộc đổi đời, cách mạng cho đất nước, những ngọn bút “Tả thanh thiên” không đủ. (Và cũng không thể đòi hỏi ở các ngọn bút nhiều hơn). Điều này đòi hỏi một sự nghiệp khác, lớn lao hơn, với sự huy động toàn diện sức mạnh và tiềm năng của cả dân tộc.

 

Chiến Tranh, Nghệ Thuật Tuyên Truyền và Chân Lý Lịch Sử

 

Quân đội Mỹ không tự ý hành động mà thực hiện chính sách của chính quyền Mỹ. Tại sao chính quyền Mỹ lâm chiến ở Việt Nam sau khi hiệp định Genève được ký kết,chia đôi đất nước? Nếu không có cuộc chiến tranh giải phóng của miền Bắc, được chuẩn bị ngay từ năm 1954 khi cài cấy cán bộ ở lại và sau đó từng bước đưa vũ khí và quân đội vào miền Nam và cuộc chiến lan rộng thì Mỹ có trực tiếp đưa quân vào miền Nam không? Miền Nam có cần được giải phóng không khi lúc đó hai miền đều có chính quyền và do hoàn cảnh lịch sử đều có mức độ lệ thuộc nước ngoài không khác nhau là mấy và không thể nói là bị xâm lược? Nếu không có xâm lược thì không thể có chiến tranh giải phóng mà đó đích thực là nội chiến. Nội chiến kết với chiến tranh ủy nhiệm đã tạo ra chiến tranh xâm lược khi Mỹ trực tiếp đưa quân vào Việt Nam. (Thực ra vai trò của Liên Xô và Trung Quốc lúc đó đối với Miền Bắc không khác gì vai trò của Mỹ ở Miền Nam, nhưng vì Mỹ sai lầm trong việc đưa quân vào Việt Nam nên bị mang tiếng là xâm lược và đây cũng là nguyên chính đưa đến sự thất bại của Mỹ trong cuộc chiến, đặc biệt là cuộc chiến tuyên truyền của những người cộng sản.)

 

Tuy nhiên trong cuộc chiến vừa qua, chính người Việt Nam đã giết người Việt Nam, giết đồng bào của mình nhiều nhất, nhưng không thấy ai nói lời xin lỗi, không thấy ai sám hối mà lại chỉ tiếp tục những lời lăng nhục hay hận thù. Buồn thay cho một dân tộc vẫn tự hào là bao dung và giàu lòng nhân ái!

 

Điều gì đã dẫn tới bi kịch đó? Một phần chính là do nhiễm độc tuyên truyền. Nhiễm độc tuyên truyền gây hậu quả tệ hại không kém nhiễm độc màu da cam, cũng di hại qua nhiều thế hệ với bao nhiêu dị tật nguy hiểm trong tâm hồn con người.

 

Lịch sử đã đi qua, là quá khứ không thể thay đổi nhưng sự phán xét lại lịch sử không bao giờ muộn và vô ích khi muốn rút ra bài học cho tương lai. Người chiến thắng không phải bao giờ cũng là người có chân lý. Ông cha ta vẫn nói “Được là vua, thua là giặc”, không phải điều gì mới lạ.

 

Hơn lúc nào hết lúc này nhà cầm quyền phải thành tâm nhìn nhận lại vấn đề để sửa sai những gì cần phải sửa sai chứ không phải cứ tiếp tục luận điệu tuyên truyền cũ rích. Dù với một nghệ thuật tuyên truyền bậc thầy có thể đổi trắng thay đen, che đậy sự thật, nhưng rồi chân lý vẫn lộ ra khi chân lý không còn là độc quyền của thế lực thống trị và không chế độ nào có thể “thiên thu trường trị” như những lời hô "vạn tuế, muôn năm" trong lịch sử nghe đã chán ngấy.

 

Cuối cùng, người quyết định vận mệnh của đất nước vẫn là nhân dân. Khi nhân dân đã nhận thức được chân lý, nhân dân sẽ tự lựa chọn bước đi của mình trong lịch sử. Khi đó, không lực lượng thống trị nào, không nghệ thuật tuyên truyền nào có thể ngăn cản hay lèo lái bước đi của dân tộc.

 

Thư ngỏ gửi ông Võ Văn Kiệt về vấn đề đại đoàn kết dân tộc.  

 

Tuy nhiên, không thể đổ hết cho cơ chế, guồng máy vì cơ chế, guồng máy do con người tạo ra và chi phối, nhất là đối với những người lãnh đạo có quyền lực như ông. Hơn nữa ông lại là người có bản lĩnh và nhận thức sâu sắc, ông không thể không biết đến tầm quan trọng và tác hại sâu xa của nghị định phản động đó.

 

Tôi nêu ra vấn đề này vì hiện nay nghị định 31/CP vẫn còn hiệu lực và như thế những kiểm điểm nghiêm túc và lời hô hào tốt đẹp của ông về đại đoàn kết chẳng có ý nghĩa gì. Nếu ông không ngỏ lời công khai xin lỗi và yêu cầu hủy bỏ nghị định này ( dù ông không còn đương chức, ông vẫn có thể làm điều này), người ta sẽ không tin tưởng điều ông nói, dù ông chân thành đến đâu.

 

 Trong những giai đoạn mà theo ông, đảng cộng sản đã thực hiện chính sách đại đoàn kết thành công, thực chất chỉ là sách lược đối với từng thời kỳ, từng đối tượng. Sách lược đó là đoàn kết với những ai có thể đoàn kết được, nghĩa là những người chấp nhận sự lãnh đạo của Đảng. Ngược lại, những thành phần khác, dù là tốt, cũng sẽ bị phân hóa, cô lập hay tiêu diệt để giữ vững độc quyền lãnh đạo.

 

Ngày nay điều đó không thể thực hiện được nữa vì mọi người đã nhìn thấy và hiểu rõ. Đại đoàn kết phải có nội dung và phương thức mới. Đại đoàn kết phải trên cơ sở hòa giải hòa hợp, bình đẳng, đồng thuận. Đại đoàn kết phải thành tâm vì lợi ích chung, không dùng thủ đoạn để triệt hạ những người khác quan điểm. Đại đoàn kết phải tôn trọng quyền tự do dân chủ của nhân dân và chia sẻ quyền lực với những người tài đức do nhân dân lựa chọn.

 

Rõ ràng chỉ có hành động mới chứng tỏ được gía trị của một con người, một chế độ. Nếu ông và những người cầm quyền hiện nay làm được như lời kêu gọi đại đoàn kết trong bài viết của ông, riêng tôi và tôi tin rất nhiều người sẽ sẵn sàng đại đoàn kết với các ông để chung sức xây dựng đất nước. Nếu không, như ông nói, khẩu hiệu “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, Thành công, thành công, đại thành công” trên quảng trường Ba Đình "chỉ là một khẩu hiệu bằng sắt, bằng gỗ, bằng vải màu” hoàn toàn vô nghĩa.

 

Về một diễn đàn dân chủ 

 

Một vấn đề khác là những cuộc đấu tranh trên đường phố của sinh viên học sinh và nói rộng ra là của các tầng lớp nhân dân, trong đó có trí thức, không chỉ ở Miền Nam mà còn ngay chính ở Mỹ và nhiều nước trên thế giới, nhằm phản đối chiến tranh và sự can thiệp của Mỹ ở VN có phải hoàn toàn do cộng sản giật dây không?

 

 Đối với sinh viên học sinh, ngoài một số ham vui vì được nghỉ học, đi theo bạn bè la hét, phần lớn, nhất là sinh viên đều có nhận thức, ở nhiều mức độ khác nhau, về việc mình làm. Điều nổi bật là tinh thần dân tộc, khát vọng hòa bình, công bằng và tự do dân chủ với nhiệt tình trong sáng nhất của tuổi trẻ. Dĩ nhiên trong phong trào cũng có những "cơ sở cách mạng" được cài cấy để kích động hoặc lèo lái nhưng không phải lúc nào họ cũng có thể nắm được phần chủ động. Ai cho rằng cộng sản hoàn toàn lãnh đạo các cuộc tranh đấu này là vô tình đã quá đề cao cộng sản (dù nghệ thuật tuyên truyền vận động quần chúng của cộng sản là bậc thầy nhưng không phải họ có thể làm được mọi chuyện) và xem thường trình độ nhận thức của trí thức, sinh viên học sinh và các tầng lớp nhân dân. Ngược lại, sau này, khi tổng kết phong trào, bao giờ người cộng sản cũng tự nhận là đã lãnh đạo, chỉ đạo mọi cuộc tranh đấu để tự đề cao và giành lấy thành tích. Vậy thì những người có nhận định như trên, lại một lần nữa "trúng kế cộng sản".

 

Việc Mỹ can thiệp quá sâu, đưa quân vào Việt Nam, rải bom trải thảm và chất độc khai quang, oanh tạc miền Bắc, đưa chiến tranh lên độ khốc liệt đã gây nên sự phản kháng khắp thế giới. Phản ứng này xuất phát từ điều mà người ta gọi là "lương tri nhân loại" và cộng sản đã dựa vào tình hình đó để mở rộng cuộc chiến tuyên truyền và ngoại giao. Những người lên tiếng đòi hòa bình cho VN, trong đó có những trí thức chính hiệu, có xu huớng khuynh tả, thuộc tầm cỡ số 1 thế giới như Jean Paul Sartre và nhiều người khác nữa có phải là người ngu, bị cộng sản giật dây không?

 

Sinh viên học sinh tranh đấu, thành phần thứ ba, trí thức khuynh tả có "đâm sau lưng chiến sĩ" VNCH không? Không hề. Họ đã hiên ngang đứng trước mũi súng của cảnh sát, trong làn khói lực đạn cay và phi tiễn, kể cả trong nhà tù để đòi độc lập, hòa bình, tự do dân chủ. Đây có phải cũng chính là lý tưởng của các chiến sĩ VNCH không? Kẻ "đâm sau lưng chiến sĩ" thực sự là những tướng tá và chính trị gia bất tài, tham nhũng, tranh giành địa vị, lệ thuộc vào Mỹ đã làm cho chính quyền Miền Nam mất chính nghĩa, cuối cùng thất trận và họ là những kẻ tháo chạy trước tiên, để mặc cho binh lính ở lại "tử thủ" với kẻ thù hay "tùy nghi di tản". Chính họ chứ không phải ai khác.

 

Đâu là con đường hòa giải hòa hợp để chống lại guồng máy độc tài toàn trị?

 

Còn nhân dân, tiếp nối đời này sang đời khác, là một thực thể trường tồn có sức mạnh vô địch. Không có chế độ độc tài chuyên chế nào có thể bền vững muôn năm. Nhân dân sẽ có tự do dân chủ nhưng tùy theo mức độ phản kháng của mình, nhân dân sẽ còn đau khổ nhiều hay ít trong quá trình đòi hỏi quyền làm người của mình.

 

Tôi không phải là người làm chính trị chuyên nghiệp. Tôi không cần đánh bóng uy tín chính trị của mình cho tham vọng quyền lực hay điều gì khác. Tôi chỉ là người cầm bút phản kháng.

 

Tôi viết về chính trị và đã từng tham gia vào một số hành động chính trị trong đời mình nhưng thực tâm tôi không hoàn toàn tin tưởng vào hiệu quả của chính trị đơn thuần trong việc mang lại hạnh phúc cho con người. Bao nhiêu cuộc cách mạng đã gào thét trên hành tinh này. Bao nhiêu giải pháp chính trị, đường lối, chính sách đã được thực thi tự cổ chí kim, từ đông sang tây nhưng rút cục cho đến hôm nay, số đông nhân loại vẫn còn đầm mình trong biển khổ.

 

Phải chăng trong chính trị còn thiếu một chữ “Tâm” của con người. Những người làm chính trị thừa thủ đoạn mà thiếu một chữ “Tâm” nhân bản, một tấm lòng yêu thương chân thực với từng phận người cụ thể chỉ hô hào “ vì hạnh phúc của nhân dân” nghe rất kêu nhưng bên trong là tiếng súng gươm loảng xoảng và những thủ đoạn tàn bạo đê hèn.

 

Tôi đã từng thiền trong 10 năm với hai câu “mantra” bằng tiếng Sanskrit có nghĩa “Mọi vật đều là biểu hiện của ĐấngTối Cao” và “Tôi là một với Đấng Tối Cao” để mở rộng lòng yêu thương và trở về cội nguồn nguyên thủy của mình, như giọt nước trong con suối nhỏ trở về biển cả.

 

Tôi có chút kinh nghiệm về tâm linh, có thể giải quyết phần nào những vấn nạn cá nhân nhưng chưa thấy rõ giải pháp hiệu quả cho dân tộc và nhân loại. Tôi vẫn ở trên đường tìm kiếm và tôi tin trên thế gian này không ít những người bạn đồng hành.

 

Tỉnh thức, cảnh giác nhưng thông cảm và bao dung.

 

Điều đáng buồn là về sau này khi những người lính Mỹ, lính Đại Hàn, lính Úc tham dự cuộc chiến năm xưa đã trở lại Việt nam để sám hối về tội ác của họ trong cuộc chiến nhưng chưa thấy người lính Việt Nam nào, chính quyền hay tổ chức nào ở cả hai phía, tỏ lòng ăn năn về những tội ác đã gây ra cho chính đồng bào mình. Chỉ nghe thấy tiếng reo hò của lòng kiêu hãnh về chiến thắng, lời lăng mạ khinh miệt đối với kẻ địch hay sự nguyền rủa đầy hận thù của kẻ chiến bại. Nhân dân làm sao có thể quên được những tai họa và thảm cảnh mà cuộc chiến đã gây ra dù cuộc sống vẫn không ngừng đi tới.

Trước đây, khi đọc lịch sử Trung Quốc thời cách mạng văn hóa, tôi rất ngạc nhiên không hiểu sao giới trí thức Trung Quốc lại có thể trải qua những hoàn cảnh bi thảm nhục nhã mà không dám phản kháng. Cách phản kháng mạnh bạo duy nhất là tự sát. Còn lại tất cả đều bị hành hạ, phải kiểm điểm, tự thú và đi cải tạo. Sau này qua hoàn cảnh Việt Nam và chiêm nghiệm cá nhân, tôi hiểu ra rằng dưới một chế độ độc tài toàn trị sắt máu và khi "cuồng tín nhân dân" được kích động bản năng lên đến tận cùng (theo cách nói của Hữu Loan), lương tri và sự phản kháng của trí thức vốn chân yếu tay mềm và không quyền lực hầu như đã bị đè bẹp.

Sau việc đàn áp nhóm "Nhân văn - Giai phẩm", trong một thời gian dài, giới trí thức Miền Bắc hầu như đã bị tê liệt tinh thần phản kháng. Một hai trường hợp lẻ tẻ của các nhà văn phê phán chế độ, dù là bóng gió, bị trù dập ngay, cộng thêm với việc trí thức bắt buộc phải gắn chặt về mọi mặt với chế độ, nhất là việc làm và đời sống, đã củng cố thêm sự "liệt kháng" này. Sau 1975, tình hình vẫn không khá hơn nhưng càng về sau này, nhất là mấy năm gần đây, trong bối cảnh chung của việc hội nhập quốc tế, việc nâng cao nhận thức của toàn xã hội và tác động của phong trào dân chủ hóa đất nước, một số trí thức dần dần đã khôi phục lại phần nào vị thế của mình.

Trong cuộc chiến vừa qua, giữa bối cảnh chiến tranh ý thức hệ toàn cầu và sự mặc cả của các cường quốc để sắp xếp số phận của các nước nhược tiểu, phần lớn người Việt Nam vừa là nạn nhân vừa là người tham dự chủ động vào tấn bi kịch lịch sử. Cho nên nói đến một sự sám hối toàn dân tộc không phải là không có lý. Sử dụng từ và khái niệm của Phật giáo, có thể nói chính chúng ta đã tạo ra "nghiệp", một thứ "cộng nghiệp" nên cần tự mình "giải nghiệp". Tại sao dân tộc Việt Nam sau bao nhiêu chiến đấu, hi sinh và đau khổ đến nay vẫn còn phải chịu áp bức, mất tự do trong chế độ độc tài toàn trị? Điều này có phần nào gần với câu "Nhân dân nào chính phủ ấy"? Đó cũng là luật nhân quả. Một số người, trong đó có Nguyễn Tường Bách trong tùy bút "Mộng đời bất tuyệt" đã đề cập và lý giải vấn đề này, dù chỉ thoáng qua.(3)  Cộng nghiệp này chỉ có thể được giải bằng sự chuyển nghiệp của toàn dân tộc, bằng hành động cụ thể được hướng dẫn bằng minh triết chứ không phải là hận thù, u mê hay tham lam, bạc nhược. Đây không phải chỉ là niềm tin tôn giáo mà còn là quy luật đấu tranh xã hội.

Tôi là người đã từng ở trong guồng máy và đã ở tù dưới cả hai chế độ. Tôi chưa từng cầm súng để bắn giết ai hay có kẻ thù cụ thể ở bất cứ phe nào. Ngược lại, tôi có bạn bè thân thiết ở cả hai phía. Những điều tôi suy nghĩ có thể đúng, có thể sai nhưng không phải là nhận định của kẻ đứng ngoài, đứng bên lề  hay thuần lý mà là tình cảm và suy tư của một người luôn luôn ở trong cuộc, luôn luôn tự vấn, phản tỉnh  và lắng nghe một cách chân thành trong từng ngày sống.

Có bạn đọc trên mạng than thở giùm tôi, đại ý nói Tiêu Dao Bảo Cự ơi, cuộc sống có bao lâu mà phải bầm dập lận đận làm khổ đời mình…Tôi cũng biết cuộc đời ngắn ngủi và vô thường. Tôi vẫn hay băn khoăn dằn vặt về thái độ sống của mình. Dù sao tôi đã lựa chọn và cố gắng sống với điều mình chọn lựa. Tôi cũng biết cách im lặng và chỉ im lặng khi thấy điều đó thực sự là giải thoát.

 

Cùng nhau hướng tới tương lai.

 

 

Tuy nhiên sự thật lớn nhất là niềm đau của nhân dân Việt Nam, là những gì mà người dân hai miền nam - bắc đã gánh chịu trong cuộc chiến tàn khốc đó chứ không phải là ngôn từ trong các bản hiệp định. Dù hiệp định đó đã được viết với những tính tóan như thế nào của các bên, ai ký, ai không ký, ai vi phạm thì sự thật là đất nước đã bị chia cắt làm hai miền trong bấy nhiêu năm. Cho nên nói “Hiệp định Genève chia đôi đất nước”, như cách nói thông thường của phần lớn người Việt Nam, không có gì sai mà còn diễn tả đúng sự thật lớn nhất, đau lòng nhất của đất nước trong một thời kỳ.

 

Năm 1964, thời còn là sinh viên, có lần tôi đã đi cùng với tráng đòan hướng đạo Bạch Mã trong một chuyến du khảo ra thăm cầu Hiền Lương, đứng bên này sông nhìn sang bên kia bờ và lắng nghe trong mình dậy lên niềm đau chia cắt. Hơn 20 năm sau ngày thống nhất đất nước, tôi mới có dịp dến thăm cầu Hiền Lương lần nữa. Lần này tôi có thể đi sang bờ bên kia, đến tận  nơi, chụp hình bên cạnh một tượng đài không ra hình thù gì cả, trên đó có ghi “Cột mốc giới tuyến quân sự tạm thời 54-75” như ngôn từ trong văn bản của hiệp định Genève và tôi thấy nó không có nghĩa gì cả. Tôi nhìn con sông Bến Hải, con sông đã đi vào lịch sử như một nhát dao chia cắt, một vết chém ngang lưng đất nước, tôi thấy tội nghiệp vô cùng cho con sông bé nhỏ và đất nước Việt Nam nhược tiểu trong cuộc tranh chấp kinh hòang của ý thức hệ, của lợi quyền dân tộc, phe phái, tập đòan trên phạm vi tòan thế giới mà Việt nam là một nạn nhân đau thương nhất. Cũng tương tự, Hiệp định Paris năm 1973 có tên gọi là “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình…” (tôi viết theo trí nhớ) nhưng chiến tranh chấm dứt và hòa bình lập lại không phải do hiệp định mà bằng cuộc tổng tiến công và chiến thắng của một phía. Chưa kể cho đến tận hôm nay có nguời vẫn còn đặt câu hỏi mọi hình thái chiến tranh đã chấm dứt chưa và hòa bình đã thực sự có chưa nơi tâm hồn của những con người vẫn còn những vết thương không sao kín miệng. Những câu chữ trong các văn bản, hiệp định, tuyên bố, tuyên ngôn, diễn văn gì gì đó nhiều lúc chẳng có nghĩa lý gì trước thực tiễn của con người và đất nước, đôi khi chẳng có gì khác hơn là sự lìa bịp.

 

Vậy thì sự thật, chân lý lịch sử nằm ở đâu? Hình như chân lý nói chung và chân lý lịch sử nói riêng cũng rất tương đối. Nhiều người  biết rõ lịch sử do các thế lực thống trị  đất nước viết nên đều luôn luôn viết có lợi cho mình và không ngần ngại bóp méo cái gọi là sự thật lịch sử, nhất là những gì liên quan đến các triều đại, chế độ, thế lực đã bị lật đổ.  Và từng cá nhân cũng chỉ nhìn nhận lịch sử theo hòan cảnh mình sống. Bài viết của Hùynh Phan tham gia cuộc tranh luận trên talawas nói lên khá rõ điều đó. Người ở thành thị miền nam sống bình yên, no đủ thường đứng về phe quốc gia và lên án các hành động pháo kích, đặt mìn… của cộng sản. Người ở nông thôn nghèo khổ, chịu đựng các cuộc hành quân bố ráp, lùng bắt cộng sản của quốc gia thường có cảm tình với Mặt trận và tham gia du kích hay “vô bưng, nhảy núi”. Người ở miền bắc căm thù đế quốc Mỹ xâm lược và quyết tâm giải phóng miền nam. Dĩ nhiên nói cho rõ, đây chỉ là xác định hiện tượng, chưa truy tìm nguyên nhân và không phải tất cả nhưng phần lớn thái độ và lựa chọn của nhân dân ở các miền là như thế. Vậy thì ai đúng ai sai? Ai có quyền lên án và ai đáng bị lên án? Chân lý nằm ở đâu và tiêu chuẩn nào để xác định chân lý trong cuộc tranh luận khi chỉ vì những lựa chọn hay “bị lựa chọn” đó mà máu đã đổ và thù hận đã dậy lên ngút ngàn lịch sử?

 

Điều quan trọng bây giờ là cùng nhau hướng tới tương lai.

 

Tương lai đó là đấu tranh cho một Việt Nam hòa bình, tự do, dân chủ và phồn vinh. Trong cuộc  đấu tranh này, đấu tranh chính trị là quan trọng nhưng  không phải là tất cả.

 

Bài học lịch sử “Nhân văn” và “Xét lại”.

 

Vụ án “Nhân văn – Giai phẩm” chấn động xã hội mang lại nhiều tai họa, tai tiếng và tranh cãi là một vụ như thế nào chưa hề được xem xét lại sau gần nửa thế kỷ. Đây không phải là một vụ hòan tòan đã qua, đã mất mà vẫn còn là một vấn nạn lịch sử và hệ quả của nó vẫn còn tồn tại, nhức nhối trong đời sống văn học và xã hội hiện tại.

 

Ở Việt Nam, có hai từ rất đẹp đã bị những vụ án chính trị làm hoen ố. Đó là từ “nhân văn” và “xét lại”. Đã có một thời gian dài hai từ này bị hiểu như là cái gì xấu xa, phản trắc, phản động, chống lại đảng cộng sản, chống lại tổ quốc. Ai bị quy là “bọn nhân văn”, “bọn xét lại” hay có liên quan, dây mơ rễ má với “bọn” này thì chỉ có nuớc bị đi tù, cải tạo, trù dập hay không ngóc đầu lên nổi. Nhưng “nhân văn” chính là phẩm cách cao quý nhất của một nền văn hóa và cả chính trị, “xét lại” là động lực phát triển của khoa học và cũng của chính trị. Khi hô hào xây dựng một xã hội “công bằng và văn minh” thì đó chính là “nhân văn” và “đổi mới” có khác gì “xét lại”. Như thế không phải đảng và nhà nước không hiểu rõ giá trị của hai từ này nhưng đảng và nhà nước không cho ai “nhân văn” và “xét lại” nếu việc này đe dọa đến sự độc quyền lãnh đạo của mình. Đây là một mâu thuẫn lớn đã gây ra bi kịch và sự “tụt hậu” của Việt Nam trong thời hiện đại nói chung và trên hai lãnh vực văn hóa, chính trị nói riêng.

 

Qua vụ NVGP, vói các tài liệu liên quan mới được công bố lại trên talawas, ta thấy những nhà văn, nhà báo đã trở thành công an, mật vụ, chỉ điểm và trở mặt nói xấu, quy chụp, đưa bạn bè, đồng nghiệp vào chỗ tù đày, thân bại danh liệt như thế nào. Những người cần có nhân cách nhất lại vì vụ “nhân văn” trở thành những người mất nhân cách tệ hại nhất. Mà các tác phẩm đăng trên NVGP có gì khác hơn là đòi tự do tư tưởng, tự do sáng tác, chống quan liêu, chống tham ô lãng phí và không ít tác phẩm khẳng định sự ủng hộ đối với đảng để diệt trừ những tệ nạn xấu xa làm hại đến nhân dân, đến đất nước và cả đến đảng khi đảng đã nắm được quyền lực.

 

Không dừng lại ở đó, sau vụ NVGP, tất cả nhà văn khi sáng tác đều chịu hai cái vòng “kim cô”, một ở bên ngòai do chính sách kiểm duyệt của nhà nước khi biên tập, cho đăng báo, xuất bản, một ở bên trong đầu từng nhà văn khi luôn luôn nghĩ mình phải sáng tác như thế nào để khỏi phạm vào những điều cấm kỵ có thể đưa mình đến chỗ thân bại danh liệt. Vậy là có tác phẩm “phải đạo”, “đồng phục”. Nhiều người đã băn khoăn tại sao Việt Nam không có tác phẩm lớn đạt tầm nhân lọai khi hòan cảnh Việt Nam là một hiện thực lớn vô cùng phong phú và văn nghệ sĩ Việt Nam không thiếu tài năng. Phải chăng tình hình trên đây đã là một câu trả lời hiển nhiên. Làm sao có tác phẩm lớn khi văn nghệ sĩ không có tự do sáng tạo?!

 

Sự liêm khiết tinh thần và cái “dũng” của người cầm bút hay bi kịch của trí thức Việt nam.

 

Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên nhận xét:

 

“Nhất đội nhì giời” - câu nói một thời, ám ảnh một đời. Nó là sự thực đời sống. Còn hơn thế, nó là sự thật lịch sử. Nhưng mà đọc trong sách thấy cứ như một trò đùa số phận. Một vô thức lịch sử. Một chứng điên tập thể. Và rồi cuộc sống cứ trôi theo quy luật vốn có, những gì bị phá đi thì phải làm lại, đánh mất phải tìm lại, quẳng đi phải lấy lại.”

 

Vậy thì đây là sự thật lịch sử hay vô thức lịch sử? Cái gì là vô thức lịch sử và trò đùa của số phận? Chứng điên tập thể nào? Nguyên nhân gì? Ai trực tiếp gây ra? Dĩ nhiên nông dân căm thù áp bức bóc lột của địa chủ, không phải riêng địa chủ mà cả thực dân đế quốc và bất cứ bọn cường hào ác bá cũ mới bất cứ thời kỳ nào, nhưng đi đến chỗ đấu tố, con tố cha, vợ tố chồng, bà con hàng xóm láng giềng tố cáo và tàn sát, cướp bóc lẫn nhau thì chỉ do đội cải cách phát động, cưỡng ép mới có được thôi. Đây là sản phẩm đặc hiệu có một không hai của cuộc cải cách ruộng đất do đảng cộng sãn lãnh đạo. Đúng là nông dân Việt Nam cần một cuộc cải cách ruộng đất nhưng không phải theo cách điên rồ này.         

 

Trong “Ba người khác”, ba anh đội, ba nhân vật chính của tác phẩm là những nguời đã tạo ra “cơn điên tập thể” đó. Qua tác phẩm rõ ràng đó là ba tên cặn bã. Nhưng ba tên này từ đâu đến?

 

Có phải “ba cái anh lăng nhăng”, thứ “đồ ba láp” không biết từ đâu đến lại có thể làm nên những chuyện đảo lộn trời đất? Có thực như vậy không? Hay mọi người đều biết những tên khốn nạn này do đảng cộng sản phái xuống làm công tác cải cách và cho chúng quyền uy đến mức nhân dân khiếp sợ phải gọi chúng là “nhất đội nhì giời”. Không có đảng cộng sản, chúng nó có thể lộng quyền, tác oai tác quái làm những chuyện kinh thiên động địa như thế không? Đảng cộng sản Việt Nam đựợc “lịch sử giao phó sứ mạng lãnh đạo đất nước” và trong chuyện cải cách ruộng đất này đảng đã làm theo sự chỉ đạo của đảng cộng sản Trung quốc với một phương thức tàn bạo, phi luân, làm đảo lộn mọi giá trị văn hóa tinh thần của dân tộc Việt Nam và ảnh hưởng lâu dài trên lịch sử đất nước. Tác giả biết rõ điều đó và tác giả đã làm gì, suy nghĩ gì, sống và viết như thế nào trong những năm tháng tiếp theo sau những sự kiện kinh hòang mà tác giả không những đã chứng kiến mà còn trực tiếp tham gia như người trong cuộc? Có phải chính vì thế mà Hà Văn Thùy đã có lý khi đề cập đến vấn đề nhân cách nhà văn của tác giả? (Trong bài “Về cuốn Ba người khác của nhà văn Tô Hòai” đăng trên talawas)

 

Ở đây không đặt vấn đề phê phán cá nhân mà người viết muốn đặt ra một vấn đề chung: Đến bao giờ trí thức nói chung và những người cầm bút nói riêng mới dám nói thẳng, nói thật, nói hết những điều mình nghĩ? Dĩ nhiên con người bao giờ cũng có giới hạn và từng con người cụ thể, trong những hòan cảnh cụ thể lại càng có giới hạn. Không thể đòi hỏi nhiều ở con người, nhất là những người trí thức sống trong một xã hội tòan trị độc quyền chân lý và không cho ai được quyền nghĩ khác, nói khác. Tuy nhiên cũng không phải vì thế mà trí thức hòan tòan “liệt kháng” phó mặc cho số phận khi thiên chức của trí thức là nói lên tiếng nói lương tri và soi đường cho lịch sử bằng trí tuệ của mình.

 

Lịch sử Việt Nam hiện đại có cả bi hùng, bi tráng, bi thảm, nhuộm đầy máu, mồ hôi nước mắt của con dân. Đảng cộng sản đóng vai trò lớn trong giai đọan lịch sử này. Chừng nào đảng còn chậm chuyển biến, trí thức không dám nói lên tiếng nói trung thực và phản kháng, nhân dân chậm nâng cao nhận thức và đi vào hành động, chừng đó đất nước còn dậm chân trong vòng nghèo đói, lạc hậu và khổ đau. Đó là định mệnh của dân tộc và chỉ có tòan thể dân tộc mới có thể tự thay đổi số phận mình.

 

Một cuộc đại hội thảo và những cuộc gặp gỡ văn nghệ tự do. Tại sao không?

 

Nhiều luận điểm và ngôn từ mang tính thù hận cũ rích từ hơn 30 năm qua vẫn được đem ra dùng lại, tấn công đối phương, với sự khoái trá hả hê không che giấu, làm như chưa hề biết cuộc chiến máu lửa đã ngưng lại từ ngần ấy năm. Hình như ở một số người tư duy đã bị đông cứng, không có khả năng lắng lòng lại để chiêm nghiệm về bi kịch lịch sử mà nhân dân Việt Nam đã gánh chịu, trong đó mỗi người đều có phần trách nhiệm của mình. Cái gọi là “chính nghĩa” mà các bên đã nhân danh và tự hào lại chính là bình phong cho những thủ phạm giấu mặt nguy hiểm nhất gây ra biết bao tai hoạ. Sự bảo thủ và cưỡng bức chân lý hình như không phải là độc quyền của riêng ai. Vì đủ mọi thứ lý do, sự giải thích và diễn dịch quá khứ hầu như không thể đạt đến sự đồng thuận nơi phần lớn thế hệ đã từng kinh qua cuộc chiến.

Vậy thì có lẽ không nên tiếp tục tranh cãi về quá khứ. Hãy để thế hệ sau phán xét, những người không bị cuộc chiến trói buộc sẽ vô tư và công bình hơn. Nhưng còn hiện tại và tương lai? Cũng như trong quá khứ, mỗi người dù làm gì hay không làm gì, làm như thế nào đều có trách nhiệm và góp phần chi phối tình hình đối với hiện tại và tương lai của đất nước. Không thể đổ lỗi cho ai khác nếu ta chưa đóng góp được phần mình. Nếu dân tộc này quay lưng lại số phận của mình, sống như lục bình trên dòng nước chảy thì việc gánh chịu thảm kịch là điều đương nhiên. Không ai cứu vớt được ta nếu chính ta không ra sức vùng vẫy để làm chủ số phận. Dân tộc chỉ có thể bước tới nếu không bị chia rẽ và xung đột, làm suy yếu tiềm lực.

“Nhóm Đà Lạt”, một cách gọi, thực ra chẳng có phe đảng, tổ chức gì cả. Chúng tôi chỉ là những người cầm bút tự do, có tính cách, quá khứ và sở trường khác nhau, quan điểm về những vấn đề lớn cũng có độ chênh nhất định nhưng “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”. Khi có bài, tác phẩm mới viết hoặc có rượu ngon, có bạn ở xa đến, chúng tôi họp nhau để trao đổi, tâm tình và bàn chuyện thế sự. Từ 20 năm nay chúng tôi vẫn làm như thế dù có một khoảng thời gian 8 năm, chỉ mấy người trong cùng một thành phố nhỏ xíu, nhà cách nhau chỉ có mấy cây số, nhưng không gặp được nhau đầy đủ vì khi người này bị tù, lúc người kia bị quản chế. Nếu quy bày tỏ tư tưởng là vận động chính trị thì chúng tôi đã làm như thế từ bao năm nay, không có gì mới. Chúng tôi đã và sẽ luôn nói và viết lên quan điểm độc lập của mình về mọi vấn đề, không coi điều gì là cấm kỵ.

Vậy thì hôm nay tại sao văn nghệ sĩ và công chúng không tự mình làm công việc hoà giải hoà hợp này. Tôi có ý kiến hơi khác với Bùi Minh Quốc và Nguyễn Kim Bình về việc xin phép tổ chức một cuộc gặp gỡ văn nghệ đông đảo, chính thức. Nếu làm được như thế cũng tốt. Nhưng luật pháp không cấm, nhà nước không cấm, tại sao chúng ta không tự làm? Chúng ta cứ tự do tổ chức những cuộc gặp mặt giữa văn nghệ sĩ với nhau, với công chúng thuộc mọi miền, mọi thành phần để trò chuyện và trao đổi tâm tình. Gặp mặt ở nhà riêng, ở quán café, ở nhà hàng, ở trường đại học, ở các cơ sở văn hoá, trên các tạp chí, trên không gian ảo… với năm ba người, năm ba chục người… và công bố nội dung như cách làm trên talawas vừa qua. Ai cấm cản điều này nếu không phải là chính ta tự mình đứng trong vòng vôi cấm? Trong những cuộc gặp này, chúng ta không cần tuyên ngôn tuyên bố chống ai, ủng hộ ai cả mà chỉ để cảm thông và chia sẻ. Sự hoà giải hoà hợp thực sự của nhân dân sẽ chống lại mọi chủ trương hay âm mưu chia cắt, thúc đẩy sự chuyển biến của tình hình chung, mang lại hoà bình trong lòng người và cho đất nước. Nếu chúng ta không làm, nhân dân không làm, tình hình chung của đất nước sẽ còn trì trệ, trong đó mỗi người đều có phần trách nhiệm của mình.

. Nan đề nào? Nan đề cho ai?

 

 

Lời hận thù và lời yêu thương.

 

Lời nào nói dễ hơn? Tiếc thay, trong nhiều trường hợp, thực tế cho thấy lời hận thù nói dễ hơn, đặc biệt trong vấn đề chính trị và tôn giáo, khi người ta khác biệt chính kiến.

 

 

Ai là người có thể đưa cuộc đấu tranh cho dân chủ đến thành công? Rõ ràng không phải chỉ là những cá  nhân và  tổ chức đang hoạt động ở hải ngoại và những  “nhà dân chủ” hiện nay trong nước mà còn phải có sự đóng góp của rất nhiều thành phần khác: Những “dân oan” đang khiếu kiện, những công nhân đang đình công để đòi quyền lợi chính đáng của mình (người cộng sản rất hiểu điều này mà họ gọi là từ dân sinh đến dân chủ, từ tự phát đến tự giác). Những trí thức, văn nghệ sĩ bất bình vì thiếu tự do tư tưởng, tự do sáng tạo. Những nhà báo ức chế vì bị siết chặt trong vòng kiểm duyệt. Những công chức có lương tâm trong guồng máy nặng nề kém hiệu quả. Những doanh nhân năng động nhưng bị cơ chế ràng buộc, gây khó khăn. Những đảng viên còn lý tưởng phục vụ nhân dân, kể cả những người ở trong cấp cao của guồng máy. Sau cùng là tuyệt đại đa số nhân dân đang thất vọng trưóc sự tham nhũng vô phương cứu chữa của guồng máy và sự xuống dốc của toàn xã hội trên lãnh vực văn hóa và đạo đức. Chỉ đến khi tất cả những thành phần dân tộc này đều ý thức và tham dự ở một mức độ nào đó, cuộc đấu tranh dân chủ hóa đất nước mới có thể thành công.

 

Khi người dân còn có cảm giác lo sợ khi đối diện với công an, kể cả lúc công an đang làm việc sai trái như đòi tiền mãi lộ, lúc đó chưa có dân chủ. Khi người dân còn khúm núm trước một nhân viên chính quyền hách dịch, lúc đó chưa có dân chủ. Khi văn nghệ sĩ còn tự kiểm duyệt mình trong sáng tác, lúc đó chưa có dân chủ. Khi công chức nhà nước còn im lặng trước sự lộng hành độc đoán của thủ trưởng cơ quan, dù đó chỉ là một anh thủ trưởng bé tí, lúc đó chưa có dân chủ. Khi cử tri còn nhìn trước nhìn sau, không dám bỏ phiếu theo ý mình, dù là đang trong phòng phiếu kín, lúc đó chưa có dân chủ. Khi vẫn là “đảng cử, dân bầu”, lúc đó chưa có dân chủ. Khi các “ông độc quyền” như ông điện, ông nước, ông hàng không còn tự ý làm mọi việc bất chấp quyền lợi chính đáng của khách hàng không cần giải thích, xin lỗi hay đền bù, lúc đó chưa có dân chủ… Có thể kể ra hàng trăm ví dụ như thế. Những tuyên ngôn, tuyên bố rất hay nhưng đằng sau không có một lực lượng quần chúng đông đảo có ý thức và ý muốn hành động tán thành và ủng hộ, sẽ chóng chìm trong quên lãng và bộn bề sôi động của cuộc sống đời thường.

 

 Hòa giải hòa hợp dân tộc và cuộc vận động dân chủ hóa đất nước bằng phương thức diễn biến hòa bình.

 

Điều quan trọng tôi muốn nhấn mạnh, tôi xem hòa giải hòa hợp dân tộc là phương thức tối ưu sau chiến tranh để lấy lại, củng cố và phát huy sức mạnh dân tộc trên đường phát triển, trong đó văn học nghệ thuật đóng vai trò đặc biệt vì sự thẩm thấu, tạo đồng cảm và sức lan tỏa của mình. Công việc này có nhiều trở lực vì có một số thành phần, trong đó quan trọng nhất  là một số người cầm quyền, vì quyền lực và quyền lợi, không chấp nhận hay không có thực tâm. Tuy nhiên nếu đa số những thành phần còn lại trong đại khối dân tộc, kể cả những người cộng sản thức tỉnh, có được hòa giải hòa hợp, tạo nên sức mạnh tuyệt đối, thiểu số cầm quyền này buộc phải khuất phục. Sự diễn đạt quan điểm trong cả hai bài trên như thế có lẽ đã khá rõ ràng.

Mặt khác cần phải cảnh giác trước những lời kêu gọi hi sinh cá nhân cho tập thể, hi sinh thiểu số cho đa số, hi sinh hiện tại cho tương lai. Mới nghe, tưởng chừng những lời kêu gọi này và sự thực hiện chúng là rất cao cả nhưng thực chất chúng rất phi nhân và độc ác. Bao nhiêu cuộc cách mạng với lý tưởng ngời sáng ban đầu đã tắm máu nhân dân để lên ngôi thống trị, bao nhiêu vị tướng đã “công thành” nhờ  “vạn cốt khô”. Trừ những trường hợp hết sức đặc biệt, cực đoan, thí dụ để chống lại tội ác man rợ hay đày đọa phi nhân, mà sự hi sinh trở thành tự nguyện đích thực, còn ngoài ra, không có gì đáng quý hơn sinh mạng và hạnh phúc của cá nhân, của bất cứ tập thể nhỏ lớn nào, trong giây phút này, ngày hôm nay. Trong rất nhiều trường hợp, những tuyên truyền nhồi sọ, những lời kêu gọi hoa mỹ thúc đẩy người khác hi sinh, rút cục chỉ là sự lừa bịp thâm hiểm của những kẻ đầu cơ tội ác. Lịch sử Việt Nam và thế giới trong quá khứ và hiện tại đã cho thấy rõ điều đó.

Dĩ nhiên, hạnh phúc cá nhân cũng như tự do, dân chủ, nhân quyền, phồn vinh của một dân tộc không phải từ trên trời rơi xuống mà là thành quả của các cuộc đấu tranh lâu dài. Ai nói rằng mọi chuyện sẽ đâu vào đó, cái gì phải tới sẽ tới, không cần phải làm gì cả chỉ là một thái độ ngụy tín và né tránh đấu tranh. Tuy nhiên đấu tranh bằng những phương tiện hòa bình, từ chối bạo lực, để khỏi gây tổn thất cho con người là phương thức tối ưu mà con người có thể chọn lựa, trừ những trường hợp bất khả kháng.

Bố ơi bố đã ra về

Con ở lại làm thơ và chữa bệnh

Chúng ta đến nơi này để phát huy một tấm lòng son

Thành hay bại chỉ là chuyện vặt

  (Nguyễn Bắc Sơn, Chuyện hai bố con tôi)

Đây là tâm trạng của con người lạc quan trong ý nghĩa của kiếp nhân sinh, vượt lên trên bình diện thời cuộc và cả lịch sử, không phải là chủ nghĩa thất bại. Còn dĩ nhiên đối với những người dấn thân trong cuộc đấu tranh cho những điều tốt đẹp, điều quan trọng là phải thành công và khi thành công tất sẽ thành nhân. “Không thành công thì thành nhân” hay “chớ đem thành bại luận anh hùng”cũng là những điều đẹp đẽ nhưng đó cũng lại chính là bi kịch của lịch sử.

Trung quốc xâm lược: cơ hội vàng cho dân tộc và đảng Cộng sản Việt Nam.

 

Với Trung quốc, ông cha ta đã không hề khiếp sợ và đã chống xâm lược, giữ được đất nước qua hàng ngàn năm chiến đấu. Ai học lịch sử mà không biết và tự hào với những chiến công hiển hách của người xưa. Hai Bà Trưng đánh quân Nam Hán, vua tôi nhà Lý đánh Tống, quân dân nhà Trần ba lần đại phá quân Nguyên, Lê Lợi – Nguyễn Trãi và nghĩa quân trường kỳ kháng chiến đánh đuổi giặc Minh, Quang Trung Nguyễn Huệ với những đội quân thần tốc đánh bại giặc Thanh…

 

Nước ta là một nước nhỏ nhưng đã đánh thắng những đoàn quân xâm lược hùng mạnh của phương bắc nhờ sự đoàn kết, lòng dũng cảm của toàn dân, cùng với trí tuệ và khí phách anh hùng của những người lãnh đạo. Ta cảm phục biết bao khi ôn lại những hành động và lời của người xưa.

 

Nói một cách hài hước, đó là tại ông Lê Dũng, phát ngôn nhân của chính phủ. Ông tuyên bố liên quan đến việc biểu tình: “Đây là việc làm tự phát chưa được phép của các cơ quan chức năng Việt Nam. Khi các vụ việc trên xảy ra, các lực lượng bảo vệ của Việt Nam đã kịp thời có mặt, giải thích và yêu cầu bà con chấm dứt việc làm này."

 

Một tuyên bố tệ hại, phản chính trị nhất,  thể hiện chủ trương và khí phách của nhà cầm quyền hiện tại: Kìm hãm nhân dân trong sự phục tùng nô lệ và run sợ trước thế lực của bá quyền Trung Quốc. Đó không phải là đường lối ngoại giao khôn ngoan, chính là sự khiếp nhược tự đưa mình vào thế yếu. Đó là không dựa vào sức mạnh của nhân dân. Đó là nghi ngờ lòng yêu nước và lo sợ trước tinh thần phản kháng của nhân dân.

Biểu tình chống xâm lược phải xin phép. Tự cổ chí kim mới có một nhà nước tuyên bố như thế.

 

Trong thời đại ngày nay, chống xâm lược không nhất thiết phải bằng vũ khí chiến tranh. “Đường vinh quang xây xác quân thù” chỉ là một con đường bất đắc dĩ, vì xác quân ta hẳn nhiều hơn xác quân thù và xác quân thù cũng là xác nhân dân một quốc gia khác bị đẩy ra cầm súng.

 

Với tinh thần nhân bản và khát vọng hòa bình của toàn nhân loại, không có dân tộc nào được quyền hưởng hạnh phúc trên xương máu và lầm than của các dân tộc khác. Tài nguyên thiên nhiên là tài sản chung của toàn nhân loại. Chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, tư tưởng bá quyền nước lớn là những gì xấu xa, rừng rú, không phù hợp với con người văn minh. Hận thù dân tộc chỉ là di sản của những thời kỳ man dã.

 

Ngày hôm nay chống xâm lược trước hết phải bằng trí tuệ, bằng những biện pháp tư tưởng, ngoại giao, kinh tế, chính trị trên nền tảng ý chí và sự đồng thuận của toàn dân chứ không phải bằng những biện pháp cực đoan, bạo động, xuất phát từ hận thù dân tộc. Dĩ nhiên cuối cùng khi không thể làm khác phải cầm lấy vũ khí, nhưng trước đó phải làm cho các dân tộc ý thức được tinh thần nhân bản và hòa bình để ngăn chặn các chính quyền và những thế lực hắc ám giành quyền lực và quyền lợi bằng máu của nhân dân dưới những ngôn từ hoa mỹ và bịp bợm.

 

Chim

Chim và  tiếng hót.

 

Tiếng hót bay trên trời xanh

Trong gió ngàn

Lảnh lót

 

Tiếng hót trong bụi mận gai

Máu tứa buồng tim

Mở toang lồng ngực

 

Tiếng hót trong lồng

Ấm ức

Nghẹn thở

 

Ai vui tai tiếng hót trong lồng

Ta suốt đời

Muốn đập tan mọi chiếc lồng thô bỉ

Dù có thứ

Gọi là lồng son.

 

Đà Lạt 26/1/08

 

Giao lưu, hội nhập văn học Việt Nam trong và ngoài nước

 

Gặp gỡ, trao đổi, chia sẻ, đối thoại, tranh luận nhất định sẽ làm người ta hiểu thêm, thông cảm nhau, đi đến đồng thuận, kết tình thân, chung sức cho tương lai. Lẽ nào những điều này là vô ích? Lẽ nào lại không“được”gì?

 

Hội nhập văn học Việt Nam trong và ngoài nước nhất định là cần thiết. Văn học Việt Nam bao gồm toàn bộ tác phẩm văn học của người Việt Nam bằng tiếng Việt, bất kể ở đâu, trong hay ngoài nước, bất kể thời đại nào, ngay cả những sáng tác viết bằng chữ Hán ngày xưa, do hoàn cảnh lịch sử đặc biệt của dân tộc, đã được đương nhiên thừa nhận. Trên nguyên tắc, đồng thời cũng là nguyện vọng chính đáng của người đọc, người Việt Nam có quyền đọc bất cứ tác phẩm nào trong nền văn học Việt Nam.

 

Thế nhưng hiện nay người trong nước không được đọc hầu hết tác phẩm văn học của miền Nam trước 1975 và của hải ngoại. Ngược lại, ở hải ngoại, mấy ai được đọc tác phẩm của tác giả trong nước. Đó là một sự thiếu sót, phi lý, què quặt. Làm sao sách dịch của các tác giả nước ngoài tràn ngập mà sách của người Việt lại bị cấm? Nếu văn chương là tâm tình, là suy tưởng, là cảnh đời, là hoài niệm mang chứa diện mạo và nội tâm của con người, nhưng cùng là người Việt đồng bào, không đọc nhau làm sao hiểu được nhau, nói chi đến hòa giải hòa hợp. Chưa kể do đặc điểm của lịch sử trong giai đoạn đất nước phân ly, còn biết bao điều trong nội dung các tác phẩm này cần được nhìn nhận lại, trong bao dung và tỉnh thức. Chế độ này có thể ngăn cấm trong một thời kỳ nào đó nhưng chế độ nào cũng sẽ thay đổi, mất đi và văn học, dân tộc sẽ mãi trường tồn.

 

Nghe nói đến “hòa giải hòa hợp”, “giao lưu, hội nhập trong ngoài”, một số người chỉ coi đó là chiêu bài của cộng sản. Đúng là đã có những chiêu bài lừa bịp nhưng không phải tất cả đều là chiêu bài và tất cả đều là độc quyền của người cộng sản. Qua kinh nghiệm lịch sử, cho đến nay, người dân đã có thể phân biệt cái gì đúng, cái gì giả và cần làm gì để cho cái đúng được thực hiện.

 

Chân lý cũng rất tương đối. Chỉ có thực tiễn kiểm nghiệm chân lý chứ không ai có thể tự mình tuyên bố chân lý.

 

Mỗi người sống theo nguyên tắc của mình nhưng không nên, không thể áp đặt, buộc người khác phải làm theo, dù chỉ trên lý luận. Chỉ có những chế độ độc tài toàn trị làm như thế. Và rõ ràng điều đó chẳng hay ho gì.

 

“Đáy địa ngục được lót bằng những thiện chí tốt đẹp”. Nhiều trường hợp đã là như thế, nhưng nếu không có thiện chí, bao dung, chia sẻ và yêu thương, cả thế giới này chắc chắn đã trở thành địa ngục.

 Chỉ tranh cãi trên câu chữ, bắt bẻ tiểu tiết, cuộc tranh luận sẽ bất tận và không có kết quả gì nên tôi nghĩ, tốt hơn để cho cuộc sống trả lời.

 

Hầu như mọi người cầm bút đều biết và hiểu giá trị của câu nói nổi tiếng: “Mọi lý thuyết đều là màu xám, chỉ có cây đời mãi mãi xanh tươi”.

 

Từ “Bi kịch Hoàng Phủ Ngọc Tường” đến “Hội chứng chính nghĩa” và “Bi kịch của chúng ta”

 

Trong cuộc chiến Việt Nam, hai miền Nam Bắc đều nhân danh chính nghĩa và cho đến tận hôm nay, phần lớn những người trong cuộc đều giữ vững niềm tin đó, cho nên, những người cộng sản, hằng năm vào những dịp kỷ niệm, đều tổ chức ôn lại và đề cao chiến thắng, trong khi những người thuộc phía Việt Nam Cộng hòa ở hải ngoại vẫn tổ chức ngày “quốc hận” và tố cáo tội ác của cộng sản.

 

Dù đứng trên quan điểm nào, phần đông mọi người đều phải thừa nhận “chiến tranh là tội ác”. Trong nhiều loại tội ác của chiến tranh, việc giết thường dân là tội ác tàn bạo mang tính phi nhân cao độ nhất và đối với hai phía, thảm sát Tết Mậu Thân và thảm sát Mỹ Lai là hai vụ điển hình trong chiến tranh Việt Nam, với chỗ khác biệt là vụ Mỹ Lai do người Mỹ, đồng minh của miền Nam, trực tiếp gây ra. Tuy nhiên người cộng sản không hề nhắc đến “thảm sát Tết Mậu Thân” và người Việt Nam Cộng hòa cũng không mấy khi nhắc đến “thảm sát Mỹ Lai”. Đó cũng là một biểu hiện của “hội chứng chính nghĩa”.

 

Lịch sử Việt Nam cận đại là một cơn mê cuồng, một mớ bùng nhùng không dễ gì phân định cho rạch ròi. Chiến tranh Việt Nam bắt nguồn từ đâu? Nếu tính xa phải kể đến từ chủ nghĩa Marx, chủ nghĩa cộng sản ở Liên Xô, Trung Quốc, chủ nghĩa tư bản ở các nước phương Tây, cuộc chiến tranh lạnh của thế giới; từ việc đi tìm giải pháp cho dân tộc của những người Việt Nam yêu nước, kết quả của cuộc Thế chiến 2, sự suy tàn của đế quốc thực dân Pháp, sự trỗi dậy của chủ nghĩa thực dân mới, sự thỏa hiệp của các cường quốc trên bàn cờ thế giới; từ việc đấu tranh giành chính quyền của các đảng phái ở Việt Nam, sự vận hành của hai chế độ ở hai miền Nam - Bắc… Bằng một lát cắt từ đâu trong thời gian gần thì nguyên nhân trực tiếp của chiến tranh sẽ xuất phát ở đó.

Phần lớn người Việt Nam có liên hệ đến cuộc chiến còn sống hiện nay sinh ra và lớn lên trong dòng cuốn đó. Những người có lý tưởng phải chọn lựa cho mình một con đường trong thế trận thiên la địa võng đã thành hình. Và họ đã đứng về một phía chiến tuyến. Những người không có lý tưởng hay không muốn lựa chọn cũng phải chọn lựa hay bị lựa chọn. Không ai có thể đứng bên lề lịch sử. Và cuộc chiến cuốn mọi người vào dòng xoáy khốc liệt của nó, hun đúc nên chính nghĩa của phe mình và của từng cá nhân từ một bên chiến trận. Nó giúp cho người ta có thể sống, chiến đấu, tồn tại trong hận thù và biện minh cho những việc mình làm, phê phán phe đối địch.

 

Con sông Bến Hải này có phải là một vết chém ngang lưng tổ quốc chia đôi đất nước từ khi có Hiệp định Genève, bất kể nội dung nó nói gì hay do ai ký?

 

Trịnh Công Sơn là một nghệ sĩ, một trí thức. Trong chiến tranh Việt Nam ông có lập trường phản chiến và dưới hai chế độ ông có một số sáng tác “theo thời” để có thể tồn tại. Điều đó không hay lắm nhưng chưa đến mức tệ hại, bán rẻ nhân cách để có thể quy là văn nô, bồi bút. Nếu nói là văn nô, bồi bút, thì dưới hai chế độ trước đây và cả hiện nay, vô số người còn “xuất sắc” hơn Trịnh Công Sơn. Trong dòng xoáy kinh hoàng của cuộc chiến và sự vận hành tàn bạo của các chế độ chính trị, giữ được thái độ như Trịnh Công Sơn, dĩ nhiên chưa hoàn hảo, cũng đã là một điều đáng quý. Có thể vì thế mà hiện nay, đông đảo người hâm mộ nhạc Trịnh, cả trong và ngoài nước, không quan tâm đến khía cạnh đó mà chỉ quý trọng và ngưỡng mộ tài năng của ông qua những bản nhạc về tình yêu và phận người có ma lực phi thường và sức sống vượt không gian, thời gian.

 

Trong một bài hát, Trịnh Công Sơn viết: “Chúa đã bỏ loài người, Phật đã bỏ loài người”. Tôi nghĩ khác. Không phải Chúa, Phật đã bỏ loài người mà chính loài người bỏ Chúa, Phật. Năm nào trong dịp lễ Phục sinh người ta cũng ôn lại câu chuyện Chúa Jésus bị hành hình tàn khốc trên cây thánh giá nhưng đã cầu nguyện xin tha thứ cho những kẻ giết hại mình vì những người đó không biết mình làm gì. Phật đã dạy hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi và “quay đầu là bờ”. Con người mấy ai học được bài học tha thứ và tỉnh thức dù họ tự nhận theo Chúa, theo Phật và không ngừng đọc kinh, cầu nguyện.

 

Bài học tâm linh không hề xa vời mà chính là một thái độ sống hàng ngày góp phần giải quyết những nan đề của cuộc sống. Trong lĩnh vực chính trị, bài học này cũng không phù phiếm nhưng dĩ nhiên không phải vì thế mà thủ tiêu cuộc đấu tranh với những chính quyền độc tài toàn trị gây tội ác và coi nhân dân như nô lệ. Tuy nhiên nếu lẫn lộn, đánh đồng mọi thứ thì chỉ rơi vào bi kịch của cuộc hỗn mang lịch sử.

 

Từ Lạc đường, Phản tỉnh đến những Lã Bất Vy…

 

Trong cuộc chiến tranh trước đây, mọi người ở hai miền Nam-Bắc đều đã lựa chọn hay bị lựa chọn, không ai thoát khỏi dòng cuốn của lịch sử. Sau 1975 dù mọi chuyện đã ngã ngũ, khi nhìn lại, nhiều người vẫn còn nhìn nhận khác nhau vì  Miền Bắc đã thắng trận, thống nhất đất nước nhưng lại xây dựng một chế độ và xã hội quá tệ hại. Những người thuộc Việt Nam Cộng Hòa cho rằng dù thất bại, mình vẫn có chính nghĩa vì đã chiến đấu bảo vệ Miền Nam, một chế độ xã hội có tự do dân chủ hơn hiện nay. Những người thuộc thành phần thứ ba, theo Mặt Trận Giải Phóng và ngay cả một số người ở Miền Bắc cũng cho rằng mình bị lừa bịp, phản bội. Nếu sau 1975, Việt Nam trở thành một quốc gia phát triển, có dân chủ tự do, nhận thức của mọi người sẽ không chia rẽ đến thế. Nhưng lịch sử không có chữ “Nếu”.

 

Về phương diện cá nhân, mọi người có nhiều chọn lựa. Hoặc làm một kẻ lãng du trong cuộc đời này, không cần đến ý niệm quốc gia. Hoặc làm những việc từ thiện, tuy nhỏ nhoi, nhưng có thể cứu vớt được một đôi người. Hoặc chạy theo cuộc sống và hạnh phúc cá nhân, không đếm xỉa đến số phận dân tộc. Hoặc tham dự vào cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ… Nhưng đối với đất nước vấn đề không đơn giản, trong đó có hai việc trọng yếu phải giải quyết là nâng cao dân trí và xây dựng chính quyền. Dân trí có nâng cao mới có thể nhận thức được tình hình, quyền hạn và trách nhiệm trong làm chủ đất nước, xây dựng được một chính quyền có đủ trí tuệ, tài năng, bản lĩnh và đạo đức để đương đầu với những thách thức của thời đại và mang lại hạnh phúc cho nhân dân. Đó không gì khác hơn là cuộc đấu tranh, vận động dân chủ hóa đất nước. Trong hoàn cảnh hiện nay, đây là cả một cuộc phấn đấu đầy gian nan.

 

Trong giai đoạn này, và có lẽ bất cứ lúc nào, mọi người cũng đều phải lựa chọn hay bị chọn lựa, tuy mức độ gay gắt khác nhau. Và sự lựa chọn “dấn thân” lúc này cũng không dễ dàng chút nào.

 

Sợ hãi và phản kháng.

 

Nhiều người cho rằng chế độ cộng sản ở Việt Nam, hiện nay biến tướng thành độc tài toàn trị, đã cai trị nhân dân bằng nỗi sợ hãi nhưng người ta cũng ngạc nhiên tại sao nỗi sợ hãi này có thể kéo dài đến thế. Nhân dân Việt Nam vốn tự hào rất anh hùng trong chống ngoại xâm, điều lịch sử đã khẳng định chứ không phải tự tôn vô lối, nhưng lại hầu như tê liệt trước nạn nội xâm, trước sự áp bức đè đầu cởi cổ của một thiểu số tập đoàn thống trị. Trước tình hình đó, thất vọng hay nguyền rủa không ích gì mà cần phải tìm ra căn nguyên của vấn đề để có được lời giải cho một vấn nạn lớn của dân tộc.

 

Từ khi cả nước quy về một mối, hai miền cùng dưới một chế độ, người dân Miền Nam không có “bề dày sợ hãi” lâu dài như dân Miền Bắc, nhưng lại có “cường độ sợ hãi” nặng nề hơn, vì thuộc phe chiến bại, dính líu đến “ngụy quân ngụy quyền”. Do đó, tuy thời gian trước, sống trong chế độ tương đối có tự do dân chủ, người dân có tinh thần phản kháng và đã được tập dượt,  rèn luyện qua những cuộc đấu tranh chống chính quyền, đến giai đoạn này cũng trở nên liệt kháng, không khác gì người dân Miền Bắc. Thống nhất đất nước đã đi kèm theo với thống nhất nỗi sợ dưới chế độ độc tài toàn trị.

 

Qua phân tích trên đây, ta có thể thấy tại sao sự liệt kháng vì sợ hãi lại có thể kéo dài đến thế. Sự sợ hãi càng lớn, càng lâu thì chế độ độc tài càng được củng cố vì không có ai dám  chống lại. Tuy nhiên, niềm hi vọng của dân tộc vẫn còn vì tinh thần phản kháng trong nhân dân chưa bị triệt tiêu hoàn toàn mà đã từng bước hồi sinh, tuy có chậm chạp. Các tầng lớp nhân dân, từ trí thức, văn nghệ sĩ, chức sắc các tôn giáo, các “dân oan” bị cướp nhà cướp đất, sinh viên và bộ phận trí thức trẻ, cho đến các cán bộ, đảng viên có tư tưởng cấp tiến trong guồng máy đã dần dần bộc lộ sự phản kháng đối với chế độ độc tài toàn trị, ngày càng mạnh mẽ hơn.

 

 

Sức mạnh tinh thần của một dân tộc đã bị chế độ độc tài toàn trị làm cho suy yếu trong một thời gian dài nên sự hồi phục cũng cần có thời gian và những biện pháp thích hợp. Chỉ đến lúc dân tộc thoát ra khỏi sợ hãi, biết và dám phản kháng trước cái xấu, cái ác, trước bất công áp bức, lúc đó dân tộc mới có thể xóa bỏ chế độ độc tài toàn trị, sống như những con người tự do và xây dựng được một đất nước văn minh trong cộng đồng nhân loại.

 

Tổ chức và cuộc đấu tranh, vận động dân chủ hóa đất nước.

 

Trong mọi cuộc tranh đấu nói chung, tổ chức là vấn đề quan trọng hàng đầu. Ai cũng biết điều đó. Qua lịch sử đấu tranh gian khổ của mình từ những ngày đầu, những người cộng sản hiểu rõ và có kinh nghiệm về vấn đề này hơn bất cứ lực lượng nào. Khẩu hiệu của họ nói rất rõ điều đó: “Tổ chức, tổ chức và tổ chức”. Họ lại càng có kinh nghiệm trong việc đánh phá các tổ chức chống lại họ và làm theo kiểu “phá vỡ từ trong trứng nước”, nhất là khi họ đã nắm được chính quyền. Do đó vấn đề tổ chức trong cuộc đấu tranh, vận động dân chủ hóa đất nước ở Việt Nam hiện nay là việc cực kỳ khó khăn.

 

Không thể khắc phục được những khó khăn khách quan nhưng vẫn có thể vượt qua khó khăn chủ quan. Không thể thống nhất mọi tổ chức trong và ngoài nước nhưng có thể hình thành một liên minh, dù là lỏng lẻo. Từng tổ chức cứ phát huy thế mạnh của mình, hỗ trợ cho nhau, tránh việc đả kích nhau và từng bước trao đổi, thảo luận để đi đến thống nhất mục tiêu và phương pháp là một tiến trình cần thiết và cần suy nghĩ. Nếu không vì mục đích chung, chỉ muốn giữ vị trí, bản sắc, quan điểm riêng của mình làm sao có thể có được sức mạnh cần thiết khi đối đầu với một chế độ độc tài toàn trị phải thừa nhận là rất hùng mạnh và cực kỳ tàn bạo. “Biết người biết ta, trăm trận trăm thắng” là một châm ngôn không bao giờ cũ.

 

Nhiều người mơ đến cách mạng xanh, cách mạng nhung hay một sự bùng nổ nào đấy nhưng bùng nổ thực ra chỉ là đỉnh điểm của một quá trình vận động lâu dài, tiệm tiến, hội đủ nhiều điều kiện, như giọt nước làm tràn ly, chứ không phải tự dưng mà có. Và giả thử khi có bùng nổ, tổ chức nào có đủ năng lực để nắm được tình thế khi không có lực lượng trong tay? Khi bước đầu thực hiện dân chủ đa nguyên, tổ chức nào có đủ sức đương đầu với đảng cộng sản trong một cuộc bầu cử dân chủ tự do?

 

Hòa giải hòa hợp(?!)

 

Trở lại với cụm từ “hòa giải hòa hợp”. Rõ ràng đây là một từ có nội dung đẹp, tốt lành, có thể sử dụng trong nhiều trường hợp, nhiều lãnh vực. Thế nhưng bây giờ nó trở thành một từ bị nhiều người hoài nghi, thậm chí căm ghét. Nguyên nhân là người ta cho rằng đảng cộng sản đã độc chiếm từ này với một nội hàm xấu xa che đậy nhiều âm mưu thủ đoạn và nó chẳng khác gì là một cái bẫy giương ra cho những người chống cộng.

 

Định nghĩa thế nào là hòa giải hòa hợp có lẽ quá rõ ràng và ít ai tranh cãi. Vấn đề là ai có nhu cầu hòa giải hòa hợp?

 

Nói tổng quát là hòa giải hòa hợp dân tộc, nghĩa là giữa mọi thành phần dân tộc, trong đó có những người cộng sản và người Việt ở nước ngoài. Nhưng vì những người cộng sản đã trở thành giai cấp thống trị nên trước tiên là hòa giải hòa hợp giữa các thành phần dân tộc không có người cộng sản, nghĩa là những người bị trị. Đây là tuyệt đại đa số nhân dân nhưng lâu nay đã bị chia rẽ nên mất đi sức mạnh. Trước đây trong lịch sử, khi có ngoại xâm, chỉ có toàn dân đoàn kết một lòng mới có thể chống lại địch, bây giờ là nội xâm, một cách nói, nếu nhân dân không đoàn kết, cũng không thể nào chống lại được chế độ độc tài toàn trị.

 

Không thể hòa giải với kẻ ác hay với giai cấp thống trị mà chỉ có thể hòa giải với kẻ ác đã hoàn lương hay kẻ thống trị đã từ bỏ lòng tham quyền lực. Nhưng muốn thế phải có cách cảm hóa kẻ ác và chuyển hóa kẻ thống trị. Cách duy nhất là có sức mạnh và có chính nghĩa. Hiện nay nhân dân Việt Nam có chính nghĩa nhưng chưa đủ sức mạnh vì bị chia rẽ, vì bị nỗi sợ khống chế. Có thể vượt qua tình trạng này nếu nâng cao dân trí, nâng cao nhận thức về dân chủ và có được sự hòa giải hòa hợp giữa các thành phần dân tộc trong mục đích chung đấu tranh cho tự do dân chủ.

 

Những người cộng sản quá khôn ngoan khi đưa ra chiêu bài hòa giải hòa hợp. Nó có hiệu quả lôi cuốn những người có thiện chí hay nhẹ dạ, đồng thời cũng làm phân hóa những người chống đối. Với sự chống đối của nhiều người Việt ở hải ngoại, những người cộng sản mặc nhiên  độc quyền về hòa giải hòa hợp. Thực ra không phải tán thành hòa giải hòa hợp mà chính là dị ứng, chống hòa giải hòa hợp mới rơi vào bẫy của những người cộng sản, tự làm cho mình yếu đi. Một phương thức lợi hại lại đem trao cho đối phương độc quyền sử dụng có phải là điều phi lý? Tại sao không tương kế tựu kế, dùng hòa giải hòa hợp như một biện pháp để củng cố sức mạnh dân tộc và như một phương thức diễn biến hòa bình trên mọi lãnh vực. Chính diễn biến hòa bình là một trong những điều người cộng sản lo sợ nhất chứ không phải là những lời phê phán, tố cáo dù rầm rộ tới đâu.

 

Đại bộ phận nhân dân có thể chống lại sự thống trị của một thiểu số người không? Câu hỏi lịch sử đó có lời đáp thế nào tùy thuộc vào sự tỉnh táo và nhận thức của nhân dân chứ không ai khác. Đó cũng chính là số phận của đất nước.


Bài học lớn nhất khi nhìn lại cuộc chiến tranh Vi
ệt Nam không phải là chiến lược, chiến thuật mà phải chăng là dù ai thắng, ai thua thì nhân dân đều là kẻ chiến bại. Nếu chiến tranh là lỗi lầm của lịch sử thì trách nhiệm của trí thức hôm nay là gì? Trí thức để làm gì nếu không góp phần mang lại hạnh phúc cho nhân dân và phồn vinh cho đất nước? Bài học về quá khứ để làm gì nếu không giúp xây dựng tốt hơn hiện tại và tương lai?

Vấn đề quả thực không đơn giản. Phân tích về quá khứ là việc phải làm, và như Phùng Nguyễn nói rất đúng, không được đồng lõa với cái ác, phải công bằng đối với mọi phía nhưng quả thật khó khăn khi phân tích quá khứ mà không gây ra xung đột mới cho hôm nay. Cách làm tốt nhất phải chăng là phân tích, khêu gợi phản tỉnh; có thể phê phán, nhưng không kết án, trừ những trường hợp hiển nhiên là tội ác; đứng trên lập trường dân tộc và nhân bản chứ không trên một phía của chiến tranh? Ở đây ranh giới rất mong manh và người ta thường dễ vượt qua dù đã có chủ ý chỉ để truy tìm chân lý. Ở đây có lẽ phản tỉnh tốt hơn truy bức, cảm thông và bao dung tốt hơn lên án. Ai có đủ tư cách đứng trên cao để làm quan tòa trong giai đoạn hỗn mang máu, nước mắt và hận thù kinh hoàng nhất của lịch sử, nhất là đối với người trong cuộc?

 

. Cuộc xung đột giữa Công giáo và nhà nước cộng sản trong bối cảnh phong trào dân chủ Việt Nam.

 

Cuộc xung đột giữa Công giáo và nhà nước trong vụ Thái Hà và Tòa Khâm Sứ cho thấy một bước ngoặt trong cuộc đối đầu giữa Công giáo và cộng sản. Lần đầu tiên, Công giáo đã công khai đối kháng chính quyền tại một nơi nhạy cảm là thủ đô Hà Nội. Cuộc đối kháng có quy mô khá lớn với sự tham dự của hàng chục ngàn giáo dân tại chỗ và sự hiệp thông ở nhiều địa phương khác. Tính chất là công khai, gần như thách thức, mặt đối mặt, với các lực lượng đàn áp ở cơ sở và với cả các quan chức cao nhất của Hà Nội và chính phủ. Diễn biến của sự việc được thông tin hàng ngày không những trên mạng, báo chí nước ngoài mà còn cả trên các phương tiện truyền thông của nhà nước, một việc chưa hề có trước đây, dĩ nhiên với những quan điểm trái ngược nhau. Sự việc đã vượt khỏi địa phương, mang tầm vóc quốc gia và quốc tế khi người Việt ở hải ngoại và các nhân vật chính trị, các tổ chức phi chính phủ của nhiều nước tham gia lên tiếng.

 

Từ khi cộng sản cai trị ở miền Bắc vào năm 1954 và cả nước từ 1975, Công giáo cũng như các tôn giáo khác bị trấn áp, chèn ép, tước đoạt và hầu như chỉ chịu trận, không có khả năng phản kháng. Bây giờ tình hình đã khác. Sự phản kháng của Công giáo bùng phát không phải đột biến mà là giọt nước làm tràn ly của những tích tụ lâu ngày nhưng không bộc phát vô tổ chức mà được điều hướng rất khôn ngoan.

 

Cuộc xung đột giữa nhà nước và Công giáo sẽ còn tiếp diễn. Mức độ như thế nào còn tùy ở thái độ của mỗi bên. Tuy nhiên điều tốt nhất là hai bên đều phải tự kềm chế vì nếu hai bên đụng đầu thì cả hai đều bị thương tổn và cũng không có lợi gì cho đất nước. Vấn đề là không đẩy đối phương vào chỗ không có lối thoát, không có cách giải quyết và mọi việc nên giải quyết qua trao đổi, đối thoại chân thành và thẳng thắn.

 

Đối với Công giáo, nhà đất chỉ là một vấn đề, tuy khó nhưng vẫn có thể giải quyết được vì thực ra Công giáo thấy không thể hay không tiện đòi lại tất cả nhà đất đã bị tước đoạt. Như HĐGM đã trình bày, Công giáo không đòi đất mà đòi công lý, chính là tự do dân chủ và nhân quyền, không chỉ cho tôn giáo mình mà cho cả dân tộc. Mục tiêu đó rất dễ được sự đồng tình của nhiều tầng lớp nhân dân mà trước đây, do đặc thù của lịch sử Công giáo, phần nào Công giáo đã có sự cách biệt hay nghi kỵ đối với các thành phần khác của dân tộc. Phương thức đấu tranh bất bạo động cũng là phương thức mà hầu như tất cả những người đấu tranh chân chính và khôn ngoan cho dân chủ đều đồng thuận. Riêng Công giáo lại có thế mạnh ở số lượng tín đồ khá đông đảo và thuần nhất, dễ huy động so với các lực lượng dân chủ khác. Mục tiêu và phương thức đấu tranh của Công giáo đã hòa nhập với mục tiêu và phương pháp của phong trào dân chủ toàn dân tộc, làm tăng thêm sức mạnh cho lực lượng dân chủ trong cuộc đấu tranh với chế độ độc tài toàn trị.

 

 

Căn nguyên sự đối kháng giữa nhân dân và nhà nước độc tài toàn trị vẫn còn đó và luôn luôn âm ỷ. Nhà nước chỉ có thể tồn tại khi chuyển mạnh sang dân chủ hóa đất nước, thuận chiều với nguyện vọng bức thiết của toàn thể nhân dân. Nếu không làm được như thế, không sớm thì muộn, chế độ độc tài toàn trị nhất định sẽ sụp đổ.

 

Vấn đề Hoàng Sa - Trường Sa và cuộc vận động dân chủ hóa VN.

 

Khi nhắc đến vấn đề Hoàng Sa – Trường Sa, mọi người thường nghĩ ngay đến vấn đề chủ quyền lãnh thổ, độc lập dân tộc. Đúng như thế vì chúng ta vẫn coi Hoàng Sa – Trường Sa là lãnh thổ của mình, đang bị ngoại bang xâm chiếm. Tuy nhiên, để giải quyết vấn đề này, cơ bản lại là vấn đề dân chủ. Điều này không hề phi lý hay mâu thuẫn.

 

Hoàng Sa bị Trung Quốc xâm lăng từ 1974. Trường Sa hiện nay, ngoài Việt Nam, có đến 5 quốc gia khác đang chiếm đóng, mỗi nước một vài đảo là Trung Quốc, Đài Loan, Philippine, Malaisia, Brunei. Quốc gia nào cũng tuyên bố đây là lãnh thổ của mình. Trong tình hình đó nếu Việt Nam muốn lấy lại hai quần đảo này, rõ ràng không phải là vấn đề vài ba năm, mà là chuyện lâu dài, thậm chí không bao giờ thu hồi được mà chỉ có thể giải quyết bằng một thỏa thuận qua thương lượng nào đó.

 

Chúng ta không nên ảo tưởng. Có thể nào chúng ta buộc Trung Quốc trao trả lại Hoàng Sa? Làm thế nào để các quốc gia khác rút ra khỏi Trường Sa? Bằng quân sự? Bằng ngoại giao? Bằng cách đưa ra tòa án quốc tế? Dĩ nhiên khi coi đây là lãnh thổ của mình, ta phải tìm cách lấy lại nhưng phải nhìn nhận vấn đề một cách thực tiễn chứ hô khẩu hiệu suông không ích gì.

 

Định mệnh đã đặt Việt Nam bên cạnh một Trung Quốc to lớn luôn luôn có tham vọng làm “bá chủ thiên hạ” và các nước láng giềng đã khốn khổ vì tham vọng này. Việt Nam đã chiến đấu với kẻ khổng lồ qua hàng ngàn năm lịch sử để tồn tại và giữ vững nền độc lập. Đây là kỳ tích lớn nhất trong mọi kỳ tích của dân tộc. Người Việt Nam nào cũng có quyền tự hào về điều này. Nhưng bây giờ lại một lần nữa Việt Nam đứng trước âm mưu và hành động xâm lăng của Trung Quốc, trong hoàn cảnh của một thế giới mới văn minh liên thông và rộng lớn hơn bối cảnh ngày trước. Chúng ta cần ôn lại bài học lịch sử và vận dụng trong hoàn cảnh mới để có thể bảo toàn đất nước.

 

Mọi người Việt Nam có học đều biết những trang sử oai hùng và bi thương trong cuộc đối đầu của Việt Nam với Trung Quốc. Dưới thời bắc thuộc, Hai Bà Trưng chống quân Hán, Bà Triệu đánh Đông Ngô, những nữ lưu anh hùng đầu tiên đã cởi voi, phất cờ tập hợp lực lượng các bộ tộc Việt làm cho bọn đô hộ kinh hoàng, dù cuộc chiến đấu chỉ ngắn ngủi vài ba năm. Rồi Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán, mở đầu thời kỳ độc lập. Nhiều triều đại tiếp theo vẫn giữ vững bờ cõi dù liên tục bị xâm lăng. Lý Thường Kiệt phá Tống bình Chiêm. Quân dân nhà Trần với danh tướng Trần Hưng Đạo ba lần đánh bại giặc Nguyên Mông. Lê Lợi -  Nguyễn Trãi cùng với nghĩa quân Lam Sơn đuổi giặc Minh. Quang Trung Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh.

 

Cách nói ngắn gọn về những chiến công của dân tộc Việt bao gồm hai yếu tố: người lãnh đạo sáng suốt và nhân dân kiên cường. Các vị vua, các danh tướng đã làm nên kỳ tích là những con người yêu nước, thông minh, tài ba, biết dựa vào dân, được dân ủng hộ, có sách lược đúng đắn khi tiến hành cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc. Nhân dân không ngại chịu đựng gian khổ, không tiếc máu xương, đoàn kết chung quanh người lãnh đạo của mình, tạo nên sức mạnh phi thường có thể đánh bại kẻ thù giảo quyệt, đông đảo hơn mình rất nhiều lần. Thiếu một trong hai yếu tố đó, dân tộc Việt Nam nhất định thất bại trước kẻ thù, điều đã diễn ra trong một số giai đoạn lịch sử.

 

Nhân dân không đoàn kết, bị chia rẽ, không là chỗ dựa của chính quyền; chính quyền không được lòng dân, đàn áp nhân dân, dựa vào ngoại bang thì không những không bảo vệ được tổ quốc mà còn đứng trước nguy cơ mất nước. Đó là lời cảnh báo không cường điệu chút nào mà chính là thực tiễn Việt Nam đang đối đầu.

 

Mùa xuân nào cho Việt Nam?

 

Mùa xuân là mùa đẹp của đất trời, khí hậu mát lành, cây cối đâm chồi nẩy lộc, chim hót hoa cười.

Con người còn cố gắng làm cho mùa xuân đẹp hơn. Điều chỉnh sinh học để thêm hoa nở. Mở hội hoa xuân tập hợp ngàn hoa khoe sắc. Những phố hoa, đường hoa bỗng rực lên một sớm vào xuân.

Rồi bao nhiêu chương trình, hoạt động tập trung cho ngày xuân: Kích cầu, khuyến mãi, quảng cáo rầm rộ trên mọi phương tiện truyền thông, người người tấp nập mua sắm, vui chơi hội hè.

Mùa xuân thiên nhiên vẫn tuần hoàn tự đến. Mùa xuân con người cố làm đẹp thêm. Nhưng mùa xuân đích thực của dân tộc Việt Nam ở đâu trong tháng năm này?

 

Mùa xuân là mùa của hi vọng, vậy thì Việt Nam hi vọng gì trong mùa xuân với toàn cảnh màu xám u ám này? Dân tộc Việt nam đã trải qua bao thăng trầm lịch sử và vẫn tồn tại cho đến ngày nay. Dù khó khăn chồng chất nhưng dân tộc vẫn không thôi hi vọng.

 

Người nông dân vẫn kiên gan cúi xuống trên ruộng đồng dù thiên tai chồng chất, nhân họa chập chùng. Người công nhân vẫn miệt mài trong công xưởng sản xuất. Trí thức vẫn nung nấu suy tư và tinh thần sáng tạo cho một ngày mai huy hoàng của đất nước. Tuổi trẻ dù bị vây bủa  bởi nền giáo dục nhồi sọ, cơm áo lợi danh nhưng nhiệt huyết và lý tưởng không dễ gì bị dập tắt. Người Việt ở nước ngoài vẫn không thôi đau đáu hoài vọng về quê hương. Những người đấu tranh cho dân chủ vẫn trăm phương ngàn kế tìm một lối thoát cho đất nước hướng về tự do. Tinh thần phản kháng của các tầng lớp nhân dân ngày một tăng lên khi sự áp bức càng lớn, ý thức dân chủ và dân trí ngày càng cao. Bộ máy thống trị ngày càng lúng túng và bộc lộ các nhược điểm không sao khắc phục dù bề ngoài vẫn hung hăng đàn áp. Xu thế chung của thời đại và áp lực của quốc tế trong thời đại kinh tế thị trường và phụ thuộc lẫn nhau thúc đẩy những người cầm quyền bảo thủ độc đoán phải chuyển đổi.

 

Hi vọng không phải chỉ là mơ ước suông mà là khát vọng làm nên đổi thay bằng hành động. Mùa xuân đích thực của Việt Nam, của toàn thể dân tộc Việt Nam còn xa, rất xa nhưng không phải là không bao giờ đến.

 

Từ triết lý đến cảm xúc, giải pháp cá nhân và con đường đi  lên của dân tộc.

 

Tâm trạng và lựa chọn của anh có thể cũng là của một số người Việt ở nước ngoài. Họ muốn trở về quê hương, muốn đóng góp cho đất nước. Họ đều thấy chế độ trong nước là độc tài và nhiều sai lầm nhưng khi không thể lật đổ nó thì tốt hơn vẫn có thể hợp tác và tìm cách chuyển hóa nó, hoặc ít ra cứ làm bất cứ việc gì có ích cho quê hương, dân tộc và cả bản thân, gia đình mà không góp phần củng cố chế độ độc tài. Đó là những người đã về nước đầu tư về kinh tế, hoạt động trên các lãnh vực văn hóa giáo dục hay từ thiện. Họ chấp nhận một số khó khăn hay ràng buộc do nhà nước gây ra, kể cả những điều tiếng thị phi từ đồng bào mình ở hải ngoại, để thực hiện được mục đích mà họ cho là chính đáng. (Thí dụ ngay như việc về nước làm từ thiện cũng có người phê phán, cho rằng đó là trách nhiệm của nhà nước phải lo cho dân, việc gì phải lo thay cho nhà nước trong khi các quan chức đang ra sức vơ vét, tham nhũng.) Ở đây tôi không nói đến những người hoàn toàn có động cơ cá nhân vị kỷ. Quả thật tâm trạng và ước vọng đó hoàn toàn chính đáng. Nhưng vấn đề và cũng chính là nan đề, là giải pháp nào để cho việc làm không có tác dụng ngược khi quyền lực hoàn toàn nằm trong tay nhà nước. Không lẽ không làm gì nhưng làm thì làm thế nào cho có hiệu quả? Câu hỏi đó đã làm rối lòng không ít người và trong đó tôi nghĩ có anh.

 

Anh Liêm thân mến,

            Tôi đã theo dõi bài viết và tâm trạng của anh từ triết lý đến cảm xúc trong một cuộc “lội ngược dòng” và  suy nghĩ về những lựa chọn cá nhân trên con đường đi lên của dân tộc. Những băn khoăn này không của riêng ai. Ai sẽ chỉ ra được con đường tốt nhất chứ không phải chỉ là những lời nguyền rủa hay những ước mơ không thành hiện thực? Xu thế tiếp cận, hợp tác với nhà cầm quyền trong nước, một xu thế có thực đối với một bộ phận người Việt ở nước ngoài  hiện nay , mà anh có thể là một trường hợp tiêu biểu, là sự “lội ngược dòng” đối với xu thế chống cộng chung ở hải ngoại sẽ có kết quả gì không? Điều đó tùy thuộc rất nhiều vào bản lĩnh, cái tâm trong sáng của người trong cuộc. Hợp tác phải có chủ đích rõ rệt, có đấu tranh, có điều kiện, trong một cuộc giằng co chắc chắn gay go với nhà nước toàn trị. Nếu bị mua chuộc hay vị kỷ, hèn nhát, e rằng đó sẽ chỉ là một thí nghiệm với kết cục bi thảm được thấy trước.

Đà Lạt 30.11.2009  (talawas 7/12/09)

 

. Bể (biển, đại dương) trí tuệ chứ không phải “bồn trí tuệ” !­­

 

Dù đứng trên quan điểm nào, phần lớn mọi người đều đồng ý về sự cần thiết và vai trò quan trọng của các nhóm trí thức tập hợp trong các think tank mà các nước Âu Mỹ đã thực hiện để làm vai trò tư vấn, phản biện cho nhà nước hay các công ty khi đề ra đường lối, chính sách, chiến lược phát triển.

            Tuy nhiên hình thái tổ chức think tank này thực tế chỉ thích hợp với các nước phát triển và có tự do dân chủ. Còn đối với Việt Nam hay các quốc gia có chế độ độc tài, đặc biệt khi nghiên cứu những vấn đề chính trị xã hội, hình thái tổ chức này xem ra   không phù hợp. Các “bồn trí tuệ”, “kho tư duy” hay “cỗ xe tăng tư tưởng” gì đó, các nhà nước có thể không thèm dùng tới, hạn chế  hay đập bỏ bất cứ lúc nào theo kiểu nhà nước Việt Nam đối với IDS.

 

Chung quanh vấn đề này, người ta cũng bàn nhiều đến vai trò của trí thức. Từ lâu, nhiều người đã cho rằng trong quá khứ Việt Nam không có một tầng lớp trí thức đúng nghĩa. Tầng lớp đó không có những phẩm chất đích thực của trí thức là độc lập, sáng tạo, đầu tàu cho phát triển mà chỉ là những kẻ học vẹt, nhai văn nhá chữ, chuyên phò chính thống. Nói như thế có lẽ không xa sự thực mấy khi nhìn lại lịch sử. Tuy nhiên cá nhân một số những trí thức ưu việt cũng đã là niềm kiêu hãnh của một thời kỳ lịch sử nào đó và là dấu chỉ của lương tâm dân tộc dù số phận của họ bi đát hay không được trọng dụng. Chu Văn An làm “Thất trảm sớ” khi về quy ẩn và không được nghe theo. Nguyễn Trãi là quân sư cho cuộc kháng chiến chống quân Minh với sách lược “tâm công”, “đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân mà thay cường bạo”, tác giả bản thiên cổ hùng văn “Bình ngô đại cáo” cuối cùng cũng bị tru di tam tộc. Nguyễn Bỉnh Khiêm gợi ý cho các chúa Nguyễn về “Hoành sơn nhất đái vạn đại dung thân”. La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp chỉ được Quang Trung hỏi ý kiến trong một vài việc. Nguyễn Du- thiên tài thơ nôm trác tuyệt cũng chỉ là phận “hàng thần lơ láo”, khi chết không buồn trăn trối…

             Nhưng kẻ sĩ Việt Nam không phải chỉ chừng đó. Nguyễn Công Trứ tuy lên voi xuống chó, bị triều đình nhà Nguyễn đố kỵ nhưng ai có công “vì nhân dân” hơn ông trong việc lập dinh điền, khai hoang tìm đất sống cho nông dân vùng Kim Sơn, Tiền Hải. Dù bất cứ hoàn cảnh nào, ông cũng giữ phương châm sống “cầm chính đạo để tịch tà cự bí, hồi cuồng lan nhi chướng bách xuyên” và “phù thế giáo một vài câu thanh nghị”, chống lại cái xấu, cái ác, khen chê rạch ròi. Cao Bá Quát dám “nghiêng cánh nhạn tếch mái rừng Nhan Khổng, cựa đuôi kình toan vượt bể Trình Chu”, khẳng định “Bình Dương Bồ Bản vô Nghiêu Thuấn, Mục Dã Minh Điền hữu Võ Thang”, đứng về phía “phản loạn”, dù có bị rơi đầu trên pháp trường. Còn phải kể đến Tuệ Tĩnh, Hải Thượng Lãn Ông, những danh y đã đặt nền móng cho y học dân tộc và cứu giúp được bao người qua nhiều thế kỷ. Rồi đến những danh nhân văn hóa, văn học, nếu không có họ, làm sao khẳng định được diện mạo của dân tộc. Họ là những trí thức-kẻ sĩ Việt Nam đã có những đóng góp xứng đáng cho dân tộc dù bị hạn chế bởi hệ tư tưởng Hán Nho và triều đại phong kiến.

 

Trí thức ngày nay có những điều kiện thuận lợi hơn hẳn trí thức ngày trước nhưng họ đã làm được gì hơn người xưa? Một IDS chưa làm được gì bao nhiêu đã phải tuyên bố tự giải thể dù họ là những trí thức hàng đầu được tin cậy của chế độ. Vậy thì chuyện “phò chính thống” hay “thân phận tôi đòi” không phải chỉ là vấn đề của kẻ sĩ thời phong kiến. Có người nói việc tuyên bố tự giải thể mới chính là việc làm có giá trị nhất của IDS chứ không phải là những gì họ đã nghiên cứu. Mấy chục năm qua, có bao nhiêu trí thức đã cảm thấy nhục nhã khi phải ngồi nghe các vị “lãnh đạo tòan diện và tuyệt đối” lên lớp, huấn thị về những vấn đề chuyên môn như giáo dục, y tế, văn học nghệ thuật, công nghệ thông tin, tài chính ngân hàng… khi trí tuệ và sự hiểu biết của các vị lãnh đạo đó không bằng học trò của mình?

 

Trí tuệ nhưng hèn nhát chỉ để trang trí hay ngụy biện. Trí tuệ nhưng không có lương tâm đôi khi lại là tội ác.

 

Cũng có thông tin cho rằng IDS được thành lập là do nhóm trí thức khao khát tự do đã tìm cách “lách luật” để ra đời nhưng chế độ độc tài không muốn cho tồn tại vì nó có thể trở thành tiền đề cho việc tự do lập hội, sau đó là tự do báo chí và xuất bản, điều được coi là nguy hiểm cho sự tồn vong của chế độ. Khi nhà nước không chấp nhận những “bồn trí tuệ” đòi có tự do nghiên cứu, tại sao trí thức không bỏ bồn mà bơi ra bể? Nền văn minh tin học và thế giới phẳng ngày nay có thể giúp trí thức làm được điều đó. Bể trí tuệ Việt Nam mênh mông không vì lợi ích của một nhà nước, chế độ, đảng phái nào mà vì tương lai của đất nước.

Đà Lạt 23.10.2009 (talawas)

 

Về đường đi của văn học tự do.

 

Trước hết xin kể lại mấy câu chuyện cũ.

 

Năm 1972 tôi viết truyện ngắn “Tự do hay là chết” với bút hiệu Tiêu Dao Bảo Cự gởi đăng trên tạp chí Đối Diện. Đối Diện là tạp chí đối lập hàng đầu ở Miền Nam do hai linh mục Chân Tín và Nguyễn Ngọc Lan làm chủ nhiệm và chủ bút. Tạp chí này đã nhiều lần bị tịch thu, chủ nhiệm phải “vác chiếu ra tòa” nhưng vẫn được tiếp tục xuất bản dưới hình thức báo lậu với giấy phép xuất bản tự cho, được nêu là căn cứ vào điều 11 Hiệp định Paris, trong đó có ghi rõ quyền tự do báo chí. Tòa soạn đôi khi được ghi đặt tại Canada hay Tokyo, dù thực sự vẫn ở Sài Gòn. Đây là một cách làm táo bạo của những người đối lập thời đó trong giai đoạn mà sách báo thường phải chịu cảnh “hốt cắt đục” (tịch thu, kiểm duyệt cắt xén và” phải “tự ý đục bỏ”).

Đối Diện đăng truyện ngắn “Tự do hay là chết” nhưng cắt bỏ một đoạn (có lẽ vì quá rùng rợn) với lời ghi chú “Một mai khi hòa bình sẽ trả lại cho tác giả”. Ngay sau đó, đài phát thanh Hà Nội và đài phát thanh Giải Phóng đều đọc truyện này nhiều lần trong mục “Đọc truyện đêm khuya”. Năm 1974, Nhà Xuất bản Giải Phóng (trong bưng) in lại truyện này trong tuyển tập “Bút máu” và ghi là “ký sự” thay vì truyện ngắn, lại cắt một đoạn khác trong phần kết (có lẽ cho là bi quan). Sau 1975, ngoài tập Bút máu được tái bản, truyện này còn được đưa vào nhiều tuyển tập khác như Mùa xuân chim én bay về (NXB Cửu Long 1986), Tiếng hát những người đi tới (Báo Thanh Niên, Báo Tuổi trẻ, Nhà Xuất Bản Trẻ 1993 ), Tuyển tập truyện ngắn Việt (NXB Trẻ TP/HCM 1997),  Nhìn lại một chặng đường văn học  (GS Trần Hữu Tá, NXB TP Hồ Chí Minh 2000), Viết trên đường tranh đấu (NXB Thuận Hóa 2005 ).

 

Đây là truyện ngắn được một số nhà nghiên cứu văn học trong nước xem là một trong những truyện ngắn tiêu biểu của dòng văn học gọi là “hiện thực, yêu nước, tiến bộ, cách mạng” ở miền Nam trước 1975, nội dung tố cáo chế độ lao tù và nói lên khát vọng tự do của người Việt. Điều đáng chú ý là trong những lần in lại này, khi nó được đổi thể loại thành ký sự, khi đổi hẳn tựa đề là “Địa ngục trần gian”,  khi đổi tên tác giả thành Trường sơn Ca hay Tiêu Dao (bút hiệu khác của tôi ), lúc cắt đoạn này, lúc bỏ đoạn khác, mà chẳng ai hỏi ý kiến tác giả cả khi tác giả đã trở thành kẻ “có vấn đề” với chế độ.

 

Như vậy có thể nói tôi cũng có đôi chút hiểu biết và kinh nghiệm bản thân về việc biên tập, kiểm duyệt và xuất bản qua nhiều giai đoạn và tôi suy nghĩ về những vấn đề này với tư cách một người trong cuộc. Có lẽ tôi và các bạn văn cùng chí hướng gặp khá nhiều khó khăn ở cả hai chế độ vì chúng tôi luôn đứng ở phía đối lập, đối kháng với nhà cầm quyền. Trong cuộc đời cầm bút của mình, chúng tôi xem chuyện sáng tác , ngoài việc thể hiện những tâm tình cá nhân còn là bày tỏ thái độ chính trị và là một phương tiện chiến đấu chống lại cái xấu, cái ác dưới mọi hình thức. Trong hoàn cảnh lịch sử đã sống trải và bị chi phối mãnh liệt, đó là một lựa chọn tự do, một cuộc dấn thân nguy hiểm, đồng thời cũng bị ràng buộc, giới hạn bởi sự lựa chọn của mình. Sự lựa chọn đó có thể đúng hay sai, theo quan điểm của người khác hay cách nhìn nhận trong từng giai đoạn lịch sử, nhưng đó là một cách sống trung thực.

 

Một nhà văn có thể có nhiều lựa chọn: Viết cho mình, viết vì Chân Thiện Mỹ nói chung, viết để chiến đấu (khi đứng về một phía chiến tranh, trong một lý tưởng hay một ý thức hệ)…Sự lựa chọn nào cũng không thoát khỏi sự chi phối của bối cảnh lịch sử, của chế độ mà nhà văn đang sống. Chưa nói đến tài năng, nhân cách của người cầm bút ở chỗ nhà văn có thực sự tự do lựa chọn con đường của mình hay không. Nếu con đường sai, đó là do nhận thức chứ không phải vấn đề nhân cách. Chỉ có thái độ ngụy tín, biết sai nhưng vẫn vờ cho là đúng hay vì hèn nhát, vì những giá trị tầm thường mà bẻ cong ngòi bút mới là điều đáng chê trách.

 

Cuộc chiến đấu cho một nền văn học tự do, nằm trong cuộc đấu tranh chung cho tự do dân chủ hiện nay là một cuộc chiến mở đầu không cân sức và không chiến tuyến rõ rệt, cũng có thể rút ra những bài học từ các kinh nghiệm chiến tranh trên, nhưng bằng các phương thức hòa bình, cộng với tri thức của thời đại mới. Cũng cần “nắm thắt lưng địch mà đánh”, “giành thắng lợi từng bước tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn”, “diễn biến hòa bình”… trên mọi lãnh vực. Tác phẩm in trong nước, ngoài nước, xuất bản lậu hay hợp pháp, công bố trên mạng …đều có thể góp phần vào cuộc đấu tranh. Không nhất thiết phải là những tác phẩm có nội dung chính trị rõ rệt hay hoàn toàn như mong muốn của tác giả (đối với sách xuất bản trong nước). Những tác phẩm thực sự có giá trị nhân văn, thậm chí chỉ là một ý, một đoạn, một câu nằm đâu đó trong các trang sách cũng có sức mạnh, đôi khi công phá mãnh liệt vào thành trì của độc tài toàn trị, làm suy yếu kẻ thù của tự do và tăng cường ý chí của dân tộc.

 

Những phê phán, ý tưởng quá cực đoan một chiều, cả trong văn học và chính trị, đều không có lợi gì cho cuộc đấu tranh này. Nếu ai đó nói rằng trong nước tất cả trí thức đều hèn nhát, tất cả nhà văn đều là văn nô, tất cả nhà báo đều là bồi bút, tất cả các nhà văn ở hải ngoại xuất bản sách trong nước đều háo danh, nhận định đó có đúng đắn không và sẽ mang đến điều gì? Đó chính là “vơ đũa cả nắm”, chủ quan, thiếu thực tiễn, làm “thêm thù bớt bạn”, yếu đi sức mạnh của dân tộc khi chống lại độc tài toàn trị.  Phê phán thẳng thắn, chính trực, có văn hóa, có lý có tình là cần thiết, cần lắng nghe nhưng phê phán quá nặng lời, gay gắt, hồ đồ, thiếu văn hóa, thậm chí là những lời “chửi rủa cho sướng miệng”, chỉ gây phản cảm, phản tác dụng và tác hại. Đây không phải chủ trương kiểu ba phải, “dĩ hòa vi quý”. Đây chính là sách lược và con đường đi gai góc mà dân tộc Việt Nam không thể không đi qua để tiến đến một nền văn học tự do và viễn cảnh tự do dân chủ của đất nước.

Đà lạt ngày 18-12-09

(talawas)

 

Điều kiện cho chuyển động dân chủ và đổi thay số phận Việt Nam.

 

Điều kiện của dân chủ, cũng là số phận của từng người và cả dân tộc chỉ được thay đổi bởi chính mỗi người và toàn dân tộc, không ai có thể làm thay, không thể trông chờ bất cứ thế lực ngoại lai nào (dù những thế lực này cũng có tác động nhất định).

 

Về Tổ quốc và Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

 

Định nghĩa chung về tổ quốc nhiều người đã nêu và có lẽ không có mấy dị biệt từ đông sang tây. Gắn liền và bao hàm trong  khái niệm về  tổ quốc có quốc gia, dân tộc, đất nước, quê hương, lịch sử. Quốc gia có ý nghĩa pháp lý về tổ chức nhà nước, dân tộc nặng về con người đồng chủng, đất nước nhấn mạnh đến mặt địa lý, quê hương thiên về tình cảm đối với nơi sinh ra và lớn lên, lịch sử gắn liền với quá khứ… Đôi khi người dân hay trong văn học nghệ thuật, người ta dùng lẫn lộn hay thay thế nhau những khái niệm này nhưng rất ít ai dùng tổ quốc để chỉ chế độ chính trị, trừ sự áp đặt cố tình của những người cầm quyền độc đoán.

 

Tôi trích dẫn khá nhiều để thấy rằng những tâm tình đó không đơn lẻ, không phải chỉ ở tác giả những bài ca mà là ở hàng triệu con tim cùng hát với họ, âm vang mãi cho đến tận sau này. Ở đây cũng xin nhấn mạnh rằng không đặt vấn đề quan điểm chính trị đối với cuộc chiến tranh Việt Nam, cho đến nay, vẫn còn tranh cãi giữa những người trong cuộc, mà muốn nói đến tâm tình của một thế hệ về quê hương, đất nước, lịch sử, tổ quốc của mình. Những người đó có thể có người ủng hộ miền Bắc, có người là đảng viên cộng sản nhưng tổ quốc của họ không bao giờ là tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Tổ quốc chỉ là anh em đồng bào, người em, người chị, người mẹ, người tù, mái nhà, con sông, rừng sâu, non cao, biển biếc, tiền nhân chống giặc Tàu giặc Tây xâm lược… Tổ quốc chung của mọi người Việt Nam từ xưa đến nay không có gì khác. Đó là tâm tình của những người tôi hiểu rất rõ vì cùng hoàn cảnh và cùng thế hệ ở Miền Nam.

 

Vậy thì “Tổ quốc xã hội chủ nghĩa” của người cộng sản Việt Nam là gì, của ai? Những người cộng sản Việt Nam không phải sinh ra đã là cộng sản. Trừ một số ít lãnh tụ và đảng viên nòng cốt được đi học lý thuyết Mác – Lê ở Nga, Tàu, đại bộ phận là nông dân, công nhân, dân nghèo và một số ít trí thức đi theo đảng vì bị cướp đất, cướp nhà, chịu bất công áp bức và muốn bảo vệ tổ quốc trước sự xâm lăng của ngoại bang. Dĩ nhiên họ gắn bó ràng buộc với nhau trong tổ chức đảng và trong bộ máy nhà nước khi đã giành được chính quyền. Về sau họ cũng được học tập về chủ nghĩa, kinh tế chính trị Mác – Lênin nhưng thuở ban đầu, như trong một chuyện vui của chính những người cộng sản, nhiều người trong các cuộc kết nạp hay trong các cuộc họp, nhìn lên ảnh của Marx và Lenin, không biết ai là ai, chỉ biết “Thưa ông râu dài và ông râu ngắn”.

 

 

Vậy thì “tổ quốc xã hội chủ nghĩa” chẳng là cái gì và của ai cả, chỉ là khẩu hiệu tuyên truyền của những người lãnh đạo cộng sản, cũng như bất cứ thứ gì gắn với “xã hội chủ nghĩa”, như “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, chỉ có một nghĩa duy nhất là dưới sự lãnh đạo độc quyền của đảng cộng sản. Ngoài ra không có gì khác. Để bảo đảm quyền và lợi ngày càng quá lớn của một thiểu số đã lợi dụng nhân dân khi giành được chính quyền.

 

Từ biệt talawas, người tình mãnh liệt đến rồi đi.

 

Làm sao trong lúc từ biệt lại không nói những lời thương nhớ. Tôi là một tác giả không tham gia với talawas ngay từ những ngày đầu, đến với talawas muộn vài năm nhưng không vì thế mà không gắn bó. Vài chục bài chính luận và đặc biệt Tôi bày tỏ (nhật ký trong những ngày bị quản chế), Hành trình cuối đông (bút ký về chuyến đi xuyên Việt năm 1988, tái bản và bổ sung) đã được đăng nhiều kỳ trên talawas. Không nhiều so với những tác giả quan trọng của talawas nhưng quả thật tôi đã gởi gắm đến talawas hay talawas đã đón nhận không ít nơi một người cầm bút trong một giai đoạn đặc biệt của cuộc đời và lịch sử.

Từ chỗ một website nặng tính hàn lâm, talawas đã chuyển mình thành một diễn đàn mang tính chiến đấu cao, đi sát những vấn đề thời sự nóng bỏng của đất nước. Những bài nghiên cứu giá trị, những bình luận sắc bén, các bài dịch công phu, các tư liệu vô giá, những tác phẩm độc đáo, những cuộc bút chiến sôi động đã mang lại cho talawas một diện mạo khó website nào khác có thể so sánh: trí tuệ, đa dạng, sắc bén, phong phú, sôi động, tự do, vì đất nước.

 

talawas như vì sao chói sáng một thời gian rồi vụt tắt. Như một người tình mãnh liệt đến rồi đi. Cảm giác bàng hoàng hụt hẫng tất nhiên phải có. Nhưng không phải tất cả sẽ chấm dứt. Dư âm, dư ảnh, dư hương của talawas sẽ còn lâu dài. Những tư tưởng talawas chuyên chở sẽ còn thấm thía, đi xa trong lòng độc giả đã đến và sẽ đến với talawas trong tương lai nếu nội dung của nó vẫn còn được lưu giữ. Các tác giả của talawas sẽ tiếp nối hành trình của họ trên những con đường mới. Các website khác cùng mục tiêu với talawas vẫn tồn tại hoặc sẽ tiếp tục ra đời thay thế (như Boxitvn mới xuất hiện chưa lâu, cũng đầy trí tuệ, tâm huyết, tính chiến đấu và mang đậm yếu tố trong nước). Tổ quốc Việt Nam của mọi người Việt Nam và cuộc chiến đấu vì đất nước không của riêng ai.

 

Từ biệt talawas cũng là từ biệt những người chủ biên, tác giả và độc giả một thời chia sẻ không gian tự do và trí tuệ.

 

Hẹn gặp lại trên những nẻo đường tri thức, trên không gian ảo và trên quê hương Việt Nam yêu dấu.

 

Đà Lạt 20/10/2010

(talawas)

 

“Cơ hội vàng – lần thứ hai” cho dân tộc và Đảng Cộng sản Việt Nam

Trong bất kỳ thời đại nào của lịch sử Việt Nam, giữ nước luôn là việc của toàn dân chứ không phải chỉ là việc của một triều đình, một thế lực, một đảng, một nhà nước, một quân đội.

Thực ra đây chỉ là một biểu hiện nhỏ trong chính sách ngoại giao khiếp nhược đối với “người hàng xóm to xác xấu tính”. Ai cũng biết đối với Trung Quốc, chính sách ngoại giao của Việt Nam luôn là hòa hiếu, giữ vững chủ quyền, độc lập, và lịch sử Việt Nam đã có biết bao nhiêu bài học. Hòa hiếu nhưng không phải là hèn nhát cúi đầu chịu nhục hay dâng đất cho ngoại bang. Các triều đại phong kiến ngày xưa đã từng không chịu nhường một tấc đất của núi sông; khi cần đã đánh cho bọn xâm lược tan tành, đại bại, được cấp thuyền, ngựa về đến nước mà còn “hồn kinh phách lạc, ngực đập chân run”; cử người giả hoàng đế sang triều cống trong khi chuẩn bị lực lượng để tấn công… Thời Pháp thuộc, dù trình độ văn minh và vũ khí quá chênh lệch, phải chịu cảnh nô lệ nhưng tinh thần chiến đấu của dân tộc là khi còn một ngọn cỏ, người Việt vẫn còn đánh Tây.

Đối với người Cộng sản Việt Nam, đã một thời không hiếm những người yêu nước nồng nàn, không tiếc máu xương trong cuộc chiến đấu giành độc lập, kiên cường bất khuất trong tù đày tra tấn, không hề hèn nhát. Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam cũng đã từng đọ sức với Trung Quốc trong cuộc chiến biên giới năm 1979 và những năm tiếp theo, hiểu rất rõ “lòng lang dạ sói” của người “láng giềng bốn tốt”.

Trong bất kỳ thời đại nào của lịch sử Việt Nam, giữ nước luôn là việc của toàn dân chứ không phải chỉ là việc của một triều đình, một thế lực, một đảng, một nhà nước, một quân đội. Hơn ai hết, những người Cộng sản Việt Nam hiểu thế nào là dựa vào dân, chiến tranh nhân dân. Nhân dân đã tự phát nêu cao lòng yêu nước, ý thức giữ gìn lãnh thổ, tại sao không phát huy, dựa vào sức mạnh nhân dân để đối phó với xâm lược. Một thiểu số nào đó trong bộ máy cầm quyền, vì một lý do nào đó như lợi ích cá nhân, gia đình, phe nhóm muốn ngăn cản điều này chính là đưa đất nước vào họa diệt vong.

“Toàn dân nghe chăng??? Sơn hà nguy biến!!!” và những câu hỏi cần lời đáp cho mọi người Việt Nam.

 

“Toàn dân nghe chăng??? Sơn hà nguy biến!!!

Lời kêu gọi đó vang rền đất nước cách đây hơn 7 thế kỷ khi vó ngựa quân Nguyên-Mông bắt đầu vượt biên giới dày xéo lên đất nước Việt Nam. Thời đó Nguyên-Mông là một đế quốc rộng lớn, hùng mạnh nhất thế giới, xâm chiếm nhiều quốc gia từ Á sang Âu. Chúng tự hào là dưới vó ngựa viễn chinh của chúng cỏ không mọc được. Ấy thế mà ba lần xâm lược, ba lần chúng đại bại trước dân tộc Việt Nam và vua tôi nhà Trần.

Ngoài sự sáng suốt của các vua nhà Trần, tài thao lược của Trần Hưng Đạo và các tướng lĩnh, sự dũng cảm của ba quân, yếu tố quan trọng hàng đầu là lòng dân. Hội Nghị Diên Hồng do Thượng Hoàng Trần Thánh Tông triệu tập năm 1284 thề quyết chiến, thể hiện sự quyết tâm và đoàn kết toàn dân để đánh thắng kẻ thù, mà người học sử Việt không ai không biết.

Ngày hôm nay, sau hơn 700 năm, lời kêu gọi đó lại vang lên khẩn thiết, trong một bối cảnh lịch sử hoàn toàn khác, người Việt Nam sẽ làm gì để không thẹn với tiền nhân và không trở thành nô lệ cho ngoại bang?

Tình hình hiện nay như thế nào? Không hề khác trước đây mà ý đồ và hành động của bá quyền Trung Quốc ngày càng rõ rệt, táo bạo, trắng trợn và nguy hiểm hơn, thể hiện qua các vụ xâm phạm lãnh hải gần đây và những yêu cầu xấc xược đối với Chính Phủ Việt Nam. Vậy thì chống Trung Quốc xâm lược chính là mệnh lệnh của lịch sử, không có gì khác.

Trung Quốc đang kích động tinh thần bá quyền Đại Hán của dân tộc họ để đem Việt Nam làm “con dê tế thần” trong cuộc chiến ở Biển Đông, sao Việt Nam lại không kích động lòng yêu nước của toàn dân để bảo vệ tổ quốc. Dân tộc Việt Nam không bao giờ chủ trương gây chiến nhưng sẵn sàng đáp trả bất cứ kẻ thù nào. Đối với Trung Quốc, Việt Nam có đầy đủ các bài học thắng - bại và cho đến nay, qua hàng ngàn năm lịch sử đối đầu, bọn bá quyền nước lớn không thể thôn tính nổi đất nước ta. Bây giờ, cách tốt nhất để bảo vệ hòa bình là chuẩn bị chiến tranh, trước tiên là khơi dậy, khởi động lòng yêu nước của toàn dân sau một thời gian chìm lắng vì những nghiệt ngã của lịch sử.

Toàn dân nghe chăng??? Sơn hà nguy biến!!! Những câu hỏi khẩn thiết đang được đặt ra cần lời giải đáp cụ thể cho mọi người Việt Nam, không trừ một ai.

 

Từ kiến nghị, tuyên cáo đến biểu tình và vai trò của trí thức Việt Nam.

 

 

Từ chỗ là người trong guồng máy, trong chế độ, một số trí thức, văn nghệ sĩ đã chuyển sang vị trí đối lập, đối kháng với những người cầm quyền. Trí thức, văn nghệ sĩ, đặc biệt những người có uy tín đối với công chúng, chỉ là một số ít, dĩ nhiên thuộc loại “trói gà không chặt” nhưng sức mạnh của họ chính là ý nghĩa của biểu tượng và nguồn cảm hứng. Sự có mặt của họ trên đường phố, bài viết, sáng tác của họ lưu truyền trên mạng chắc chắn sẽ khơi dậy sự thức tỉnh cho rất nhiều người, nhất là lớp trẻ có học. Trí thức, văn nghệ sĩ  (không phải là nhà hoạt động chính trị chuyên nghiệp) không thể trực tiếp lãnh đạo biểu tình thành công nhưng có thể góp phần tỉnh thức và thôi thúc hàng ngàn, hàng vạn các bạn trẻ xuống đường. Và khi đã có hàng vạn người xuống đường biểu tình, đó đã là sức mạnh vật chất, bạo lực của quần chúng có thể lật đổ một chế độ như ta đã từng thấy trong các cuộc cách mạng mà gần đây là những biến động ở Bắc Phi và Trung Đông.

 

Suy nghĩ về việc kiến tạo sức mạnh dân tộc để dân chủ hóa đất nước

 

Muốn thay đổi chế độ toàn trị này nhất định phải có sức mạnh tiên tiến và tổng hợp của toàn dân tộc, bao gồm tất cả mọi lực lượng, bất kể quá khứ như thế nào, trong hay ngoài nước, nhất là trong nước, phải có sự đoàn kết và thống nhất về mục tiêu chung trước mắt và lâu dài.

Cuộc dấn thân hôm nay là sự đồng hành của nhiều thế hệ, thế hệ trẻ hiện nay và những thế hệ dấn thân trước đây còn tồn tại, cùng thức tỉnh và hỗ trợ nhau bằng thế mạnh riêng của mình, trong một giai đoạn đầy khó khăn gai góc. Các phẩm chất yêu nước, trong sáng, nồng nhiệt, phản kháng, khao khát tự do dân chủ và hòa bình là phẩm chất tinh hoa của nhiều thế hệ cần được khôi phục và phát huy hơn bao giờ hết để kiến tạo sức mạnh mới của dân tộc trên con đường dân chủ hóa đất nước.

Sự đoàn kết hiệp đồng giữa các thế hệ trong cuộc đấu tranh dân chủ hóa đất nước trên tầm chiến lược.

 

Sự khác biệt, mâu thuẫn, xung đột giữa thế hệ già và trẻ là điều bình thường trong các xã hội dân chủ. Tình trạng thế hệ trẻ phục tùng thế hệ già  chỉ là một dấu chỉ của sự trì trệ, bảo thủ trong các chế độ phong kiến và độc tài. Các thanh niên “thế hệ chiến tranh”trước đây đã từng lên án những người đi trước là để lại cho họ một gia tài rách nát với chiến tranh tàn khốc, đất nước phân ly, tương lai mù mịt. Thế hệ trẻ hiện nay cũng có thể oán trách cha anh đã để lại cho họ một chế độ độc tài toàn trị mà từ nhỏ đến lớn họ bị tuyên truyền nhồi sọ, thui chột tinh thần sáng tạo và bị tước đoạt nhiều quyền tự do đáng ra họ phải được hưởng từ khi đất nước thống nhất. Có thể khi thế hệ này già đi, họ lại bị thế hệ kế tiếp phê phán vì chưa làm được gì nhiều cho tương lai và cũng để lại nhiều gánh nặng. Tất cả đều trải qua tuổi trẻ, tuổi già và nằm trong “gọng kềm lịch sử”.

Cuộc tranh đấu hiện nay rõ ràng là chưa cân sức trong toàn cảnh mâu thuẫn lớn nhất của thời đại giữa nhân dân bị trị và chế độ độc tài toàn trị. Trong ngắn hạn và trung hạn, lực lượng dân chủ có thể vẫn còn ở trong thế yếu nhưng dài hạn, nếu biết dựa vào và khơi dậy sức mạnh của dân tộc, chắc chắn lực lượng dân chủ sẽ chiếm thượng phong và giành chiến thắng vì nhân dân không thể chấp nhận mãi sự đày đọa của một thiểu số độc tài. Trong viễn cảnh đó, sự đoàn kết hiệp đồng chiến đấu giữa các thế hệ để đấu tranh hiện nay nhất định cần một cương lĩnh có tầm chiến lược, trong đó có chỗ và cơ hội hành động cho mọi người khao khát tự do dân chủ, kể cả lối thoát cho những người cộng sản và đảng cộng sản để tránh một  bi kịch lịch sử tiếp theo, chắc chắn sẽ có rất nhiều hận thù, máu và nước mắt.

Tình hình Việt Nam hiện nay: Phải chăng “Nhân dân nào chính quyền ấy”?

 

Trên dưới hai thập niên vừa qua, nhiều cuộc chuyển đổi và cách mạng “long trời lở đất” đã xảy ra đối với hệ thống xã hội chủ nghĩa trên toàn thế giới và các nước có chế độ độc tài ở Bắc Phi và Trung Đông. Nhiều người đã mơ tưởng đến các loại “cách mạng màu, cách mạng hoa” như ở một số nước nhưng điều đó đã không xảy ra. Tình hình này cũng có thể chứng minh cho cách tổng kết “nhân dân nào chính quyền ấy” ở Việt Nam.

Nhân dân là một từ trừu tượng nhưng lại rất cụ thể. Ai cũng có thể tự xưng nhân dân, nhân danh nhân dân, hô hào nhân dân. Có khi nhân dân im lặng chịu dẫn dắt như bầy cừu nhưng cũng có lúc nhân dân nổi gió dậy sóng. Người xưa cũng đã từng nói “chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân”.

Trong chiều dài lịch sử của mình, nhân dân Việt Nam có hai đặc tính nổi bật: chịu đựng và phản kháng. Hai đặc tính này luân phiên hay cùng lúc bổ sung cho nhau tùy hoàn cảnh cụ thể. Nếu không rèn đúc được hai đặc tính này, chắc chắn quốc gia Việt Nam đã bị xóa sổ trên bản đồ thế giới.

Sự phản kháng này chỉ có hiệu quả lớn khi đại bộ phận nhân dân tham gia. Các tầng lớp nhân dân không đồng nhất nên phải có sự tác động, kích thích lẫn nhau, đặc biệt trong đó tầng lớp ưu tú có trách nhiệm dẫn dắt và thúc đẩy, lứa tuổi trẻ xung kích tiến lên hàng đầu. Trí thức dấn thân thường đấu tranh vì lý tưởng chứ không vì quyền lợi, tuổi trẻ không ngại hi sinh, không so đo tính toán. Đó hầu như là kinh nghiệm của mọi cuộc cách mạng. Và trong thời đại Internet, thông tin truyền tải tức thời, sự tác động qua lại giữa các tầng lớp càng nhanh lên gấp bội.

Phải chăng đây là con đường, là lối thoát tất yếu cho tình hình Việt Nam? Và có phải đảng – chính quyền đã không học được bài học tự ngàn xưa “chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân” để đi đến tự hủy?

 

 Đinh Cường, từ  bài thơ và một dòng chảy…

 

Bài thơ có câu:

Gặp lại Tiêu Dao Bảo Cự như gặp lại thời thanh niên

Thì ra là vậy. Dù chúng tôi không thân thiết nhau nhưng chúng tôi đã trôi ra từ cùng một dòng chảy và bầu khí quyển hừng hực của thời đại ngày ấy. Nơi chốn có dòng sông Thơm hiền hòa, nơi nổi tiếng êm đềm thơ mộng ấy đã không ít lần “dựng kiếm lên trời xanh”. (Ý thơ Cao Bá Quát về sông Hương). Chúng tôi cùng thế hệ chiến tranh, mỗi người có con đường, lựa chọn và định mệnh khác nhau nhưng từ trong bản chất, không thoát được tính trữ tình lãng mạn và ý thức phản kháng của con người nơi một vùng đất, trên nền tảng của khát vọng tự do và sáng tạo, trong cuộc đời cũng như trong nghệ thuật.

Thư gởi Bùi Minh Quốc nhân sự kiện tổ chức mừng sinh nhật lần đầu  lúc 75  tuổi.

 

Anh và tôi xuất thân hoàn toàn khác nhau. Anh là nhà văn Miền Bắc tình nguyện vào Nam chiến đấu, tôi là “sinh viên tranh đấu” và là người cầm bút đối kháng ở  Miền Nam. Chúng ta khác nhau rất nhiều về gia đình, hoàn cảnh, quá trình, nền giáo dục, tâm trạng… Nhưng chúng ta gặp nhau ở chỗ cùng trải nghiệm chiến tranh (theo những cách khác nhau), cùng tha thiết với độc lập tự do và khát vọng hòa bình của dân tộc, cùng dùng cây bút làm vũ khí chiến đấu bên cạnh ngợi ca tình yêu và cuộc sống. Phần khác quan trọng không kém, có lẽ chúng ta đều là những kẻ “lãng mạn cách mạng”, phóng khoáng và nhân văn trong cách nghĩ, lối sống.

Tuy nhiên đến bây giờ tôi vẫn “bảo lưu” ý kiến cho  rằng ngay trong chúng ta, ngay trong bất cứ ai dù có lý tưởng trong sáng, đấu tranh cho tự do dân chủ, là “ hãy cảnh giác với những hành vi cực đoan, thủ đoạn bẩn thỉu trong chính trị, nhất là với phương châm mục đích biện minh cho phương tiện”. Điều đó sẽ làm hoen ố những gì tưởng là cao đẹp nhất. Dĩ nhiên chúng ta đã quá biết chính trị là gì, chính trị là điều không tránh khỏi trong cuộc sống, phân biệt thái độ chính trị với hoạt động chính trị, chính trị chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp, chính trị cầm quyền… Người cầm quyền sẽ vấy bẩn chúng ta và chúng ta cũng có thể tự làm vấy bẩn mình. Không cảnh giác điều này, tình bạn sẽ tan vỡ.

Tình bạn là gì?  Đã có vô số định nghĩa về tình bạn nhưng nhất định trong tình bạn phải có sự đồng cảm và chia sẻ về số phận riêng và số phận chung của con người, ở một mức độ nào đó, mà người trong cuộc cảm thấy ấm lòng, được an ủi khi nghĩ đến nhau. Tình bạn không đắng – cay như rượu, không đắng – ngọt café, có thể  đối với nhau như nước lã (Tàu xưa gọi là “đạm nhược thủy”?)  nhưng chính “nước lã” này mới uống mãi không chán và tưới mát tâm hồn khi có nhau và nghĩ về nhau trong cuộc đời.

 

Những con đường Việt Nam

Trong lịch sử, chưa bao giờ dân tộc Việt Nam bị chia rẽ, phân ly và đứng trước nguy cơ như hiện nay. Ai cũng mong muốn có một con đường giúp đất nước thoát khỏi thảm họa, nhưng hiện nay không chỉ có một con đường mà rất nhiều con đường, kể cả những con đường đi ngược chiều nhau.

Vậy đâu là con đường Việt Nam, con đường chung cho cả dân tộc mở ra biển lớn, mở ra thế giới, mở ra tương lai huy hoàng?

Với khát vọng của toàn dân, chắc phải có con đường đó. Nhưng con đường này không thể hình thành nếu thiếu hai yếu tố cơ bản sau đây:

*  Sự thông cảm, bao dung, hòa giải, đoàn kết giữa các thành phần dân tộc đối lập với chế độ độc tài toàn trị để tạo nên nội lực của dân tộc.

* Từng người dân có ý thức, tinh thần và năng lực làm chủ vận mệnh cá nhân mình và đất nước.

Với thực tế hiện nay, hai điều kiện trên xem ra vẫn còn nhiều thiếu sót. Ngoài sự vận động tự thân của mỗi người thì những người hoạt động chính trị xem ra không thể không quan tâm, nếu không nói là phải đặt thành trọng tâm trong chương trình hành động của mình.

Lịch sử không loại trừ những bất ngờ. Trong bầu khí xã hội bị dồn ép, không biết lúc nào bạo loạn có thể nổ ra và khi bạo loạn nổ ra, tình hình sẽ rất khó lường và kiểm soát. Sau bạo loạn, tình hình sẽ tốt hay xấu hơn cho đất nước, trả bằng giá nào, trong bao lâu, không ai có thể nói trước. Nhưng không ai có quyền hô hào bạo loạn, đẩy người khác vào con đường máu lửa trong khi mình đứng bên ngoài để hưởng lợi. Không ai được quyền nhân danh tập thể để hi sinh cá nhân trừ khi cá nhân tự nguyện. Không ai được quyền nhân danh tương lai để hi sinh hiện tại. Đó cũng chỉ là một cách “mục đích biện minh cho phương tiện” bẩn thỉu và tàn bạo của những kẻ hoạt đầu chính trị, chẳng tốt đẹp gì cho đất nước.

Truyền thống phong trào sinh viên học sinh tranh đấu: Khôi phục tinh hoa phẩm chất.

 

Đặc điểm của SVHS, thế hệ trẻ, là sự trong sáng và nhiệt huyết. Đặc điểm này được phát huy cao độ trong phong trào với tinh thần yêu nước, mục tiêu chống xâm lược, chống bất công áp bức trong những hoàn cảnh cực đoan rất dễ kích thích tuổi trẻ. Rõ ràng SVHS tham gia phong trào với sự trong sáng gần như tuyệt đối vì họ chẳng có mục đích lợi ích cá nhân nào (trừ một số rất ít). Sự hăng hái của họ bất chấp hiểm nguy, sẵn sàng đối đầu với dùi cui, lựu đạn cay, phi tiễn, nhà tù, tra tấn, kể cả tàn phế, mất tương lai và có khi mất cả mạng sống. Chính vì đặc điểm đó, đảng CSVN đã sử dụng họ như một “ngòi pháo xung kích” trong phong trào đấu tranh đô thị.

 

Điều này không có nghĩa là đảng CSVN có thể huy động, tổ chức, lãnh đạo phong trào SVHS một cách toàn diện, triệt để, từ đầu đến cuối. Phong trào SVHS ban đầu thường nổ ra do SVHS tự phát hay do các tổ chức chính trị, xã hội, tôn giáo phát động. Đảng CSVN chỉ từng bước lợi dụng, cài cấy người chi phối và khi có đủ điều kiện mới hình thành tổ chức lãnh đạo phong trào nhưng đều phải núp dưới danh nghĩa các tổ chức SVHS thuần túy. Phần lớn SVHS tham gia phong trào với tư cách là tuổi trẻ học đường bằng cảm xúc và  nhận thức đơn sơ với sự bồng bột của tuổi trẻ, đối với một số người, đôi khi chỉ là ham vui hay muốn nghỉ học.

 

Trong nhiều trường hợp, tuyên truyền của đảng CSVN rất gần gũi hay tương đồng với suy nghĩ, tâm tình và khát vọng của SVHS nên đảng có điều kiện hướng phong trào SVHS vào tổng thể phong trào đấu tranh đô thị trong toàn bộ sách lược chiến tranh. Một số người được lôi kéo hay tự động tìm đến với đảng CSVN, trở thành cốt cán hay đảng viên. Có thể nói phần lớn những người này là “đảng viên cộng sản lý tưởng, yêu nước”, theo nghĩa vào đảng chỉ để chống xâm lược, chống bất công áp bức chứ không phải “giác ngộ giai cấp”, giác ngộ chủ nghĩa Mác – Lê nhằm xây dựng chủ nghĩa xã hội. Dĩ nhiên khi vào đảng họ cũng được học tập đôi chút về chủ nghĩa nhưng mục tiêu và hành động trước mắt chỉ là tham dự vào cuộc đấu tranh gọi là “giải phóng Miền Nam, thống nhất tổ quốc”. Những mục tiêu khác quá xa vời khi cuộc chiến đang nóng bỏng từng ngày với máu xương và nước mắt.

 

Có người cho rằng đây là sự ngây thơ và ấu trĩ về chính trị và trong hoàn cảnh đó họ cũng có tự do lựa chọn. Trong giai đoạn chiến tranh Việt Nam trước đây,  ở Miền Nam, khó có thể nói sự lựa chọn nào là đúng đắn đối với SVHS: tham gia đấu tranh, lo học, ăn chơi, tự nguyện nhập ngũ, bị bắt lính, trốn lính, đào ngũ… tùy hoàn cảnh, nhận thức và tâm trạng mà người ta lựa chọn hay trôi theo dòng cuốn. Có người còn nhập cuộc tranh đấu vì chịu ảnh hưởng của tư tưởng “dấn thân” trong triết học hiện sinh. Chỉ sau khi lịch sử đã đi qua, nhìn lại mới có thể thẩm định một cách chính xác nếu có cái nhìn khách quan, không thiên kiến, không bị sự hận thù hay kiêu ngạo chi phối.

 

Đảng CSVN, người cầm quyền hiện nay, với đối tượng SVHS, hầu như đã làm ngược lại những gì đảng làm trước đây. Thay vì khuyến khích sáng tạo, đấu tranh chống cái xấu cái ác, yêu nước, chống xâm lược, đảng lại làm cho SVHS chỉ biết vâng phục, chỉ lo “lập thân, lập nghiệp”, thực chất là kiếm tiền làm giàu, sợ hãi hay làm ngơ trước lời kêu gọi tổ quốc lâm nguy từ cuộc xâm lược của bá quyền bành trướng Đại Hán Trung Quốc. Vì sợ rằng chính mình sẽ trở thành đối tượng đấu tranh của SVHS như truyền thống của phong trào, với kinh nghiệm hoạt động phong trào ngày trước, người cầm quyền đã dùng mọi thủ đoạn để trấn áp “ngay từ trong trứng nước”. Việc cài cấy nhân viên an ninh vào hàng ngũ SVHS, đe dọa bản thân và gia đình những người tham gia biểu tình chống Trung Quốc xâm lược vừa qua, đe dọa ban giám hiệu, giáo viên và ban quản lý SVHS là những biện pháp đi ngược lại những gì đảng đã cổ võ trong truyền thống của phong trào. Không gì có thể biện minh cho điều này kể cả an ninh, trật tự xã hội, quốc phòng, bí mật quốc gia, ổn định chính trị, sách lược ngoại giao hay để làm vừa lòng người “bạn vàng bốn xấu”.

Những biện pháp này không chỉ có hại trước mắt mà còn di hại lâu dài. Chưa nói đến những hiện tượng suy đồi khác trong lãnh vực giáo dục về tri thức, đạo đức đã đến mức báo động, đất nước sẽ ra sao khi SVHS bị thui chột lòng yêu nước, thờ ơ với vận mệnh quốc gia, với cái xấu cái ác lan tràn, khi ai cũng thừa nhận rằng SVHS - thế hệ trẻ chính là tương lai của đất nước. Đảng CSVN và những người cầm quyền hiện nay phải trả lời vấn nạn này trước lịch sử. Thực ra đảng có thể làm khác hơn, hợp lòng dân hơn, hợp truyền thống hơn nhưng không đủ bản lĩnh để làm vì sợ rằng đây sẽ là con dao hai lưỡi có thể đe dọa đến độc quyền toàn trị của mình.

 

Xét cho cùng, phẩm chất của phong trào SVHS là trong sáng, nhiệt huyết, yêu nước, chống xâm lược, phản kháng trước bất công áp bức, kêu đòi tự do dân chủ hòa bình, chính là phẩm chất của thế hệ trẻ mọi thời đại, cũng là của con người, công dân một đất nước. Ở đây, tôi lại muốn trích dẫn Hạ Đình Nguyên trong bài viết nói trên, một bài viết quan trọng đầu tiên đề cập một cách khá toàn diện và thẳng thắn về phong trào, một đề tài gần như “cấm kỵ” ngay cả đối với người trong cuộc:

“Cuộc đấu tranh Nam-Bắc vì độc lập dân tộc, lồng trong chiến tranh ý thức hệ của hai phe, trong phạm vi cục bộ của VN, dù có hay không có phong trào đấu tranh đô thị của TNSVHS, thì phe thất bại vẫn thất bại, phe thắng cuộc vẫn thắng cuộc, vì nhiều yếu tố khác. Cái giá trị của phong trào đấu tranh không có vai trò gì lớn trong sự thành bại của đôi bên. Quan niệm chính thống của CSVN xem nó không hơn một quả pháo.

Song ý nghĩa lớn nhất ở chỗ, nó thể hiện tinh thần yêu nước thuần khiết, thái độ dấn thân tự nguyện của thế hệ thanh niên, biết quan tâm đến Tổ quốc trước họa xâm lược, biết yêu độc lập và tha thiết với dân chủ tự do.”

 

Khôi phục và phát huy tinh hoa phẩm chất này chính là chuẩn bị cho tương lai của đất nước, trước mắt đối phó với nạn xâm lược của con rồng đỏ tim đen Trung Quốc Cộng Sản đang trỗi dậy lăm le chinh phục Á Đông và thế giới.

Đối với việc hòa giải hòa hợp dân tộc tạo nên sức mạnh để dân chủ hóa đất nước, tinh hoa phẩm chất này cũng là chất kết dính các thành phần dân tộc Miền Nam và Miền Bắc, trong và ngoài nước, bất luận quá khứ và xuất thân khi cùng đứng trên lập trường dân tộc để chung cùng một cuộc chiến đấu cho tương lai khi hiểm họa gần kề.

 

Đà Lạt những ngày đầu năm 2013 trước ngày kỷ niệm truyền thống sinh viên học sinh 9/1

 

Từ Ngô Kha, soi rọi và giải mã một thế hệ dấn thân.

 

Có lẽ nhiều người thích mấy câu thơ sau đây của Ngô Kha:

 

con đã đi bao năm

mẹ không rời ngưỡng cửa

và nay

gió cũng tang bồng

nhưng thi sĩ vẫn nằm yên trong nhà tù vĩnh cửu

 

Có cái gì lãng mạn, hào sảng và cũng bi tráng, chứa đựng nhiều ẩn ngữ và dự báo như chính cuộc đời anh: Nhà thơ tài hoa, nhà giáo nồng nhiệt, kẻ dấn thân tranh đấu hào hùng, chiến sĩ cho tự do, người làm cách mạng, bị tù đày, chết vì bị thủ tiêu khi còn trẻ và cuộc chiến đấu còn dở dang.

 

Từ trường hợp Ngô Kha, soi rọi bản thân, đối chiếu bạn bè, tôi nghiệm ra thế hệ chúng tôi là một thế hệ dấn thân bi tráng.

 

Dĩ nhiên là khởi đi từ sự trong sáng và nhiệt tình tuổi trẻ trong một tình huống sục sôi. Tuổi trẻ không vì những lợi ích hẹp hòi gì cho riêng mình ngoài khát vọng thể hiện bản thân. Đây là tuổi trẻ có trí thức, có ý thức chứ không phải là những con thiêu thân mù quáng.

Lòng yêu nước là một tình cảm tự nhiên và được hun đúc qua những bài học lịch sử từ tấm bé, phải làm cái gì chứ không thể ngồi yên khi đất nước mỗi ngày rỉ máu, tan hoang vì bom đạn.

Tinh thần phản kháng, nổi loạn là đặc điểm chung của tuổi trẻ càng dễ được kích động lên trong bối cảnh xã hội có nhiều bất công, áp bức và niềm đau do cuộc chiến gây ra.

Đi cùng với lòng yêu nước là khát vọng hòa bình. Biết bao giấc mơ về một ngày mai quê hương im tiếng súng đã được vẽ nên trong thi ca, nhạc, họa của những người trẻ tuổi luôn đau đáu niềm đau chung của đất nước.

 

Từ ngày ấy, bao nhiêu nước đã chảy qua cầu, đất nước cũng gập ghềnh quanh co trên chặng đường gian khó đi tới tương lai. Những nhận định và phê phán về một thế hệ dấn thân vẫn còn nhiều khác biệt từ quan điểm của người nhìn nhận. Nhưng dù sao đi nữa, gác qua một bên những định kiến, hận thù và quan điểm chính trị, thế hệ dấn thân này vẫn thể hiện phẩm chất tinh hoa của tuổi trẻ trí thức Việt Nam, mà nếu được phát huy đúng đắn, những phẩm chất này sẽ làm nên đất nước.

 

Góp phần giải mã hiện tượng Lê Hiếu Đằng

 

Việc cần làm là xây dựng một chế độ chính trị pháp trị thực sự có cơ chế hãm để ngăn chặn lạm dụng và lòng tham cá nhân. Trên thế giới có nhiều mô hình nhưng không có mô hình nào là tuyệt đối hoàn hảo và còn cần phải phù hợp với đặc điểm riêng của từng dân tộc, không thể bắt chước một cách máy móc. Với Việt Nam để tiến đến đó sẽ phải qua những bước nào? Chuyển hóa, diễn biến hòa bình hay bạo loạn lật đổ? Cách mạng nhung, cách mạng hoa lài hay diễn biến từ thượng tầng? Có nhiều phương thức nhưng chắc chắn điều tốt nhất là không hay ít tốn xương máu, không gây nội chiến, không kéo dài thù hận. Lê Hiếu Đằng chọn điều này nên ông đã đưa ra gợi ý thành lập đảng mới để đối lập với đảng cộng sản. Dĩ nhiên việc này không phải là lối thoát duy nhất cho tình hình và chưa biết lúc nào có thể được thực hiện nhưng đó là một gợi ý tốt và khả thi, ít ra đối với những đảng viên cộng sản cấp tiến, khi họ có đủ nhiệt tình, dũng cảm và số đông cần thiết. Gợi ý này cũng có thể “kích hoạt” hình thành các tổ chức xã hội dân sự để từng bước xây dựng xã hội công dân có khả năng  kháng cự lại những lạm dụng của nhà cầm quyền.

 

Có lẽ đã đến lúc những người cộng sản phải nghĩ đến khẩu hiệu “thay đổi hay là chết”. Tuy nhiên người dân không chỉ trông chờ vào sự thay đổi tự thân của nhà cầm quyền mà người dân cũng phải “thay đổi hay là chết”. Nếu đại bộ phận nhân dân cứ thờ ơ, vô cảm hay cúi đầu chấp nhận những bất công áp bức đè lên số phận mình thì không ai có thể cứu được.

 

Sợ hãi và phản kháng.

 

Từ khi cả nước quy về một mối, hai miền cùng dưới một chế độ, người dân Miền Nam không có “bề dày sợ hãi” lâu dài như dân Miền Bắc, nhưng lại có “cường độ sợ hãi” nặng nề hơn, vì thuộc phe chiến bại, dính líu đến “ngụy quân ngụy quyền”. Do đó, tuy thời gian trước, sống trong chế độ tương đối có tự do dân chủ, người dân có tinh thần phản kháng và đã được tập dượt,  rèn luyện qua những cuộc đấu tranh chống chính quyền, đến giai đoạn này cũng trở nên liệt kháng, không khác gì người dân Miền Bắc. Thống nhất đất nước đã đi kèm theo với thống nhất nỗi sợ dưới chế độ độc tài toàn trị.

 

Qua phân tích trên đây, ta có thể thấy tại sao sự liệt kháng vì sợ hãi lại có thể kéo dài đến thế. Sự sợ hãi càng lớn, càng lâu thì chế độ độc tài càng được củng cố vì không có ai dám  chống lại. Tuy nhiên, niềm hi vọng của dân tộc vẫn còn vì tinh thần phản kháng trong nhân dân chưa bị triệt tiêu hoàn toàn mà đã từng bước hồi sinh, tuy có chậm chạp. Các tầng lớp nhân dân, từ trí thức, văn nghệ sĩ, chức sắc các tôn giáo, các “dân oan” bị cướp nhà cướp đất, sinh viên và bộ phận trí thức trẻ, cho đến các cán bộ, đảng viên có tư tưởng cấp tiến trong guồng máy đã dần dần bộc lộ sự phản kháng đối với chế độ độc tài toàn trị, ngày càng mạnh mẽ hơn.

 

Những sự kiện trên đây là điều nhiều người đã biết nhưng khi đặt vào sự phân tích theo quá trình thời gian giúp ta thấy rõ hơn ý nghĩa tích cực trong việc đấu tranh chống độc tài toàn trị. Qua đó ta cũng thấy được thực chất của tình hình để không nóng vội, ảo tưởng hay thất vọng mà phải có cái nhìn tỉnh táo và thực tiễn. Sức mạnh tinh thần của một dân tộc đã bị chế độ độc tài toàn trị làm cho suy yếu trong một thời gian dài nên sự hồi phục cũng cần có thời gian và những biện pháp thích hợp. Chỉ đến lúc dân tộc thoát ra khỏi sợ hãi, biết và dám phản kháng trước cái xấu, cái ác, trước bất công áp bức, lúc đó dân tộc mới có thể xóa bỏ chế độ độc tài toàn trị, sống như những con người tự do và xây dựng được một đất nước văn minh trong cộng đồng nhân loại.

 

Góp ý Dự Án Chính Trị Dân Chủ Đa Nguyên 2015

 

 Quan niệm về quốc gia dân tộc.

 

Đọan văn sau đây và nhiều đoạn khác thể hiện quan điểm về vấn đề này trong dự án:

“Cảm giác yên tâm trong sự gần gũi, sự lo sợ cái lạ và người lạ, liên hệ huyết thống, sự ràng buộc với lịch sử và văn hóa cổ truyền, sự quyến luyến với mảnh đất quen thuộc, sự thoải mái trong việc giao tiếp với những người cùng một tập quán và nếp sống, v.v... tất cả đều trở thành không quan trọng và ngày càng không quan trọng trong một thế giới cho phép sự trao đổi trực tiếp và tức khắc, kể cả làm việc chung, giữa những con người ở hai đầu trái đất và trong đó con người di chuyển và tiếp xúc thường xuyên, thu nhận hàng ngày đủ loại thông tin, hình ảnh và ý kiến.  Quả đất đã là quê hương bé nhỏ chung của cả loài người và hạnh phúc cá nhân đã trở thành giá trị cao nhất.  Những tình cảm truyền thống đã đóng góp tạo ra tinh thần quốc gia dân tộc ngày càng bộc lộ tính thủ cựu và hạn hẹp của chúng.

…

 

Trong các yếu tố cấu tạo ra quốc gia, lãnh thổ không còn giá trị tuyệt đối, con người có thể yêu nước và đóng góp cho đất nước dù sống ở bất cứ nơi nào.  Di sản lịch sử, văn hóa và ngôn ngữ cũng đã giảm tầm quan trọng.  Chính quyền cũng không quan trọng.  Quan niệm một tổ quốc thiêng liêng mà mọi người phải phục tùng, tôn kính và phục vụ một cách không điều kiện lại càng lỗi thời.  Còn lại những con người và dự án tương lai chung, hai yếu tố cấu tạo của quốc gia mà tầm quan trọng ngày càng tăng lên.”

 

Tôi nghĩ dù hiện nay là thời đại toàn cầu hóa nhưng cũng không vì thế xóa nhòa được ranh giới quốc gia. Trong một quốc gia, lãnh thổ và ngôn ngữ vẫn luôn là yếu tố quan trọng hàng đầu. Lãnh thổ một quốc gia không thay đổi, trừ khi bị xâm lược, và đã được định hình từ hàng trăm, hàng ngàn năm. Những người sống trong lãnh thổ đó chia sẻ và ràng buộc với nhau từ đất đai, rừng biển đến lịch sử, văn hóa, tình cảm, gia tộc... không dễ bị xóa nhòa. Ngôn ngữ, nhất là đối với các dân tộc nói chủ yếu một thứ tiếng riêng biệt như Việt Nam, ít người thông hiểu các ngoại ngữ, lại càng làm cho người ta gắn bó và cần thiết nhau hơn.

 

Dĩ nhiên trong thời đại toàn cầu hóa, với phương tiện công nghệ thông tin hiện đại, người Việt ở khắp nơi trên thế giới vẫn có thể phục vụ cho đất nước Việt Nam quê hương nhưng thử hỏi trừ thế hệ thứ hai, thứ ba hoàn toàn hội nhập với đất nước sở tại (đã trở thành công dân của nước khác, đa số không nói được tiếng Việt hay nói không trôi chảy, không hiểu rõ lịch sử, văn hóa VN, nếu họ có giúp VN cũng như giúp một nước nào đó ở châu Phi), thế hệ thứ nhất - những người Việt sống ở nước ngoài có thể hội nhập được không? Những người Việt sống ở các “ Little Saigon”, “Vietnam town” trên các nước mà không rành ngoại ngữ có phải đã co cụm lại trong cộng đồng của mình, hầu như không giao lưu được với dân bản xứ, nói gì đến hội nhập. Ngay cả các trí thức giỏi ngoại ngữ, làm việc trong các cơ quan, công ty nước sở tại hàng vài chục năm, có thể thân thiết và hiểu rõ người bản xứ như đối với đồng hương không? Những người này có mặc cảm “lưu vong” và có từng mơ ước được một lần hay mãi mãi trở về nơi quê hương cố thổ khi điều kiện cho phép?

 

Những người dân nghèo khổ trong nước, ở vùng sâu vùng xa, các dân tộc ít người, chiếm đa số trong nước, có thể hội nhập vào đâu trong thời đại toàn cầu hóa hay chỉ có thể sinh sống bình an trên mảnh đất quê hương ngàn đời? Ngoài ra trừ những trường hợp được quy định theo pháp luật của từng nước, có dễ dàng không khi muốn nhập cư một nước khác? Liên Hiệp Châu Âu hay các cộng đồng khu vực như Asian, các liên minh nhiều nước đã có chỉ mở rộng giao lưu, dễ dàng đi lại mua bán làm ăn nhưng không hề xóa nhòa ranh giới. Nhiều nước vẫn hạn chế nhập cư gắt gao và một số bộ phận dân các nước phương Tây vẫn có tư tưởng kỳ thị, bài ngoại.  Một số rất ít quốc gia bị tan vỡ hay giải thể vì những lý do chính trị, địa lý, xung đột sắc tộc bắt nguồn từ những nguyên nhân tích tụ từ quá khứ chứ không phải tan rã tự thân vì thiếu tinh thần quốc gia dân tộc.

Do đó những quan điểm về quốc gia đưa ra trong DACT là những nét mới, thoáng, giúp mở rộng tầm nhìn và điều chỉnh những hẹp hòi trong chủ nghĩa dân tộc cực đoan nhưng không nên quá cường điệu, đẩy thành một thứ cực đoan mới. Xác định đúng đắn vấn đề này mới có thể đưa ra những sách lược phù hợp.

 

Đấu tranh có tổ chức.

 

Trích: “Để giành thắng lợi dứt khoát trong mặt trận tư tưởng và lý luận chính những người dân chủ phải có tư tưởng và lý luận đúng. Cố gắng đầu tiên và quan trọng nhất là thuyết phục những người muốn đóng góp cho cuộc vận đông dân chủ, trí thức cũng như quần chúng, rằng đấu tranh chính trị không bao giờ có thể là đấu tranh cá nhân cả mà luôn luôn chỉ có thể là đấu tranh có tổ chức. Cuộc đấu tranh để chấm dứt chế độ độc tài đảng trị và thiết lập dân chủ là một cuộc đấu tranh chính trị rất khó khăn. Nó phải có tổ chức, và tổ chức không thể thành hình nhanh chóng được mà đòi hỏi những cố gắng thông minh và bền bị trong rất nhiều năm. Nhưng xây dựng tổ chức là điều không thể tiết kiệm. Các chuyên gia, nhà bình luận, văn nghệ sĩ có thể đóng góp với tư cách cá nhân những thông tin, lý luận và tình cảm có lợi cho cuộc vận động dân chủ nhưng họ không đánh bại được chế độ độc tài, đánh bại được chế độ độc tài hay không là ở các tổ chức dân chủ. Chúng ta trân trọng những đóng góp đó nhưng cũng phải nhận định giới hạn của chúng. Ngược lại những người này cũng cần nhìn thấy giới hạn của chính mình và nhìn nhận sự cần thiết của tổ chức, ngay cả nếu họ có những lý do riêng để không tham gia một tổ chức nào. Đấu tranh chính trị mà không tham gia một tổ chức nào phải được coi là một ngoại lệ chứ không thể là một thông lệ.

 

Vấn đề là hiện nay vẫn còn nhiều người nghĩ rằng có thể đấu tranh cho dân chủ mà không tham gia một tổ chức nào cả. Một số còn tự hào là không thuộc tổ chức nào, coi đó là dấu hiệu của tinh thần khách quan và đúng đắn. Họ cần được cảnh tỉnh rằng đây là một thái độ rất sai, có hại cho cuộc vận động dân chủ và mâu thuẫn với uớc vọng của chính họ. Họ cần hiểu rằng đấu tranh chính trị cá nhân chỉ thực sự có hiệu quả nơi một số rất ít người có uy tín và trình độ rất cao hoặc có địa vị rất đặc biệt, trong gần như mọi trường hợp tác dụng tích cực không bằng tác dụng tiêu cực là đánh lạc sự chú ý khỏi cố gắng đúng đắn và cần thiết nhất, nghĩa là xây dựng tổ chức dân chủ.” (3.2 Phần VII)

 

Đành rằng đấu tranh chính trị dứt khoát phải có tổ chức nhưng có nên bài bác một cách cực đoan rằng những người tham gia đấu tranh dân chủ bằng hình thức riêng của họ, không tham gia tổ chức đều là sai lầm, có hại. Không phải ai cũng muốn tham gia tổ chức và cũng không thể bắt buộc họ tham gia tổ chức, đó là điều tự nhiên và cũng là thực tế hiển nhiên của xã hội. Những tiếng nói lên án, các tác phẩm văn học nghệ thuật có nội dung phê phán mạnh mẽ, ở các chừng mực khác nhau đều góp phần thức tỉnh quần chúng, tạo nên sự oán ghét chế độ độc tài, vậy có phải họ đã góp phần vào cuộc vận động dân chủ  với 2 nội dung 1 và 2 của DACT này? Lên án những người này cũng không thay đổi được thực tế và chẳng khác nào tự làm mình bớt đi đồng minh, làm yếu đi sức mạnh tổng hợp.

 

Phản biện và phản kháng với trí thức Việt Nam.

 

Trong lịch sử Việt Nam, nhiều người đánh giá trí thức chưa được hình thành như một tầng lớp có ảnh hưởng quyết định đến bước tiến của xã hội. Thời phong kiến cũng như các chế độ sau này, sĩ phu ngày xưa và trí thức ngày nay chỉ là tầng lớp thừa hành cho vua chúa và những người cầm quyền. Họ không có tiếng nói quyết định và chỉ đóng vai trò mờ nhạt. Thậm chí còn có người chê bai, dè bỉu là trí thức luôn hèn nhát và chỉ có thân phận tôi đòi, con hát cho các chế độ. Đây là một vấn đề lớn cần phân tích và bình luận thấu đáo.

 

Vì không chịu chỉ hót trong lồng, từ phản biện, nhiều trí thức đã chuyển sang phản kháng, bằng tư tưởng và cả hành động. Có người chỉ dừng lại trong việc phản biện nhưng có người đã chuyển sang phản kháng dù phải trả giá đắt hơn. Những điều này dần dần đưa người cầm quyền vào chỗ mất tính chính danh, bị cô lập và mất lòng tin của quần chúng khi quần chúng dần được thức tỉnh. Những khẩu hiệu sáo rỗng về vai trò của trí thức trong các cương lĩnh, nghị quyết của đảng không còn chút giá trị thuyết phục nào khi thực tiễn hoàn toàn ngược lại.

 

Năm 2005, khi thăm Tháp Bút ở hồ Hoàn Kiếm Hà Nội, tôi có cảm hứng để viết bài “Tả thanh thiên” (đăng ở diễn đàn talawas)  cũng nói về vai trò của trí thức trong việc “tả thanh thiên” – viết lên trời xanh. Ngòi bút viết lên trời xanh chỉ có thể là viết về nỗi thống khổ của con người, về sự hà khắc tàn bạo của thế lực cầm quyền. Viết lên trời xanh là để kêu gào. Viết lên trời xanh là để gởi tới con người và gởi tới mai sau khi ngòi bút, những người cầm bút bị kềm hãm, phong tỏa. Viết lên trời xanh là hành động can đảm của người cầm bút chống lại chế độ độc tài thống trị.

 

Ở đây tôi muốn nói thêm: Giá trị của trí thức là ở tư tưởng, tiếng nói, ngòi bút tự do. Nếu trí thức chỉ im lặng như bầy cừu, chỉ đi dọc “lề bên phải” theo chiếc gậy của người chăn, lúc đó trí thức đáng bị xem như hạng tôi đòi. Nhà cầm quyền nếu không biết tôn trọng, lắng nghe tiếng nói của trí thức (thực sự là “nguyên khí quốc gia” chứ không phải chỉ là khẩu hiệu suông và lời nói giả dối), trong thời đại toàn cầu hóa và kinh tế tri thức này, sẽ chỉ đưa đất nước và dân tộc đến chỗ lạc hậu, tù hãm và đau khổ kéo dài.

 

Bỏ Đảng và Đảng bỏ.

 

Hiện nay bao nhiêu người đã suy tư và hành động tìm một giải pháp cho đất nước và vấn đề phải giải quyết đầu tiên chính là Đảng. Nếu không muốn hoặc không thể xóa bỏ vai trò của Đảng, nếu không muốn hoặc không thể tạo ra bạo loạn, lật đổ, chỉ có hai cách: Hoặc làm cho Đảng bớt xấu hơn, phải “tự chuyển hóa, tự chuyển biến” theo chiều ngược lại với đà suy thoái hiện nay. Hoặc dùng sức ép của đại bộ phận nhân dân buộc Đảng phải thực hiện ý chí và khát vọng của người dân.

Nhận định “nhân dân nào, chính quyền đó” phản ánh thực tế của lịch sử ở mọi quốc gia, mọi thời đại. Trí thức thường được đánh giá và cũng tự cho là tinh hoa của dân tộc, dẫn lối cho dân tộc. Muốn làm được điều này, trong tình huống cực đoan hiện nay và trong câu chuyện liên quan đến giáo sư Chu Hảo, phải chăng mỗi trí thức, nhất là trí thức đảng viên, không thể từ chối câu trả lời và quyết định thái độ của mình.

 

Chuyện tình của trí thức với Đảng

 

Nếu thừa nhận có một thứ lý tưởng gọi là “lý tưởng cộng sản” và có những người gọi là “cộng sản chân chính”, khác với các đảng cộng sản, chủ nghĩa cộng sản, chế độ cộng sản ở những nước độc tài toàn trị mà lịch sử đã chứng minh là tội ác của nhân loại, đáng vứt vào sọt rác lịch sử, thì cách nhìn nhận vấn đề vào đảng, bỏ đảng sẽ đầy đủ, sâu sắc hơn và có thể mở ra một hướng đi. Khái niệm này có lẽ sẽ gây ra rất nhiều tranh cãi và ý kiến nghịch chiều.

Đảng CSVN hôm nay rõ ràng không còn gì chung cùng với những người cộng sản chân chính như thế cả. Nếu không có sự phân ly, tất cả lý do đều không còn chính đáng hay được biện minh.

Dù thế nào, cho đến tận hôm nay, tôi vẫn còn bị lôi cuốn bởi lời bài Quốc tế ca:

“Vùng lên hỡi các nô lệ ở thế gian.

Vùng lên hỡi ai cực khổ bần hàn”

Bao nhiêu người trên trái đất này còn bị đọa đày. Ở Việt Nam, người dân bị bóc lột, cướp đoạt đến cùng quẫn không những chỉ bởi bộ máy cường quyền và các nhóm lợi ích trong giai cấp thống trị mới mà còn bởi không ít các doanh nghiệp tư bản ngoại quốc chỉ vì lợi nhuận.

Tuy nhiên tôi không đồng ý với câu “Bao nhiêu lợi quyền tất qua tay mình” hẹp hòi ích kỷ và càng không đồng ý “Đấu tranh này là trận cuối cùng”. Cuộc đấu tranh không bao giờ kết thúc khi còn loài người, còn bất công áp bức nhưng nên là cuộc đấu tranh không đổ máu và hận thù chứ không phải bằng chuyên chính vô sản, đấu tranh giai cấp và bạo lực cách mạng đầy máu và nước mắt như các Đảng Cộng sản đã tiến hành nhưng không bao giờ thực hiện được lý tưởng cộng sản.

(20/11/2018)

Dấu ấn suy tư và kỷ niệm với trang web Bauxit

 

Tôi vẫn tiếp nối cuộc hành trình của mình và Bauxit rõ ràng đã là nơi tiếp sức đúng lúc cho talawas, nơi tôi đặt niềm tin và trao gởi suy tư của người cầm bút trước những vấn đề thời cuộc sát sườn cũng như những vấn đề có tính chiến lược cho cuộc đấu tranh vì một ngày mai tự do cho đất nước.

Trong vài năm liên tục, những bài viết của tôi tập trung vào mấy chủ đề: Vai trò của trí thức, cuộc chiến chống Trung Quốc xâm lược, về phong trào sinh viên học sinh và sự hiệp đồng chiến đấu giữa các thế hệ.

Một trang web không là gì cả nếu người ta không truy cập tới nhưng nếu trang web đó có sức thu hút lớn, mang lại được điều gì quan trọng trong hành trang tinh thần và sự thức tỉnh của dân tộc, đó chính là một viên đá lót đường vững chắc trên con đường dân chủ hóa và phát triển, một ngọn hải đăng cho những con tàu đang vật vã trên đại dương mênh mông sóng dữ.

 

Một trải nghiệm về dạy và học môn Việt văn ở Miền Nam trước 1975.

 

Chương trình mỗi lớp do Bộ Giáo dục ấn định, có tích cách rất tổng quát, chỉ quy định lớp nào học các tác giả nào, thời kỳ văn học nào, mỗi phần học mấy tuần hay mấy tháng. Không có “sách giáo khoa pháp lệnh” của nhà nước mà chỉ có một số sách do tư nhân, là các giáo sư dạy văn biên soạn, bán trên thị trường. Các sách này cũng chỉ dùng để tham khảo, vì mỗi giáo sư phải tự soạn lấy bài giảng của mình. Giáo sư phải sử dụng kiến thức học ở đại học, nghiên cứu tìm tòi thêm để soạn bài, không những để đạt yêu cầu theo chương trình mà còn mang dấu ấn cá nhân của người soạn. Một giáo sư tài hoa sẽ có những bài giảng tài hoa, uyên bác, gây ấn tượng mạnh trong nhiều thế hệ học sinh.

Thời gian quy định giảng dạy cho các phần trong chương trình mỗi lớp chỉ có tính cách tương đối, giáo sư có thể “du di” theo ý mình, miễn là cuối năm hoàn tất chương trình, nhất là các lớp cuối cấp phải đi thi. Tôi có thể dành đến 3 tháng để dạy về truyện Kiều, gấp đôi thời gian quy định, để gởi gắm thêm tâm trạng và những suy tư của mình về định mệnh và kiếp người. Thích tinh thần phản kháng, ngang tàng và tài hoa của Cao Bá Quát, tôi dành thời gian gấp đôi thời gian dành cho Nguyễn Công Trứ dù hai tác giả này được quy định thời gian tương đương. Có thể nói tôi đã tung hoành trong bài giảng của mình, thể hiện mình thông qua các tác giả. Đặc biệt trong những lớp ban C, tức ban văn chương ở đệ nhị cấp (cấp 3), mà học sinh cũng là những cô cậu mới lớn có tâm hồn lãng mạn, thích văn chương theo học, thầy trò lại càng đi sâu vào những khía cạnh tâm lý phức tạp của nhân vật chứ không phải chỉ là những kiến thức giáo khoa. Đó cũng là một phần của quan niệm “dạy văn tức là dạy người”. Người dạy người không phải dễ, dù đó là giáo sư văn chương được đào tạo bài bản. Người dạy không những có kiến thức mà còn phải có lý tưởng, nhân cách, am hiểu sự mong manh tế nhị, nhạy cảm của tâm hồn và sức thuyết phục toát ra không chỉ  từ  bài giảng mà còn từ toàn bộ cuộc sống của mình.

 

Lúc mới ra trường, tôi dành cả nửa tháng trời để suy nghĩ và chuẩn bị cho giờ học đầu tiên ở mỗi lớp. Không có chuyện quy định giờ nào phải dạy bài nào, dạy không xong sẽ “cháy giáo án”. Giờ học đầu tiên là cách “trình diện” trước học sinh, thế hệ đàn em, về lý tưởng, hoài bảo và phương pháp của một giáo sư văn chương. Đó là tâm tình của một người đàn anh trong 4 năm đại học đã trải qua nhiều biến động và trưởng thành trong những sóng gió của đất nước thời chiến. Thời kỳ đó đã tác động mạnh vào tuổi trẻ học đường, buộc những chàng trai trẻ sinh viên không chỉ biết học, bạn bè, yêu đương mà còn suy tư, đối diện với những vấn đề lớn của đất nước và dấn thân bằng hành động. “Giây phút đầu tiên” này không chỉ đầy xúc động đối với người thầy mà cũng còn là những giây phút khó quên đối với học sinh mà họ vẫn còn lưu giữ trong ký ức, mãi đến mấy chục năm sau vẫn còn được nhắc lại khi thầy trò gặp nhau và đầu đều đã điểm bạc. Và những khi thầy trò đều chán nản, uể oải vì một lý do nào đó, thầy sẵn sàng ngưng dạy bài học để cùng nhau nói chuyện đời. Đôi khi những câu chuyện này lại có ích cho cả thầy và trò hơn những kiến thức giáo khoa khô chết. Nếu chỉ bám vào giáo khoa làm sao đối diện được với cuộc sống hiện tại mới mẻ và muôn vàn biến động. Đôi khi chính những giờ phút “phi chính thống” này lại mang đến hứng thú, sức hấp dẫn cho những giờ dạy và học văn chương.

Khi được học sinh tin cậy trao gởi những điều trọng đại trong cuộc đời, người thầy phải luôn tự vấn mình phải làm gì để xứng đáng với sự tin cậy đó.

Vì tất cả những điều trên và những gì tương tự, có lẽ hình ảnh một giáo sư văn chương trong mắt học sinh có cái gì khá đặc biệt. Đó là hình ảnh một người thầy có sức hấp dẫn bởi sự uyên bác, tài hoa và có chất lãng mạn – nghệ sĩ. Những bài giảng về văn chương là bài giảng về tâm hồn, về cảnh ngộ con người trong nhiều hoàn cảnh sống, về nhân sinh quan, về nghệ thuật thơ văn đi vào lòng người chứ không phải chỉ là kiến thức. Kiến thức có đầy trong sách nhưng truyền được ngọn lửa cho thế hệ trẻ đòi hỏi người thầy phải có tài năng đặc biệt trong nghệ thuật thuyết phục và  giáo dục.

 

Suy niệm về cuộc đời.

 

Chương một: Nhìn lại bản thân

 

Cá nhân

 

Tôi là ai? Tôi từ đâu đến? Tôi sẽ đi về đâu? Những câu hỏi mà triết học và từng con người đã đặt ra từ muôn thuở nhưng vẫn không thôi tìm kiếm câu trả lời.

Đối với mỗi người, có lẽ cái tôi đáng yêu và đáng quý nhất. Tôi có mặt. Tôi nhận thức. Tôi hành động. Tôi hưởng thụ. Tôi khao khát. Tôi cống hiến. Tôi yêu thương. Tôi thù hận. Tôi chiến đấu... Không có tôi sẽ không có gì cả, không có tất cả. Vậy thì cái tôi là căn bản nhất, lớn lao nhất, đáng yêu đáng quý nhất.

Nhưng cái tôi cũng quá nhỏ nhoi và vô nghĩa. Tôi chỉ là một cá thể trong hàng tỉ tỉ người đã có mặt và mất đi trên hành tinh này. Có người còn lại chút lưu vết trong lịch sử. Vô số người mất tăm tích trong cát bụi thời gian. Ngay bây giờ hay một ngày tháng nào đó gần hay xa tôi sẽ chết đi. Điều đó hoàn toàn chắc chắn. Một đám tang. Mấy dòng cáo phó. Những giọt nước mắt của người thân. Vài kỷ niệm được gợi lên trong bạn bè. Rồi tất cả sẽ qua, qua đi nhanh chóng như chưa từng xảy ra. Tôi không để lại gì và cũng không mang theo được gì.

Đó là mâu thuẫn lớn lao đầu tiên và vĩnh viễn của từng cá nhân cứ mãi mãi sinh thành và hủy diệt.

 

Một số ít người trở thành vĩ nhân và điều họ làm được không phải chỉ do chính họ, dĩ nhiên do cá nhân họ là chủ yếu, nhưng cũng có sự góp sức của những người chung quanh bằng cách này hay cách khác. Có thể là cha mẹ, anh em, bạn bè, những người giúp đỡ trong lúc khó khăn, những người tạo điều kiện cho tài  năng họ phát triển. Ta chịu ơn họ và họ cũng chịu ơn ta, những con người vô danh. Ta ngưỡng mộ họ nhưng ta không tự hạ mình thành những tên nô lệ hèn kém.

 

Tôi ơi, hãy lựa chọn cho mình một con đường, một cách thế sống trước khi quá muộn.

 

Gia đình

Hầu hết mọi người đều từng sống trong một gia đình và có kinh nghiệm bản thân về gia đình. Đó là kinh nghiệm sâu xa nhất của mỗi người vì nó bắt đầu từ khi ta lọt lòng cho đến khi ta chết đi, kể cả những lúc ta không sống trong gia đình.

 

Kinh nghiệm về gia đình rất riêng tư, phong phú và đa dạng. Những cảm nhận về yêu thương, hạnh phúc, đau khổ, cô đơn, thù hận và mọi sắc thái tình cảm khác đều có thể phát sinh và tồn tại trong một gia đình.

 

Gia đình chiếm một nửa đời ta nhưng gia đình không là tất cả cuộc sống. Trong gia đình còn có bản thân, ngoài gia đình có bạn bè, công việc, sự nghiệp , xã hội mà ta phải dành bao nhiêu thời gian, sức lực và tâm huyết. Để cuộc sống gia đình hòa hợp với cuộc sống xã hội cũng là một nghệ thuật trên cơ sở có quan điểm đúng đắn. Gia đình vừa cụ thể, vừa trừu tượng, là một gánh nặng nhưng đừng để nặng đến oằn lưng, thậm chí gẫy xương sống. Gia đình là tổ ấm, là nơi dịu dàng để ta có thể trở về sau những lúc căng thẳng, mỏi mệt, thất bại trong cuộc sống lớn chứ không phải làm ta phát điên lên vì lại rơi vào sự căng thẳng, xung đột gay gắt hơn. Gia đình tạo cho ta sức mạnh và niềm tin để đi tới, vượt qua những khó khăn trở ngại chứ không phải làm ta thêm tuyệt vọng để tròng vào cổ mình một sợi dây oan nghiệt hay dốc hết một lọ thuốc vào mồm.

 

Có gia đình nhưng cũng có thể không có gia đình tùy người ta lựa chọn hay số phận bắt buộc. Không gia đình là cô đơn và tự do, tự do trong cô đơn và cô đơn để tự do. Không gia đình nhưng không cô đơn nếu lựa chọn và chấp nhận được cả trần gian là gia đình. Gia đình là chia sẻ và ràng buộc. Chia sẻ sâu xa và ràng buộc nặng nề có thể mang lại hạnh phúc hay bất hạnh hoặc cả hạnh phúc và bất hạnh. Điều đó tùy thuộc vào nghệ thuật sống, trên tất cả là tình yêu thương vẫn nồng nàn sau khi trải qua mọi ngọt bùi cay đắng.

 

 

Bằng hữu.

 

Người bạn đích thực là ai? Đó là người thân không cùng máu mủ nhưng có thể chia sẻ với ta mọi điều, đôi khi còn dễ dàng thoải mái hơn với cha con, vợ chồng, anh em. Có bạn làm cho tình người và cuộc đời thêm nồng ấm, giúp ta bớt cô đơn trong kiếp làm người.

 

 Nói ‘người bạn đích thực” nghĩa là có nhiều loại bạn và trong số đó chỉ có một hay vài loại, một hay vài người được coi là bạn chân chính.

 

Đáng buồn thay cho những ai không có bạn chân chính, không là bạn chân chính. Nhưng trong thời đại này, làm người bạn chân chính không phải dễ. Những gì ta mong ước, đòi hỏi ở người  bạn chân chính là những gì hơi tuyệt đối mà cuộc đời lại rất tương đối. Bạn và cả chính ta cũng có lúc yếu đuối nhỏ nhen. Không phản bội nhưng đôi khi hèn nhát. Không ích kỷ nhưng chưa đủ vị tha. Không hẹp hòi nhưng chưa đến mức bao dung. Không thành kiến nhưng mang mầu sắc bảo thủ... Bạn chịu nhiều chi phối khác khi quan hệ với ta và ta cũng vậy. Bạn chưa phải tất cả vì ta và ta cũng chưa phải tất cả vì bạn.

 

Đó chính là sự không hoàn hảo của cuộc sống. Đành vậy thôi. Dù sao nên mở lòng để đón chờ người bạn chân chính, phấn đấu để trở thành người bạn chân chính và cố hết sức giữ gìn tình bạn chân chính đến suốt đời.

Tình bạn chân chính không biên cương, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, mầu da, quốc tịch hoặc bất cứ sự phân biệt nào. Tình bạn chân chính là những viên kim cương quý giá mà mọi người đều có thể thủ đắc trong cuộc sống.

 

Tình yêu.

 

Khi nói đến tình yêu, ta thường nghĩ đến tình yêu trai gái. Phải. Vì tình yêu trai gái là tự nhiên, mãnh liệt, sôi nổi, nồng nàn nhất có thể có ở mọi lứa tuổi từ lúc dậy thì. Đó là sự khao khát người khác phái với cả thể xác và tâm hồn. Trong đời, người ta có thể chỉ yêu một lần, một người hay yêu nhiều lần, nhiều người. Sự rung động trong tình yêu làm ta cảm nhận được hạnh phúc khi cảm thông, chia sẻ và hòa hợp với một người khác phái. Dù sau đó trải qua bất cứ điều gì, hồi tưởng lại, tình yêu này vẫn là cái gì đẹp đẽ nhất trong cuộc đời. Đừng bao giờ, vì bất cứ lý do nào, làm hoen ố tình yêu này để trở thành kẻ bất hạnh.

 

Vượt lên tất cả, lớn lao hơn tất cả là Tình Yêu Vũ Trụ, Tình Yêu Thượng Đế, hiểu như cái gì là căn nguyên, là năng lực sáng tạo, là ý thức tối cao và vô biên chi phối toàn thể vũ trụ. Tình yêu này khó đạt đến vì nó vượt lên trên nhận thức thường nhỏ bé hữu hạn của con người.

 

Tình Yêu Vũ Trụ chi phối và điều hướng mọi tình yêu khác, giải quyết sự mâu thuẫn giữa các tình yêu khác. Khi hiểu rằng mọi vật đều là biểu hiện của Đấng Tối Cao, của Ý Thức Sáng Tạo Vĩ Đại thì Tình Yêu Lớn Thực Sự sẽ chan hòa. Người ta không những chỉ yêu người yêu, yêu những con người nhân hậu mà còn yêu những kẻ độc ác, yêu một con chim và một con kiến, yêu một cành hoa và một ngọn cỏ, yêu mặt đất và yêu bầu trời, yêu các tinh vân lấp lánh trong vô số giải ngân hà trùng điệp.

Tình Yêu Vũ Trụ chỉ có được và khởi phát khi ta quay hướng vào nội tâm, xuyên phá được sự vô minh đang trùm phủ để băng vào, hòa nhập với cõi vô cùng. Chính tình yêu này mới là tương lai của một nhân loại và vũ trụ hòa bình và hạnh phúc như con người vẫn thường mơ ước.


Cô đơn

Có phải tự bản chất con người là cô đơn. Cô đơn là định mệnh của kiếp người. Tôi sinh ra một mình và chết đi một mình, dù có sinh đôi sinh ba hay chết tập thể trong một tai nạn, tôi vẫn là sống chết một mình.

 Khi cô đơn tôi cảm thấy lẻ loi, yếu đuối và khao khát người khác, có thể là người thân yêu hoặc bất cứ ai. Tôi muốn có người bên cạnh, tôi muốn nghe, muốn thấy, muốn cảm nhận, muốn ôm ấp, muốn hít thở mùi da thịt con người và thấy người khác xiết bao quan trọng và cần thiết.

 Đôi lúc tôi muốn đắm chìm trong cô đơn, nghiền ngẫm, gậm nhấm nỗi cô đơn của mình như một lạc thú đau thương. Tôi can đảm đối diện với chính tôi, nhìn rõ chính tôi, tự thương mình và thấy mình cao cả. Tôi không sợ cô đơn. Cô đơn là lò luyện bản thân tốt nhất.

Nếu tôi biết tin tưởng, tôi không bao giờ cô đơn. Một vị thầy tâm linh Ấn Độ nói: ‘Bạn không bao giờ cô đơn và không được giúp đỡ. Lực hướng dẫn các vì sao cũng  sẽ hướng dẫn bạn.” Và lúc đó “Tôi không bao giờ cô đơn. Cái vĩ đại luôn ở cùng tôi.”

 

Hận thù.

 

Hận thù là tình cảm đáng sợ nhất của con người. Con người có thể hành hạ, chà đạp, tiêu diệt nhau không chút tiếc thương khi sự thù hận nổi lên. Sự thù hận chi phối, che mờ tất cả những gì được coi là cao quý trong con người để dành chỗ cho cái ác, sự tàn bạo thống trị.

Hận thù bắt nguồn từ những điều có lý và phi lý, từ những việc nhỏ nhặt cho đến những chuyện lớn lao.

 

Làm thế nào để hóa giải, chấm dứt hận thù là câu hỏi bao lần được đặt ra và làm quặn thắt những tâm hồn nhân bản.

Nhà Phật nói: “Lấy oán báo oán, oán oán chập chồng. Lấy ân báo oán, oán oán tiêu tan.” Đạo Thiên chúa khuyên: “Hãy yêu thương kẻ thù.” Một giải pháp rất đúng nhưng ít người thực hiện được và đó lại là giải pháp duy nhất khi oán thù đã khởi phát.

 

 

Có lẽ cần phải đặt vấn đề từ trước khi có hận thù , làm sao không có hận thù. Nếu không có người làm điều ác, gieo rắn hận thù thì sẽ không có hận thù, không cần giải quyết hận thù. Nếu con người thực sự nhân ái sẽ không làm tổn thương đến đồng loại. Nếu con người nghĩ đến hậu quả khi gây ra oán thù sẽ không dám gây thù chuốc oán. Nhưng tất cả chỉ là “nếu”. Hận thù đã và vẫn sẽ xẩy ra, đã và sẽ tiếp tục làm hoen ố bộ mặt và lịch sử con người.

 

Muốn thoát khỏi hận thù, cao hơn là muốn “lấy ân báo oán”, “yêu thương kẻ thù”, con người có thể làm được khi tìm kiếm nơi chính mình, đòi hỏi nơi chính mình lòng bao dung và tha thứ. Trong mỗi người có thuốc chữa cho mọi căn bệnh thể xác và tinh thần. Nhưng tìm kiếm bản thân đôi khi còn khó hơn tìm trầm trong rừng sâu, tìm vàng dưới đáy biển hay khám phá các hành tinh khác.

 

Bao dung.

 

Tôi là một cá thể đơn lẻ và duy nhất, không giống ai. Tôi có quá trình, hoàn cảnh, trình độ, cách nghĩ, cách sống riêng có thể khác biệt với mọi người, kể cả cha mẹ, anh em, vợ chồng, người yêu, bè bạn. Tôi muốn là tôi, không bị đồng hoá, phục tùng ai khác. Vậy tại sao tôi lại muốn người khác phải nghĩ, sống như mình. Tại sao tôi không thể chấp nhận sự khác biệt nơi người khác. Tôi cần mở lòng ra. Tôi không thể khắt khe độc đoán. Chừng đó tôi mới có thể cười với người và được người cười lại chứ không phải giơ nắm đấm vào mặt người để nhận lấy một đòn giáng trả.

 

Bao dung là nhận thức, là tình cảm, là giải pháp và chính là một cuộc đấu tranh với bản thân. Nhiều người có thể hiểu được giá trị của bao dung nhưng tự mình không làm được. Bao dung là chấp nhận sự khác biệt. Bao dung là mở lòng ra. Bao dung là không hận thù. Bao dung là tha thứ. Bao dung là miễn xá cho người. Bao dung cũng là nâng cao và tự cứu bản thân.

Chỉ có bao dung mới có thể cứu mỗi người và nhân loại khỏi bị hủy diệt vì sự xung đột và hận thù.

 

Đấu tranh.

 

Đấu tranh có đi ngược lại bao dung không? Câu hỏi có thể làm một số người phân vân vì ngay trong từ ngữ, đấu tranh đã mang ý niệm đối kháng, xung đột.

 

  Trước hết và quan trọng nhất là đấu tranh với chính bản thân. Trong mỗi người đều có mầm mống, xu hướng của thiện và ác, chính và tà. Luôn luôn có sự mâu thuẫn, xung đột giữa hai chiều hướng này và ai cũng có thể trở nên cao cả hay đê hèn hay cùng lúc mang hai bộ mặt của thiên thần và quỷ sứ.

 

Đấu tranh khi tối cần thiết phải bằng vũ lực nhưng tốt nhất là không dùng vũ lực, không gây đổ máu và thực hiện bằng những phương thức hòa bình. Đó là đấu tranh vì lý tưởng và không nuôi thù hận. Đấu tranh không phải để trả thù rửa hận, gây thêm oán, chuốc thêm thù mà để xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn. Đấu tranh không đi ngược lại lòng bao dung mà vì sự bao dung, chính là sự bao dung. Đấu tranh để ngăn chặn điều xấu – ác chứ không phải để hủy diệt con người.

Xét cho cùng, đấu tranh chính là cách sống, lẽ sống của mỗi người khi con người và xã hội còn bất toàn và những điều xấu – ác vẫn còn ngự trị.

 

Hạnh phúc.

 

Có vô vàn quan niệm, sắc thái về hạnh phúc. Có hạnh phúc bé mọn tầm thường và hạnh phúc cao cả. Có hạnh phúc chóng tàn và hạnh phúc dài lâu. Có hạnh phúc vị kỷ và hạnh phúc vị tha.

 Dù sao không nên vì hạnh phúc của mình mà làm tổn thương, thậm chí tước đoạt, chà đạp hạnh phúc của người khác, lúc đó hạnh phúc chỉ là sự thỏa mãn phi nhân và độc ác.

 Xét cho cùng, hạnh phúc là cho nhiều hơn nhận. Hạnh phúc lớn nhất là mang lại hạnh phúc cho người khác. Hạnh phúc nằm trong tầm tay của mỗi người nếu có quan niệm đúng đắn và biết sống vì những giá trị cao đẹp.

Hạnh phúc thực sự chỉ có trong hòa bình và tình yêu thương.

 

 Sám hối.

 

Mới nghe, đôi khi ta tưởng chừng như sám hối chỉ là một khái niệm và việc làm của các tôn giáo. Nhưng nếu sám hối là phản tỉnh, ăn năn về những sai lầm, tội lỗi của mình đã phạm thì đó lại là công việc của mọi người.

  Thường người ta hay sám hối lúc thất bại hay về già. Điều đó cần thiết nhưng hơi muộn. Dĩ nhiên muộn còn hơn không nhưng như thế tốt hơn là nên sám hối trong mọi lúc.

  Sám hối là tự vấn thường xuyên về những sai trái và biết nhận lỗi về mình. Đó là cách tốt nhất để hoàn thiện bản thân. Tự biện minh, đổ lỗi cho người khác chỉ làm người ta trở nên kiêu căng và độc ác. Chính sự sám hối mới giúp con người gần nhau, thông cảm, hòa hợp với nhau hơn. Ai cũng có thể phạm sai lầm và đôi khi phạm tội ác, vì vô tình hay cố ý, nên sám hối đối với ai cũng cần thiết. Đó chính là phương cách nhận lỗi và sửa lỗi chân thành và tự giác, không phải do bị ép buộc.

Sám hối trước tiên đó là vấn đề của cá nhân nhưng cũng còn là vấn đề của tập thể, trên nhiều lãnh vực, đặc biệt trong những vấn đề tư tưởng và liên quan đến số phận của hàng triệu triệu người.

Từng người phạm tội ác nhỏ nhưng một tập đoàn, một băng đảng, một giáo phái, một quân đội, một dân tộc có thể  phạm tội ác lớn hơn. Lịch sử loài người đã có biết bao trang bi thảm đẫm máu vì những cuộc xung đột, tàn sát dù những người trong cuộc có thể tự giác hay không.

Phải xem xét lại những tư tưởng, giáo điều, chủ nghĩa, luật lệ, chế độ nào tưởng rằng mang lại tự do, hạnh phúc nhưng thực tế chỉ đem đến nô lệ, áp bức, bất hạnh cho con người trên bao nhiêu quốc gia, ở bao nhiêu thời kỳ lịch sử.

  Những ai đã từng tin tưởng, tuyên truyền, ngợi ca, hiến thân, hành động cho những sai lầm đó không thể không sám hối và ăn năn sửa chữa.

Chiến thắng thực sự là thành công không có tội ác và không mang mầm hủy diệt.

 

Tuổi trẻ và tuổi già.

 

Khi còn trẻ, người ta ít khi hoặc không bao giờ nghĩ đến tuổi già nhưng về già người ta thường hồi nhớ về tuổi trẻ.

 Tuổi thanh xuân là thời kỳ đẹp nhất của đời người. Tuổi trẻ như hình ảnh một cánh chim tự do chao liệng trên bầu trời.

 

Tuổi già không nhất thiết hoàn toàn trái ngược với tuổi trẻ nhưng tuổi tác, sự từng trải, sự chín chắn, những ràng buộc làm cho người ta khôn ngoan, già dặn và thận trọng hơn, đôi khi hèn nhát và xấu xa hơn.

  Tuổi trẻ nhiều ưu điểm, cũng lắm khuyết điểm nhưng về già bao giờ người ta cũng tiếc nuối tuổi trẻ vì nét đẹp hồn nhiên vô tư và sức sống mãnh liệt mà tuổi già không thể nào có được.

  Tuổi già thích hồi tưởng về quá khứ vì quá khứ thường đẹp và phong phú, hiện tại nghèo nàn buồn tẻ và tương lai hầu như không còn gì.

  Dĩ nhiên không phải người già nào cũng như thế. Có những người già luôn trẻ trung và sống như không bao giờ chết, vẫn từng ngày phấn đấu thực hiện ước mơ lý tưởng của mình cho đến hơi thở cuối cùng dù bị tuổi tác hạn chế rất nhiều.

Sống là một nghệ thuật tinh tế, cao quý và khó khăn nnất trong mọi nghệ thuật. Sống đẹp là sống vì những giá trị cao đẹp dù ở bất cứ lứa tuổi nào. Con người chỉ có một cuộc đời để sống hay tưởng rằng như vậy nên sống như thế nào là chọn lựa thường xuyên và lớn nhất trong cuộc đời.

 

 

Chương hai: Hướng ra xã hội.

 

 Tự do.

 

Con người sinh ra trong tự do và chết đi trong tự do, có phải vậy không? Không. Phần lớn con người không biết khi nào mình sinh ra  (trừ một số ít trường hợp tái sinh được báo trước nghe như chuyện truyền kỳ ở Tây Tạng) và rất ít người lựa chọn lúc mình chết. Nhưng tự do là một khát vọng lớn ngàn đời của con người, mãnh liệt đến mức có nhiều người, nhiều dân tộc đã lựa chọn tự do hay là chết.

Vậy tự do là gì và làm thế nào để sống có tự do? Câu hỏi này không dễ trả lời ngoài những khái niệm mơ hồ mà con người thường có.

Tự do có phải là muốn nghĩ, hành động và sống hoàn toàn theo ý mình không chịu bất cứ ràng buộc nào? Rõ ràng không phải vậy. Suy nghĩ là lãnh vực dễ có tự do nhất nhưng cách suy nghĩ của mỗi người cũng bị chi phối bởi quá trình giáo dục, nhận thức và hoàn cảnh. Hành động khó thể tự do vì luôn tác động lên người khác và nhận lấy sự phản hồi từ người khác. Sống tự do lại càng khó hơn vì con người bị chi phối mạnh mẽ bởi sự ràng buộc với những người chung quanh và môi trường xã hội. Như thế phải chăng tự do chỉ là một khát vọng bi thảm của con người. Tự do không bao giờ tuyệt đối mà trái lại chỉ rất tương đối.

 

Tôi một mình vẫn thiếu tự do và trong mối quan hệ với người khác càng mất tự do, tôi sống trong một dân tộc bị ngoại bang thống trị hay dưới chế độ độc tài lại càng mất tự do. Tôi mất tự do vì không có khả năng thực hiện điều mình muốn, vì chịu những ràng buộc từ người khác, vì bị những người cầm quyền áp đặt các hạn chế. Vậy phải chăng tôi không bao giờ được tự do?

Không còn cách nào khác hơn là chấp nhận một thứ tự do tương đối. Tôi tự chế những ước muốn riêng để khỏi làm đau lòng người thân. Tôi hòa đồng với mọi người để có được sự hòa thuận và tình thân ái. Tôi đấu tranh cho những quyền sống cơ bản của con người. Tôi lựa chọn tù đày hoặc hi sinh thay vì khuất phục. Đó là tự do. Tự do là một quá trình nhận thức và phấn đấu. Tự do chính là lựa chọn trong từng tình huống cụ thể.

Tự do không phải là quà tặng trời ban cho con người. Tự do là một trong những giá trị lớn nhất của cuộc sống nhưng con người phải trả giá cho tự do. Chiến đấu cho tự do làm con người trở nên vĩ đại. Tự do không trở thành bi kịch khi con người có nhận thức đúng đắn về tự do.

 

 Dân chủ

 

Định nghĩa về dân chủ dễ được thống nhất từ đông sang tây, giữa nhiều quốc gia nhưng cách thực hiện dân chủ lại có nhiều khác biệt, đôi khi mâu thuẫn.

 Dân chủ là người dân tham gia làm chủ, quản lý xã hội, quyết định vận mệnh của đất nước. Trong ý nghĩa mở rộng, dân chủ là quyền phát biểu quan điểm, tham gia quyết định các vấn đề quan trọng của mọi thành viên trong một tổ chức, từ gia đình nhỏ cho đến tập thể lớn trên tất cả mọi lãnh vực.

Dân chủ đối nghịch với độc tài, sự độc đoán của một cá nhân hay tập thể lãnh đạo, từ người chủ gia đình cho đến lãnh đạo cơ quan, xí nghiệp, tổ chức, địa phương và lớn hơn là lãnh đạo quốc gia ở nhiều dạng như độc tài quân chủ, độc tài quân phiệt, độc tài gia đình trị, độc tài phát xít, độc tài đảng trị...

Cuộc đấu tranh giữa dân chủ và độc tài diễn ra không ngừng, dưới nhiều hình thức, từ âm ỉ, nhẹ nhàng cho đến bạo động đổ máu. Cuộc đấu tranh này bao giờ cũng mang lại tổn thất, hi sinh nhưng lại là động lực cho sự phát triển, cho quyền sống tự do và hạnh phúc của mỗi con người và từng đất nước cũng như cả nhân loại.

Dân chủ là một vấn đề chính trị, cũng là vấn đề đạo đức và là sự thức tỉnh và khôn ngoan của con người. Xã hội không có dân chủ sẽ đầy khổ đau và luôn mang mầm mống của thảm họa.

 

 Nhân quyền.

 

Hiện nay, khắp nơi trên thế giới, người ta đều nói về nhân quyền, tranh luận về nhân quyền và đấu tranh cho nhân quyền. Nhân quyền vừa là vấn đề chính trị, vừa là vấn đề thực tiễn xã hội, vừa là vấn đề đạo đức và lương tâm , được đặt ra hằng ngày.

Nhân quyền có tính chất phổ quát không? Điều này không ai chối cãi được vì con người ở đâu cũng là con người, có quyền được sống và sống ra con người. Dù mầu da, giới tính, chủng tộc, tôn giáo chế độ chính trị, trình độ phát triển, giàu nghèo khác nhau như thế nào, con người ai cũng muốn sống đầy đủ, tự do, hạnh phúc và mơ ước về những gì tốt đẹp. Không ai muốn bị nghèo đói, bị áp bức bóc lột, không ai muốn bị đối xử như những con vật. Ai nói nhân quyền không có tính phổ quát chỉ là những kẻ lừa mị, dối trá nhằm biện minh cho những hành động và ý đồ xấu xa đen tối của mình khi chà đạp nhân quyền.

 

Thực chất sự vi phạm nhân quyền hiện nay chính là sự bất bình đẳng giữa kẻ mạnh và người yếu, giữa kẻ giàu và người nghèo, giữa kẻ thống trị và người bị trị, sự bất bao dung giữa con người và con người từ phạm vi nhỏ, trong một quốc gia cho đến toàn thế giới. Những kẻ nắm ưu thế và tự cao tự đại đã làm mọi chuyện, chà đạp thô bạo nhân quyền của người khác không chút áy náy, tiếc thương. Nguyên nhân của mọi hành động vi phạm nhân quyền này không gì khác hơn là để bảo vệ quyền lợi tham lam và ích kỷ của mình. Quyền lợi này có thể là chính trị, là kinh tế và cả sự hẹp hòi trong tín ngưỡng, lòng ái quốc, sự tự tôn vì mầu da, chủng tộc. Nói cách khác, nguyên nhân chính là do con người không có lòng nhân ái, không chịu cảm thông chia sẻ, không biết bao dung.

 

Chừng nào cái ác trong mỗi con người vẫn còn, nhất là đối với những kẻ nắm quyền lực, sự chà đạp nhân quyền vẫn còn xảy ra và sự dối trá vẫn còn huênh hoang ngự trị trên thế giới này.

 

Quyền lực

 

Không phải tất cả mọi người đều ham muốn quyền lực. Chỉ một số người có xu hướng này và thường đó là những kẻ đặc biệt nguy hiểm cho nhân loại.

 Thực ra quyền lực tự nó không tốt hay xấu mà chỉ tốt hay xấu do cá nhân nắm quyền lực gây ra. Quyền lực chỉ là một phương tiện. Và như mọi phương tiện khác, nó có thể phục vụ hay gây hại cho con người nếu không biết sử dụng đúng cách.

  Quyền lực thường làm cho con người thay đổi, biến chất, kiêu căng và cuối cùng trở nên phi nhân, độc ác. Đó là tai họa tiềm ẩn trong quyền lực có thể phát tác nơi bất cứ ai nắm quyền lực.

  Người nắm quyền lực tối cao trở nên độc ác một phần do chính hắn nhưng phần khác cũng do những kẻ xu phụ quyền lực đã cổ vũ, công kênh và củng cố cho những “Đấng quyền lực tối cao” đó. Những kẻ này cũng chính là những kẻ ham muốn quyền lực dù là thứ quyền lực thừa hành hay con con bé mọn.

 Trước thời gian không có gì vĩnh cửu, quyền lực lại càng là thứ tạm bợ và thường có kết cục bi thảm nhưng những kẻ nắm quyền lực lại không học hay không thích bài học nghiêm khắc này của lịch sử.

 

  Chính trị.

 

Có kẻ say mê nhưng cũng lắm người chán ghét chính trị. Dù sao chính trị vẫn là một thực tế, một nhu cầu của xã hội và không ai thoát ra khỏi phạm vi ảnh hưởng của chính trị dù muốn hay không. Đó là vấn nạn và cũng là bi kịch liên quan đến số phận con người.

 

Có hay không và có thể nào phân biệt chính trị xấu và chính trị tốt? Người ta đã nói đến chính trị vương đạo và chính trị bá đạo, chính trị lý tưởng và chính trị xôi thịt. Sự phân biệt thực ra không rạch ròi và ranh giới rất mỏng manh, nằm trong khái niệm chung về thiện -  ác, chính – tà, tưởng như rất rõ rệt.

 

 Chính trị nhằm để thực hiện lý tưởng, ý thức hệ, chủ nghĩa, cương lĩnh, đường lối chính sách nên thường nhắm đến quyền lực, cụ thể là chính quyền. Nắm được chính quyền mới có thể thực thi đường lối chính trị của mình.

 

Trong đấu tranh chính trị để giành và giữ chính quyền, người ta phải dùng nhiều thủ đoạn chính trị. Thủ đoạn chính trị thường là loại thủ đoạn đê tiện và tàn bạo nhất mà con người đã từng chứng kiến. Nguyên tắc “Thà  ta phụ người chứ không để người phụ ta” của Tào Tháo, “Chính quyền trên đầu súng” của Mao Trạch Đông, gây chia rẽ trong đối phương, chính sách tuyên truyền mị dân, gian lận bầu cử, sát hại đối thủ, đàn áp đối lập... Tất cả đều mang đến sự tàn hại cho con người và hầu hết đều thực hiện phương châm “Mục đích biện minh cho phương tiện”.

 

Dù yêu hay ghét chính trị, chính trị mãi mãi là một cuộc đấu tranh không khoan nhượng giữa điều ác và điều thiện, giữa con người và con người khi xã hội còn những kẻ cai trị và người bị trị.

 

  Xung đột và hòa giải hoà hợp.

 

Xã hội và thế giới phong phú, đa dạng  và luôn biến chuyển nên sự khác biệt, mâu thuẫn nẩy sinh là điều tất yếu, thực tế và phổ biến. Mâu thuẫn gay gắt đưa đến xung đột hay xung đột bắt nguồn từ những mâu thuẫn không thể hòa giải.

 

Từ xưa đến nay, trên mọi quốc gia và ở phạm vi toàn thế giới, xung đột đã xẩy ra trên mọi lãnh vực, từ tư tưởng, tôn giáo đến chủng tộc, quyền lợi, chính trị. Sự xung đột ở đỉnh cao đưa đến hận thù, đổ máu và biết bao tai họa cho con người. Ít ai muốn xung đột nhưng xung đột vẫn thường diễn ra, hầu như thường xuyên ở nơi này nơi khác, ngấm ngầm hay công khai, bằng thái độ hay hành động, đôi khi là sự chém giết dã man tàn bạo. Xung đột là bi kịch con người phải gánh chịu trong trường kỳ lịch sử.

Có thể thoát khỏi xung đột không? Câu trả lời là có. Bằng cách nào? Có câu trả lời nhưng thực hiện là điều không dễ.

 

Hòa giải hòa hợp là biết chấp nhận và tôn trọng sự khác biệt. Sự khác biệt đã là điều tất yếu thì tại sao lại không tôn trọng và chấp nhận. Đâu phải mọi thứ đều rập khuôn và có thể bắt buộc người khác phải nghe theo và phục tùng mình.

 

 

Hòa giải hòa hợp luôn đòi hỏi ở cả hai phía đối nghịch vì hòa giải hòa hợp là hòa giải hòa hợp với nhau, với những người bị coi là đối nghịch hay thù địch. Nếu chỉ một bên thực sự muốn hòa giải hòa hợp, hòa giải hòa hợp khó thành công nhưng vẫn có thể thành công nếu những người muốn hòa giải hòa hợp thực sự tin tưởng mãnh liệt và kiên trì thực hiện. Hòa giải hòa hợp đòi hỏi ở bản thân nhiều hơn đối phương. Hạn chế và từ bỏ “tham, sân, si” là bắt đầu và điều kiện cho tiến trình hòa giải hòa hợp. Khi hòa giải hòa hợp đã trở thành ý chí mạnh mẽ, nó sẽ chuyển hóa đối phương, chuyển hóa đa số, cuối cùng làm cho những kẻ ngoan cố nhất cũng phải thay đổi.

 

Hòa giải hòa hợp là cuộc cách mạng xanh, cách mạng bản thân và cách mạng thế giới. Nếu cuộc cách mạng này không thành công, thế giới sẽ đi đến chỗ tự hủy diệt.

 

 Biên giới.

 

Biên giới là do con người đặt ra, hình thành và củng cố qua tiến trình lịch sử. Có biên giới vật chất và biên giới tinh thần: Quốc gia, chủng tộc, mầu da, tôn giáo, giai cấp, ý thức hệ... Đó là những cột mốc, những hàng rào được dựng lên để phân biệt.

 

 

Biên giới đôi khi tưởng như cần thiết nhưng lại rất tương đối và thực tế đã gây nhiều tai họa nhiều hơn mang lại hạnh phúc, bình an. Một điều có vẻ nghịch thường nhưng thật đáng suy nghĩ là phải chăng nên từng bước xóa nhòa thay vì củng cố biên giới, dù là biên giới vật  chất hay tinh thần

 

  Văn hóa nghệ thuật.

 

  Văn hóa nghệ thuật là những tác phẩm, công trình, hoạt động vật chất và tinh thần hoặc phối hợp cả hai yếu tố này, có tính chất đặc sắc và cao đẹp của con người. Khó có thể liệt kê ra hết hay đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh, duy nhất cho lĩnh vực này.

 

 Văn hóa nghệ thuật đặc biệt mang dấu ấn của người sáng tạo hay bản sắc của từng cộng đồng, từng dân tộc trong những hoàn cảnh đặc thù, vị trí địa lý hay thời kỳ lịch sử, Do đó, văn hóa nghệ thuật vô cùng phong phú, đa dạng và muôn hình muôn vẻ hơn bất cứ lĩnh vực nào khác.

 

 Văn hóa nghệ thuật ngoài yếu tố đặc thù còn có mục đích và tác dụng làm vui lên, đẹp hơn, nâng cao tâm hồn và cuộc sống của con người, vượt lên trên cuộc sống bản năng của động vật nên cái gọi là “văn hóa nghệ thuật đồi trụy” thực ra không phải là văn hóa nghệ thuật. Điều gì làm sa đọa, hạ thấp con người xuống hàng súc vật chỉ là những thứ tai họa, không xứng đáng, không nên coi là văn hóa nghệ thuật.

 

Văn hóa nghệ thuật là phương tiện giao lưu, giúp cảm thông và hiểu biết sâu xa nhất giữa con người và con người. Thưởng thức một tác phẩm có giá trị, dù là văn học, hội họa, kịch nghệ, điện ảnh, âm nhạc, nhiếp ảnh, người ta có thể đồng cảm sâu xa với số phận từng nhân vật và những nỗi niềm, gởi gắm của những người sáng tạo dù những người đó hoàn toàn xa lạ, thậm chí cách biệt hàng nhiều thế kỷ. Chiêm ngưỡng một công trình kiến trúc hay điêu khắc, xem một điệu múa dân gian, dự một lễ hội, ta cảm nhận đầy đủ hơn nếp sống  của một dân tộc hơn bao lời giải thích dài dòng.

 Văn hóa nghệ thuật vì thế không có rào cản, không biên cương và có thể giúp đưa người ta lại gần nhau, chia sẻ và hòa nhập không cần đến những lời tuyên truyền giả trá.

 

Giao lưu văn hóa nghệ thuật vì thế là hình thức giao tiếp đẹp đẽ nhất của con người, mang lại hòa bình và hữu nghị, cần thiết hơn nhiều cuộc chiến tranh và cách mạng tưởng như vì lý tưởng cao đẹp nhưng thực chất đã hủy hoại con người và tình nhân loại.

 

 Tôn giáo và tâm linh.

 

Tôn giáo hay nhu cầu tâm linh là một trong những dấu chỉ của con người cao hơn động vật, đã có từ rất lâu trong lịch sử loài người.

 

 Mục đích của các tôn giáo hay nhu cầu tâm linh của con người bất cứ ở thời đại hay dân tộc nào đều hướng thượng, nhằm giải thoát khỏi những ràng buộc, hạn chế, khổ đau của cuộc sống làm người, vươn tới một cái gì cao đẹp, thánh thiện và trường cửu.

 

Nếu giáo lý không làm con người tốt đẹp hơn nhưng lại vì cuồng tín, mù quáng đến độ gây ra đổ máu, hận thù thì đó không còn là giáo lý chân chính nữa. Tín đồ một tôn giáo nhưng trí óc hẹp hòi, chứa đầy thù hận, không biết bao dung, tín đồ đó cũng không còn xứng đáng với tôn giáo của mình.

 

 Tôn giáo được hình thành, củng cố và phát triển nhờ giáo hội. Giáo hội là hệ thống tổ chức với những chức vị, nghi thức, lề luật, sinh hoạt, nơi thờ phượng thể hiện sự có mặt và sức sống của một tôn giáo. Giáo hội cần thiết cho tôn giáo nhưng đôi khi cũng làm hại đến tôn giáo. Lịch sử nhiều giáo hội thấm đầy máu và nước mắt. Nhiều chức sắc tôn giáo đầy quyền uy và tàn ác, bại hoại còn hơn những quan chức của thế quyền. Nhiều nơi thờ phượng uy nghi lộng lẫy nhưng tín đồ lại thiếu vắng đạo đức và niềm tin. Do vậy, để một giáo hội xứng đáng với tôn giáo của mình, các bậc chân tu cần hơn các chức sắc giảo hoạt; cách nghĩ, nếp sống đạo đức cần hơn số lượng tín đồ đông đảo.

 

Tôn giáo hay nhu cầu tâm linh có nhiều ngả, phù hợp với từng cá nhân, cộng đồng, dân tộc trong từng thời kỳ lịch sử. Mỗi người có cơ duyên riêng và không phải chỉ có một con đường duy nhất. Ai cho rằng chỉ có mình duy nhất đúng, chỉ tôn giáo mình là chính giáo còn tất cả đều là tà đạo, chính là bắt đầu sự chia rẽ và đối kháng, hoàn toàn trái với bản chất của các tôn giáo và những con đường tâm linh.

 Mỗi người tự chọn con đường phù hợp cho mình, tuy khác nhau nhưng những con đường hướng thượng nhất định sẽ dẫn đến Nước Trời, đến cõi Thanh Bình và An Lạc.

 

 Chủ nghĩa.

 

Có vô số loại chủ nghĩa trên các lãnh vực triết học, xã hội, kinh tế, văn học nghệ thuật, chính trị... trải qua các thời kỳ lịch sử. Theo từ nguyên, chủ là cái gì mình theo đuổi, cho là đúng, trong khi những cái khác đều là khách.

 

 Nếu chỉ cho mình là đúng, tất những điều khác là sai, từ đó dễ đưa đến mâu thuẫn, xung đột và tai họa. Có thứ chủ nghĩa chỉ liên quan đến cá nhân, tập thể nhỏ, trong thời gian ngắn. Có thứ chủ nghĩa chi phối một dân tộc, nhiều dân tộc, thậm chí cả thế giới trong thời gian dài.

Trong các loại chủ nghĩa, nguy hiểm nhất là chủ nghĩa về chính trị. Chủ nghĩa chính trị thường gắn liền với cuồng tín và bạo lực. Khi đã theo đuổi, tôn thờ một chủ nghĩa, người ta sẵn sàng làm tất cả, thậm chí hi sinh tính mạng của mình, cưỡng bức và tàn sát người khác để chủ nghĩa được thực hiện. Trong thời cận đại, các chủ nghĩa phát xít của Đức Quốc Xã, chủ nghĩa Đại Đông Á của Nhật Bản, chủ nghĩa Cộng Sản, chủ nghĩa đế quốc của các nước lớn là những điển hình cho thảm họa của nhân loại.

 

Chủ nghĩa là phát kiến, thí nghiệm, không phải là chân lý trường cữu nhưng người ta vẫn hô hào “muôn năm” cho chủ nghĩa của mình. Chủ nghĩa là một trong những con đường hẹp trên thế gian nhưng người ta vẫn cho là đại lộ duy nhất dẫn đến giải thoát cho toàn nhân loại.

  Sự xuất hiện của các chủ nghĩa là thực tiễn lịch sử, là khao khát của những người sáng tạo, những người có chí lớn trên các lãnh vực nhưng phải chăng chủ nghĩa chỉ nên mang tính chất lựa chọn và theo đuổi cá nhân, không ép buộc và không gây tổn hại cho người khác. Khi chủ nghĩa trở thành ý thức hệ mang tính áp đặt và thực hiện bằng bạo lực thì bất cứ chủ nghĩa nào, dù lý thuyết tốt đẹp đến đâu cũng trở thành tai họa.

 

Ngay cả chủ nghĩa ít bị phê phán nhất như chủ nghĩa nhân bản hay tân nhân bản có lẽ cũng không nên gọi là chủ nghĩa mà chỉ nên gọi là tư tưởng. Tư tưởng tự do, phóng khoáng, không ràng buộc trong khi chủ nghĩa bó hẹp, bảo thủ, thường mang tính cực đoan, dẫn đến áp đặt, xung đột.

Con người cần tư tưởng, không cần đến chủ nghĩa. Con người cần tự do và tình huynh đệ, không cần đến sự độc tôn của bất cứ chủ nghĩa nào.

 

Tiêu Dao Bảo Cự: Nhạc Trịnh chỉ khơi dậy tình tự dân tộc, nỗi buồn nhược tiểu, nỗi đau chiến tranh.

 

(tựa đề và giới thiệu của Bùi Văn Phú, người phỏng vấn)

Posted on April 6, 2011 by Bùi Văn Phú

 

Thời trẻ tôi và các bạn thân thường lên án thế hệ đàn anh đã để lại cho chúng tôi một gia tài rách nát với vô vàn vấn nạn. Có lẽ lớp trẻ bây giờ cũng vậy. Lời ca của Trịnh Công Sơn trong bài “Gia tài của mẹ” diễn tả đúng nhận thức của tôi vào thời điểm đó và ngay cả bây giờ.

Chuyện “nô lệ giặc tàu”, “đô hộ giặc tây” hầu như mọi người đều đồng ý nhưng người ta nghĩ khác nhau về chuyện “hai mươi năm nội chiến từng ngày”. Bởi có hai phe, hai miền tham dự chiến tranh và bên nào cũng cho mình là chính nghĩa.

Người ta có thể có mọi thứ nhân danh, đặt ra nhiều tên gọi, nhưng dù là chiến tranh ủy nhiệm, chiến tranh giải phóng, chiến tranh tự vệ, chiến tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược hay chống cộng sản độc tài tàn bạo thì trong cuộc chiến lâu dài đó hai bên đều nhận viện trợ, súng đạn của ngoại bang để bắn giết nhau. Trong cuộc chiến đó, người Việt chết nhiều nhất, người Việt giết nhau nhiều nhất, nên dù lý giải cách nào cuộc chiến tranh này cũng mang yếu tố nội chiến.

Tiếc thay đến nay 36 năm đã trôi qua từ ngày cuộc chiến chấm dứt, phần lớn những người tham dự của hai phe vẫn không thay đổi quan điểm của mình và cuộc nội chiến dường như vẫn còn tiếp tục dưới một dạng khác, tuy không còn súng đạn nhưng hao tổn không ít tiềm lực của dân tộc trên con đường xây lại nước non mình.

Thống nhất đất nước là nguyện vọng lâu đời của người Việt Nam sau nhiều lần qua phân trong lịch sử. Không ai không muốn đất nước thống nhất nhưng có người muốn thống nhất theo kiểu Đông-Tây Đức, có người muốn theo kiểu Việt Nam. Có lẽ không ai muốn đất nước chia cắt lâu dài như Nam-Bắc Triều Tiên, khi gặp lại nhau, anh em-bà con-bè bạn không còn nhận ra nhau hay không còn cơ hội nào để gặp nhau nữa và sự khác biệt, thù hận giữa hai miền đất nước kéo dài chưa biết đến bao giờ mới chấm dứt. Cho nên ngoài những ý nghĩa mà người ta bất đồng về ngày 30.04.75 là ngày quốc hận hay ngày giải phóng, có lẽ không ít người đồng ý rằng, dù sao đi nữa, ngày đó cũng là một dấu mốc lớn trong lịch sử Việt Nam vì đó là ngày thống nhất đất nước. Dĩ nhiên sau ngày thống nhất này đất nước như thế nào là một vấn đề khác liên quan đến đường lối chính sách, tài năng, bản lĩnh của những người cầm quyền, nhưng không thể phủ nhận ý nghĩa tích cực của việc thống nhất. Nếu sau 30.04.75 mà Việt Nam thực sự có hoà giải hoà hợp, đại đoàn kết dân tộc, vươn lên hùng cường như nước Nhật sau Thế chiến 2 thì thống nhất quả là hạnh phúc lớn của dân tộc. Tiếc thay lịch sử không có chữ “nếu” này nên bi kịch vẫn còn tiếp diễn.

Bài hát “Nối vòng tay lớn” nói lên khát vọng thống nhất đất nước một cách hình tượng, với cảm xúc, niềm vui dâng tràn. Đây không phải là tình cảm riêng tư, cá biệt mà là của cả dân tộc. Bài hát này ngay hiện nay chúng ta vẫn có thể hát với niềm rung động trong những ngày anh-em-tụ-hội. Tuy nhiên khi Trịnh Công Sơn hát bài này trên đài phát thanh Sài Gòn ngày 30.04.75 có nhiều phản ứng khác nhau nơi người nghe. Có người ngây ngất hạnh phúc, có người nghe như sét nổ bên tai. Điều ấy tất nhiên vì lúc đó có thắng-bại, tử-sinh, vinh-nhục khi cuộc chiến ngã ngũ với kẻ thắng người bại. Tuy nhiên không phải mọi người của mỗi bên đều nghĩ như nhau. Có người phía chiến bại vẫn vui với tiếng hát, có người hơn 30 năm sau vẫn uất hận khi hồi tưởng. Đây cũng là một khía cạnh bi kịch của nội chiến.

Có điều xin nói thêm. Gần đây tôi mới được nghe lời phát biểu của Trịnh Công Sơn trong dịp này qua thông tin trên mạng. Tôi hơi giật mình vì thấy Trịnh Công Sơn phát biểu rất “cách mạng”, giọng điệu rất “tuyên truyền” khi kêu gọi trí thức văn nghệ sĩ đừng bỏ nước ra đi mà hãy trình diện chính quyền cách mạng. Giá Trịnh Công Sơn đừng phát biểu gì thì hay hơn.

Người ta thường hiểu hoà bình là không có chiến tranh, như thế Việt Nam đã có hoà bình từ sau 1975. Tuy nhiên hoà bình còn có nghĩa là không có xung đột dưới mọi hình thức và bình an trong tâm hồn. Theo nghĩa đó, Việt Nam vẫn chưa có hoà bình. Những xung đột ngày càng mạnh thêm giữa người cai trị và người bị trị, giữa người có lợi ích và những người trắng tay. Và nặng nề nhất là cuộc đối đầu quốc-cộng giữa chính quyền trong nước và người Việt tị nạn cộng sản ở hải ngoại vẫn còn tiếp diễn, nổi bật là cuộc chiến ngôn từ trên mạng thể hiện còn dữ dội hơn thời chiến ngày trước và mọi âm mưu thủ đoạn đối phó lẫn nhau vẫn đang tiếp diễn.

Nhận xét của riêng ông về con người Trịnh Công Sơn?

Nhận xét về một con người rất khó khi ta chưa hiểu hết về họ, nhất là với một tài năng nổi tiếng. Ý kiến riêng sau đây không nhằm ngợi ca, phê phán hay phản bác, biện minh cho điều gì, chỉ là ý kiến riêng trong chừng mực hiểu biết của mình.

Trịnh Công Sơn trước hết và sau cùng chỉ là một nghệ sĩ, một nhạc sĩ tài hoa, một “người ca thơ”, “gã du ca” đã làm say mê nhiều thế hệ. Trong cuộc chiến tranh và cuộc sống sau này, Trịnh Công Sơn chỉ là một con người nhỏ bé trước các thế lực chi phối đất nước và xã hội. Ông bày tỏ nhận thức, nỗi niềm của mình qua tác phẩm âm nhạc, được đông đảo công chúng chấp nhận nhưng các chính quyền và một số người không hài lòng. Là một nghệ sĩ gắn bó với dân tộc và đất nước, trong chiến tranh ông đã công khai bày tỏ chính kiến qua tác phẩm, dù đúng hay sai đối với ai đó, nhưng đây là quyền, trách nhiệm và thôi thúc nội tâm của một người công dân-nghệ sĩ.

Trước và sau 75, Trịnh Công Sơn đôi lúc có sự nương nhờ vào một số người có thế lực trong bộ máy cầm quyền cũng như sáng tác một số bài có phần mang tính ngợi ca. Ông nương nhờ để tồn tại nhưng không trở thành “gia nô”. Ông ngợi ca nhưng không là “bồi bút”. Điều đó do bản chất nghệ sĩ, tài năng và nhân cách của ông. Như “Cho một người vừa nằm xuống” viết về Đại tá Không quân Việt Nam Cộng hoà Lưu Kim Cương tử trận, ông không ca ngợi chiến tích hay lên án kẻ thù mà nói về nỗi chết và phận người. “Huyền thoại Mẹ” sau 75 là hình ảnh, sự hi sinh và tình cảm của những người mẹ muôn thuở trong chiến tranh.

Trịnh Công Sơn không phải là người làm chính trị, chiến sĩ cách mạng hay kẻ cầm quyền để “biểu diễn lập trường” hay dấn thân tranh đấu. Người ta không thể đòi hỏi nhiều hơn nơi ông. Ông chỉ là một nghệ sĩ trong cuộc đời, một cuộc đời Việt Nam đầy máu lửa và bi kịch. Mãi mãi người ta sẽ nhớ về Trịnh Công Sơn như một nhạc sĩ tài năng viết về chiến tranh, tình yêu và thân phận, sẽ ngân nga nhạc điệu đơn giản nhưng tài hoa, sẽ lắng nghe và rung động với ca từ có sức cuốn hút ma lực trong tác phẩm của ông để sống nhân hậu, hòa bình, yêu đời, yêu người hơn.

Liên tưởng đến một trường hợp khác, có lẽ hậu thế không ai phê phán thái độ chính trị của Nguyễn Du, một “hàng thần lơ láo” dưới triều Nguyễn, khi vào chầu không bao giờ phát biểu một điều gì, khi chết không buồn trăn trối. Người Việt vẫn không ngừng ngợi ca “Truyện Kiều” là tài hoa kết tinh ngôn ngữ thi ca dân tộc và thông cảm với tiếng thở dài của ông gởi cho người đời sau:

Bất tri tam bách dư niên hậu

Thiên hạ thùy nhân khấp Tố Như.

Riêng với ông, nhạc Trịnh đã để lại những ấn tượng gì là sâu đậm nhất?

Không biết từ bao giờ người ta dùng từ “nhạc Trịnh” để nói về âm nhạc của Trịnh Công Sơn và hầu như nó được nhiều người chấp nhận. Điều đó có nghĩa là âm nhạc Trịnh Công Sơn đã trở thành một dòng chảy riêng trong nền âm nhạc Việt Nam. Bên cạnh nhạc tiền chiến, nhạc kháng chiến, nhạc tranh đấu, nhạc đỏ, nhạc vàng, nhạc sến… có nhạc Trịnh. Đó là sự thừa nhận và vinh danh của công chúng dành cho thiên tài âm nhạc này mà chưa nhạc sĩ nào, dù rất tài năng như Phạm Duy hay Văn Cao cũng không có được.

Nhạc Trịnh có đến hơn 600 ca khúc với những giai điệu và đặc điểm ca từ rất riêng không lẫn với ai khác. Đối với riêng tôi, có nhiều bài đã trở thành những bài hát chuyên chở tâm hồn mình và tâm hồn của cả một thế hệ. Tôi đã nghe và hát rất nhiều lần những bài ca đó trong từng cơn xúc động lặng lẽ hay sôi trào của tâm cảnh. Đôi khi không cần hiểu thấu đáo ca từ, chỉ là cảm nhận rất sâu xa, dịu dàng và đau đớn những gì thuộc về tình yêu và phận người, trong thời chiến tranh cũng như trong cuộc làm người đẹp đẽ, mong manh và đầy bi kịch.

Những lời ca viết về thân phận quê hương của Trịnh Công Sơn thì gây tranh cãi, nhưng nhiều người yêu thích tình ca họ Trịnh. Có một hay vài bài tình ca nào của Trịnh Công Sơn mà ông yêu thích? Tại sao?

Tình ca Trịnh Công Sơn là những niềm riêng nhưng lại rất phổ quát ở những người biết yêu thương, giận hờn, nhớ nhung, đau khổ, cô đơn, phiền muộn, nghĩa là trải qua vô vàn cung bậc của cuộc tình người. Có khi “Chiều Chủ nhật buồn nằm trong căn gác đìu hiu, tôi xin năm ngón tay em thiên thần, trên vùng ăn năn, qua cơn hờn dỗi, tôi xin năm ngón tay em đưa vào cô đơn”. Không ai khác, chính là ta nằm đó lắng nghe chính mình. Có khi như trong cơn mê, cảm nhận “Ngày tháng nào đã ra đi khi ta còn ngồi lại, cuộc tình nào đã ra khơi ta còn mãi nơi đây. Từng người tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ, ôi những dòng sông nhỏ, lời hẹn thề là những cơn mưa”. Rồi những khi đắm chìm trong suy niệm “Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi, đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt”. Hay âm thầm tự hỏi “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, để một mai tôi về làm cát bụi, ôi cát bụi mệt nhoài, tiếng động nào gõ nhịp trong tôi”. Và còn nhiều những rung động tinh tế khác của tâm hồn.

Những lúc đó, trong đêm khuya hay ngày vắng, một mình lại cất lên tiếng hát, hay dạo một khúc ghi-ta thánh thót, nghe đời hoang vu, thấy mình cô độc nhưng vẫn yêu đời, yêu người trong cuộc hành trình về nơi vô tận.

 

Tiêu Dao Bảo Cự - Đảng và tôi đã không còn đi chung đường   ( Phạm Thị Hoài thực hiện)

 

Dù ở trong hay ngoài Đảng, tôi chỉ là tôi, không hề là con người khác. Tôi vào Đảng là tự nguyện, chấp nhận và bị chi phối bởi những nguyên tắc, quy định của Đảng. Khi ra khỏi Đảng, tôi không còn những ràng buộc đó và có nhiều tự do để thể hiện con người đích thực của mình.

 

Dù Đảng đã từng cảnh báo “Hãy cảnh giác với quyền lực” nhưng lời kêu gọi này không còn giá trị gì khi một đảng trở thành độc tài toàn trị, quyền lực vô biên đi đôi với lợi lộc tràn trề trong nền kinh tế thị trường hoang dã, kích thích lòng tham vô đáy của con người. Sự lãnh đạo của Đảng lúc này trở thành sự khống chế của một tập đoàn thống trị cấu kết nhau trong quyền và lợi.

 

Phạm Thị Hoài: Giới trí thức có cần sự lãnh đạo đó không?

 

Tiêu Dao Bảo Cự: Đặc điểm của giới trí thức là nặng tư duy, thích phản biện và sáng tạo. Nếu lãnh đạo đã đưa ra định hướng cứng nhắc, ràng buộc trí thức thì không những không giúp ích cho sự phát triển của giới trí thức mà còn làm cho họ trở nên thui chột, xơ cứng, thậm chí hèn nhát, tráo trở, gian dối để được lòng lãnh đạo. Điều này đã làm cho sinh hoạt của giới trí thức trì trệ trong nhiều năm qua, tụt hậu rất xa so với các nước khác, trên mọi lãnh vực nghiên cứu khoa học, giáo dục, văn học nghệ thuật.

 

Hiện nay tôi là một người cầm bút tự do, tôi chẳng cần bất cứ một sự lãnh đạo nào. Tôi nhìn nhận, đánh giá mọi việc theo tư duy, trí tuệ và lương tâm của mình. Tôi viết, dù là chính luận hay sáng tác văn học đều hướng về chân – thiện – mỹ, những giá trị có tính phổ quát toàn nhân loại mà tôi có thể thu nhận qua tri thức đông tây kim cổ. Tôi không cần một lý thuyết hay sự chỉ đường của bất cứ ai.

 

Đối với riêng tôi, điều mong chờ lớn nhất là sự tỉnh thức, can đảm đứng lên làm chủ của người dân, đại bộ phận nhân dân, mà đi đầu là tầng lớp tinh hoa và giới trẻ. Điều này cần có thời gian. Nhưng thời gian kéo dài cũng có nghĩa là chịu đựng và khổ đau kéo dài.

 


 

Những tiểu đoạn viết về dòng sông Hương trong tiểu thuyết Trên đỉnh thanh xuân

 

Anh vẫn cầm lấy tay cô, kéo cô nhẹ nhàng đi ra cổng, bước vào con ngõ dài thăm thẳm chạy ra đến tận con đường nằm bên bờ sông Thơm. Con ngõ từng chỗ sáng tối mông lung huyền hoặc dưới áng trăng. Hai bên, khi là mấy cây sầu đông lá nhỏ, nơi là hàng dâm bụt xén thẳng tắp, chỗ là rặng tre kĩu kịt trùm phủ khoảng không trên  mặt  đường. Hoài cầm tay Siam đi qua những vùng sáng, tối đó, cảm thấy mình lướt êm đi trong trăng, trong đêm. Khuôn mặt cô gái bên cạnh anh dù trong bóng tối mờ vẫn sáng rỡ một mầu trắng lạ lùng. Và bàn tay cô vẫn mát và mềm mại chuyền qua người anh một cảm giác yên bình thanh thản. Hai người hầu như im lặng đi bên nhau cho đến cuối ngõ. Không gian vỡ oà ra trước mắt họ. Trăng lồng lộng trên cao, tứ bề. Dòng sông là một giải ngời sáng lao xao trăng nước từ thượng nguồn về đến trung tâm thành phố, lượn nhẹ một đường cong mềm mại ngang trước con ngõ. Bên kia bờ là khối đen im lìm cây lá của các xóm làng, bên này bờ, dưới chân hai người, con đường nhựa phủ ánh trăng viền một đường bạc lấp lánh dọc theo dòng sông.

………………….

Hoài đi nhanh ra cửa, bỏ Hoài Nhân chưng hửng ngồi lại một mình. Anh không phải khó chịu, ác cảm với Hoài Nhân nhưng sáng nay anh muốn một mình. Anh bỏ giảng đường đi ra bờ sông, ngồi xuống bãi cỏ để nhìn dòng nước Sông Thơm dịu dàng. Siam đã là dòng sông xanh mát chảy vào trong tâm hồn anh cát khô sa mạc.

 

………………………….

Bậc thềm này cao dễ đến hai mươi thước so với mặt sông phía trước, dưới chân đồi. Trong đêm khuya, trăng rằm lồng lộng, nhìn ngút mắt về hai phía thượng nguồn và hạ lưu, dòng sông ngời ánh bạc như dài rộng đến vô cùng, vừa hư ảo, huyền bí, vừa hùng tráng lạ lùng. Cây bông sứ già lay động những chiếc lá thuôn dài điểm những vệt sáng trên khuôn mặt trắng ngời của Siam như những chiếc hoa sứ trắng muốt trên cành và rơi rụng đầy quanh chỗ ngồi của hai người. Một mùi thơm dịu dàng lan tỏa trong không gian. Sự hòa điệu tuyệt vời của đêm trăng, dòng sông, ngôi tháp, mầu sắc và hương hoa sứ làm Hoài và Siam như muốn lịm đi, hòa tan vào trong khung cảnh.

…………………

Hoài kéo tay Siam đứng dậy. Cô miễn cưỡng đôi chút rồi cũng đứng lên. Hoài dìu cô đi chầm chậm xuống từng bậc thềm, băng qua con đường rồi nhảy qua các bậc đá xuống mép nước. Sóng vỗ miên man vào các phiến đá lớn đã bị bào mòn qua năm tháng. Hai người ngồi trên một phiến đá phẳng thòng chân xuống nước. Hoài cúi xuống vốc nước rửa mặt và Siam cũng làm theo. Nước mát quá làm Hoài không muốn lau mặt và cũng ngăn không cho Siam lau. Anh áp hai bàn tay còn ướt của mình vào má cô và nhìn cô chăm chú. Đôi mắt cô hơi to, lòng đen thật đen và lòng trắng phớt xanh phủ nhẹ một làn nước lấp lánh ánh trăng. Hàng mi dài mỗi lần cô chớp mắt như khép lại rồi hé ra cả một cõi trời lung linh. Khi cô mỉm cười, hàm răng trắng muốt làm sáng bừng cả khuôn mặt và chiếc răng khểnh thì thầm một lời mời mọc. Chiếc mũi không cao nhưng thanh tú rất hài hòa với khuôn mặt và nụ cười. Khuôn mặt trắng muốt của cô càng ngời lên trong mái tóc dài đen huyền xỏa xuống quá vai.

………………………..

Từ nhà Siam ra, Hoài thẫn thờ đạp xe dọc theo bờ sông. Cảm giác cô đơn thấm đẫm tâm hồn anh. Sao lúc nào anh cũng cảm thấy mình chỉ có một mình dù anh đã có người yêu và được đền đáp. Anh khao khát cái gì? Anh ích kỷ quá chăng? Anh đã bất công đối với Siam. Anh đã trách móc cô vô lý. Làm sao lúc nào Siam cũng phải là của riêng anh, chỉ một mình anh thôi. Nhưng rõ ràng anh không chịu được nhìn Siam vui vẻ giữa người khác. Thà anh không nhìn cảnh đó. Thà anh cô đơn đạp xe đi dọc dòng sông này.

 

Dòng sông rực rỡ trong ánh sáng ban mai. Những đợt sóng lăn tăn lấp loáng ánh bạc. Vài chiếc thuyền xuôi ngược rẽ nước nhưng không hề khuấy động được dòng sông êm ả. Sự bình lặng của dòng sông như một sức mạnh trầm hùng không gì lay chuyển được. Dòng sông là sự vững chãi lâu bền, là chỗ dựa cho tâm hồn anh từ thuở ấu thơ.

 

Thuở bé, từ khi mới năm, sáu tuổi, Hoài sống với bố mẹ ở tỉnh khác nhưng mùa hè nào Hoài cũng về đây thăm ông bà nội. Sáng nào ông nội cũng đưa anh ra sông tắm và tập bơi. Anh tập bơi tương đối dễ dàng. Ban đầu ông nội để tay dưới bụng nâng nhẹ anh lên, hướng dẫn cách khoát tay, đạp chân. Sau vài lần như thế, ông đưa anh ra chỗ sâu rồi thình lình bỏ anh nhoai vào bờ. Anh chìm xuống, sặc nước mấy lần, ngoi lên cuống cuồng kêu cứu nhưng ông vẫn không ra. Cuối cùng anh cũng vào được bờ sau khi đập tay chân loạn xạ và uống nước no bụng. Thế là anh biết bơi.

 

Khi đã bơi được khá hơn, anh và mấy bạn trong xóm rủ nhau chặt mấy cây chuối làm phao để bơi qua bên kia sông. Đó là lần chinh phục đầu tiên trong đời làm anh vô cùng kiêu hãnh. Sau mấy lần bơi qua sông bằng phao cây chuối, tụi anh đã mạo hiểm bỏ phao bơi tay không. Dòng sông rộng gần một cây số nên bơi qua sông hoàn toàn là việc không đơn giản nhưng tụi anh đã làm được. Đó là lần chinh phục thứ hai và anh nghĩ rằng mình có thể làm được mọi chuyện nếu mình có ý chí. Từ đó anh tha hồ tung hoành trên dòng sông. Tụi anh tổ chức những cuộc thi bơi vượt sông rất hào hứng, có khi bơi qua lại đến hai vòng. Lớn lên một chút, tụi anh bắt đầu bơi đi thám hiểm các bến bên kia sông. Bờ bên kia, các nhà có vườn ra tận bờ sông và mỗi vườn đều có bến riêng để tắm giặt. Các anh đã cả gan chòng ghẹo các cô gái bên đó khi các cô xuống bến một mình. Thỉnh thoảng tụi anh cũng lén leo lên bờ, vào vườn để hái trái cây, bị chủ nhà rượt đuổi phải phóng xuống sông bơi bán sống bán chết.

 

Đôi lúc không có bạn, anh đi bơi một mình. Anh bơi ra giữa dòng, nằm ngửa, đập tay chân nhẹ nhàng để khỏi chìm và nhìn lên bầu trời trong xanh không một gợn mây. Cảm giác bềnh bồng trên sóng nước, một mình giữa dòng sông làm anh cảm thấy một nỗi cô đơn êm ả. Dòng sông nâng đỡ anh như một người mẹ dịu dàng. Anh không hề sợ hãi khi nhớ đến lời dọa của ông nội nói sông có "ma gia", năm nào cũng bắt một người. Anh cũng không lo lắng khi lướt êm trên những khoảng sông đầy rong rêu, thực sự là mối nguy hiểm khi mắc chân vào những sợi mềm nhơn nhớt, điều có thể làm một tay bơi giỏi phải chìm xuống đáy nước. Đã có vài trường hợp như thế nhưng anh không quan tâm lắm. Anh tin cậy vào dòng sông và tin cậy vào sức mình. Dòng sông với anh là người mẹ, người bạn chứ không phải là kẻ xa lạ, dứt khoát không phải là kẻ thù.

 

Hoài miên man nghĩ về dòng sông khi đạp xe song hành với nó về phía phố. Chợt anh thấy một đám đông tụ tập ồn ào bên bờ sông gần Cầu Trắng. Anh tò mò đến gần, dựng xe đạp vào một gốc cây rồi len xuống xem.

Dưới sông, một xác chết đang bập bềnh tấp vào bờ. Xác chết của một người đàn ông chỉ mặc một chiếc quần đùi đen. Thân thể xác chết trắng lốp như một con heo cạo lông. Cái xác to gấp rưỡi người thường, bụng, tay, chân, ngực đều căng phồng lên như được bơm hơi bên trong. Một vài chỗ, cả trên mặt, đã bị cá rỉa thành từng lỗ lam nham vì thịt tua ra.

 

Nhiều tiếng nói nổi lên trong đám đông:

- Tội nghiệp! Chắc  chết đã mấy ngày rồi mới chương lên như thế.

- Gia đình, thân nhân biết được chắc đau khổ lắm.

- Ai có gan kéo lên bờ đi. Tội nghiệp quá.

- Tội nghiệp chi! Một giọng tức giận vang lên. Việt Cộng đó. Mấy hôm trước đánh nhau trên kia nghe nói Việt Cộng chết nhiều lắm. Nhiều đứa bị bắn  lúc vượt sông. Cứ để đó cho cá  rỉa.

 

Một giọng khác:

- Răng mà độc ác rứa. Việt Cộng hay ai chết cũng là người thôi. Người chết nào  không đáng thương xót.

 

Một giọng khác nữa:

- Thôi đừng ở đó cãi nhau. Tìm cách kéo người ta lên rồi đi báo cho cảnh sát. Để xác chết dưới sông rữa lây bệnh cả thành phố bây giờ.

 

Dưới sông, xác chết vẫn bập bềnh tại chỗ. Hai hốc mắt bị cá rỉa thành hai hố đen ngòm nhìn xoáy lên đám đông. Hoài nổi da gà và cảm thấy buồn nôn. Anh vội vã bỏ lên bờ lấy xe đạp về nhà.

 

Chao ôi, dòng sông êm ả của anh cũng tàn ác thế sao. Dòng sông là người mẹ dịu hiền, người bạn tin cậy, sự thanh bình của đời anh sao lại mang cái chết kinh hoàng đến cho người khác. Không, không phải tại dòng sông. Đó là tội ác của con người. Chính con người giết con người, nào phải dòng sông. Dòng sông bị mắc tiếng oan. Người chết là Việt Cộng? Việt Cộng là ai? Người Việt theo Cộng sản. Cộng sản là gì? Cộng sản là kẻ thù của quốc gia như người ta vẫn tuyên truyền hằng ngày. Thực ra, những năm qua, ở tuổi học trò trung học vô tư, anh chưa nghĩ gì nhiều về vấn đề này. Anh chỉ biết đất nước đã bị chia cắt làm hai miền, mỗi bên theo một chủ thuyết đối nghịch nhau và hai miền đang ở trong cuộc chiến tương tàn. Miền Nam là thế giới tự do. Miền Bắc là Cộng sản vô thần. Có phải hai miền không thể chấp nhận nhau và nhất định phải tiêu diệt nhau? Vậy thì đâu là dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam? Người nằm chết dưới sông kia nhất định là người Việt Nam. Nhất định người đó có gia đình, người thân, có ước mơ về hạnh phúc. Người đó đã dám chiến đấu và chấp nhận cái chết. Người đó đã bị người khác giết chết. Và người đó chắc cũng  đã từng giết chết người khác. Người ta hủy hoại lẫn nhau để đạt được được điều gì? Chỉ tội nghiệp cho dòng sông của anh bị mang tiếng oan. Dòng sông chỉ là chứng nhân, là nơi ghi dấu tội ác của con người thôi. Dòng sông của anh không bao giờ bị vẩn đục, ô uế, ngay cả bởi xác người. Dòng sông của anh có thể tẩy rửa tất cả vì nó có khả năng vô nhiễm. Anh vẫn có thể đắm  mình trong nó để quên đi những phiền muộn trong cuộc đời. Có thể nào như thế được chăng?

………………………………

Hoài đau đớn trước sự bất lực của mình. Anh mệt mỏi bỏ đi. Anh đi theo con ngõ. Ra đường lớn. Đến bến sông trước ngôi tháp cổ. Một mình. Dưới ánh trăng lồng lộng và lạnh lẽo suốt xương da.

 

Hoài ngồi ở đó cho đến tận hừng đông. Anh chỉ là một tượng đá cô đơn. Suốt đời cô đơn. Đó là định mệnh của anh.

………………………….

Thuyền ra giữa dòng sông đêm. Con sông xanh thẫm, êm và lặng như một mặt hồ. Mặt nước lấp lánh ánh trăng khoác nhẹ một làn sương khói mơ hồ che khuất dòng chảy ngầm lặng im bên dưới không thôi hướng về phía biển. Khoảng này, con sông Thơm trữ tình lãng mạn đang đi ngang qua giữa Thành phố thơ trầm mặc. Trăng soi chếch vào khoang, nơi năm chàng sinh viên đang nằm ngồi ngổn ngang với những ly rượu sóng sánh đã vơi đầy nhiều lượt. Mặt nước nâng ánh trăng rung rinh xao động quấn quýt quanh mạn thuyền.

…

Hoài nhìn ra vùng trời nước đã nhòa đi trong ánh trăng mờ, nói như độc thoại, khi quay lại, Vỹ đã ngủ tự lúc nào, đầu vẫn gục xuống khoang thuyền. Hoài kéo chăn đắp cho bạn và thẫn thờ nhìn xuống nước. Nước vẫn lặng lẽ xuôi dòng và âm vang nhè nhẹ trong tiếng vỗ mạn thuyền. Bên cạnh, những người kia cũng đã say ngủ. Riêng Trình, trong cơn mê vẫn còn lảm nhảm gọi trăng, nước và Thảo.

……………………………

Nhóm Hoài bước vào lớp của Siam khi đã gần cuối buổi học. Đã hai tháng rồi từ sau buổi đoạn tình anh không gặp cô. Cô ngồi ở bàn gần cuối lớp. Có cái gì thật khó tả trong cái nhìn của cô: đau đớn, oán trách, phiền muộn. Hay tất cả các thứ đó trộn lẫn. Hoài nhìn cô chăm chú suốt thời gian thằng bạn anh giới thiệu về tờ báo. Khi hắn chấm dứt, anh lẳng lặng cầm một tờ báo đi thẳng đến bàn Siam, đặt trước mặt cô trước sự ngạc nhiên của hai cô bạn ngồi hai bên. Anh nói nhẹ nhàng:

- Siam, hãy nhận những gì sau cuối anh còn có thể gởi đến cho em.

 

Nói xong anh im lặng bước ra khỏi lớp học để mặc các bạn tiếp tục phát hành báo. Anh lại đi ra phía bờ sông, đốt một điếu thuốc ngồi nhìn dòng nước vẫn không thôi hướng về phía biển. Dù thế nào chăng nữa, tình yêu của anh đối với Siam vẫn như dòng nước này, không bao giờ khô cạn và không bao giờ ngưng nghỉ.

…………………………..

Hoài không nói gì. Anh lặng lẽ đạp xe lên dốc. Đến một ngả ba, hai người chia tay nhau sau khi hẹn giờ gặp nhau ngày mai. Hoài đạp xe chầm chậm đến công viên gần bờ sông. Anh tựa xe đạp vào một gốc cây và ngồi xuống bãi cỏ. Lòng anh hoang mang. Mặt nước phía trước lấp loáng ánh sáng. Ý tưởng trong đầu anh rõ dần. Buổi nói chuyện vừa rồi chứng tỏ Lãnh Tụ Tối Cao quả thật độc tài. Độc tài có cần thiết không? Nếu độc tài sai lầm, hậu quả bi thảm sẽ không lường được. Lãnh tụ có quả thực sáng suốt hoàn toàn như ông tin tưởng? Hoàn cảnh hiện tại không cho Hoài tin như thế. Anh không đồng ý nhiều điểm trong chủ trương của Lãnh tụ. Hiện tình đang bế tắc, chưa tìm được lối thoát. Ngày mai sẽ ra sao? Ít ra anh phải được bày tỏ những cảm nghĩ. Sự đóng góp nào cũng cần thiết trong lúc này. Lãnh tụ đã cự tuyệt mọi sáng kiến chỉ vì ông tin mình đúng khi chưa chịu nghe người khác. Vấn đề đã quá rõ ràng và anh thừa sáng suốt để nhận định. Tại sao Lãnh tụ có thể nghĩ như thế được? Vì những hậu ý nào, những khó khăn nào không thể nói ra? Rồi sao. Các anh, những người trẻ sẽ đơn phương hành động. Mọi sự sẽ đi đến đâu? Tương lai bấp bênh nghiệt ngã.

 

Hoài nhắm mắt lại một lúc rồi mở choàng ra. Dòng sông trước mặt chợt biến hình. Dòng sông xanh êm mà anh đã đầm mình tắm mát một thời thơ ấu. Dòng sông tuyệt vời ru êm một thành phố hiền hòa không còn dáng vẻ cố hữu nữa. Mặt nước phẳng yên như nâng cao lên, im sững. Dòng nước chảy vô hình thể chìm sâu bên dưới quằn quại như một con rắn trườn mình. Dòng sông tách lànm hai phần. Và bề mặt lặng yên phủ lên chiều sâu cuồng phẫn, âm thầm.

………………….

Chúng ta đi bộ qua phố ăn sáng. Chiếc Cầu Trắng đầy sương mù. Tôi đi trước một mình. Dòng nước loang loáng bên dưới như một sự sống trường cửu âm thầm. Thành cầu lạnh vắng. Tôi đi như đi một mình trong buổi sớm. Vị cô đơn thấm vào từ đầu mấy ngón tay rã rời tê buốt.

………………….

 

Chúng tôi thường gặp nhau buổi tối những đêm trăng. Tôi từ nhà trọ ở phố đạp xe mấy cây số lên tìm Siam. Chúng tôi đưa nhau ra bến đá bên dòng sông trước ngôi tháp cổ. Đêm trăng ở đây thật tuyệt vời. Dòng sông phẳng lặng uốn mình bên ngôi tháp cổ kính với những gác chuông trống và bia ký chung quanh. Những bậc thềm cao ngất. Hai hàng sứ trắng tỏa hương. Một mặt đường. Một con dốc nhỏ. Rồi bến sông với những phiến đá lớn rập rình sóng nước. Chúng tôi ngồi trên những phiến đá, thòng chân xuống nước, ngắm mặt sông lấp lánh trăng sao và nói chuyện thì thầm như hơi thở. Thật khuya tôi mới đưa Siam về. Chúng tôi thường hôn nhau trước khi từ giã. Hai đứa đứng trong vòng tay nhau rất lâu. Siam áp đầu vào ngực tôi, tôi tì cằm lên vai Siam, lắng nghe thịt da hai đứa khăng khít suốt dọc thân xác. Rồi Siam từ từ ngẩng mặt lên. Trăng qua cành lá tre đổ lên khuôn mặt trắng ngần của Siam những điểm sáng rung động. Môi Siam mấp máy, mắt mở lớn chờ đợi. Tôi cúi xuống trên đôi môi đó như ngụp lặn vào một một vùng si mê sáng láng. Rất lâu rất lâu. Rồi chúng tôi rời nhau không nói một tiếng nào. Siam đứng yên lặng, nhìn theo cho đến khi tôi quay lại vẫy tay và khuất ở cuối ngõ. Tôi mang theo dư vị của nụ hôn trên đường về miên man và vào trong giấc ngủ nhẹ nhàng phới phới.

…………………

Đứng giữa đám người này, tình yêu xanh cao của anh dành cho cô gái đã bị hoen ố vì những câu hỏi dần dà nảy sinh trong óc anh. Tại sao cô đi làm cho Mỹ, nhất là làm ở một trại thẩm vấn? Vì tiền chăng? Cô nghĩ gì về anh, về những người tù trong trại giam này, những đồng bào của cô đang bị đối xử còn thua những con vật? Cô làm công việc gì trong trại giam đó? Bọn cố vấn Mỹ khả ố đối xử như thế nào với một cô gái xinh đẹp như cô? Cô đã bằng lòng cho chúng nó những gì để đổi lấy đồng lương và những đồ hộp, những quà tặng sang trọng của bọn đế quốc? Hoài run lên và thấy mình bừng bừng với những câu hỏi này. Một niềm phẫn nộ dâng lên trong anh như cơn nước lũ. Hình ảnh cô gái nhảy múa nhòe nhoẹt trong óc anh và hình như bị bôi đen đi bằng những vết sơn tàn bạo. Không, anh không muốn oán trách cô. Anh chỉ thấy xót thương thôi. Xót thương cho bàn chân trắng hồng xinh đẹp của cô đang bước vào vũng lầy bẩn thỉu. Không phải tội ở cô mà tội ở bọn đế quốc. Nếu bọn đế quốc không đến đây thì cô chắc chắn vẫn còn tha thướt trong sân trường, trên con đường xanh bóng cây dọc theo bờ sông sau khi tan học. Và  anh đã có thể đứng đợi cô nơi bến đá để cùng cô đi một chuyến đò ngang qua con sông rất dịu dàng của Thành phố Thơ này.

…………….


Những tiểu đoạn viết về Đà Lạt trong tiểu thuyết Nửa đời nhìn lại

 

Tỉnh đã cấp nhà để làm trụ sở của hội nhà văn. Đây là một biệt thự nằm trên đường Thông Xanh, con đường đẹp và yên tĩnh nhất thành phố Sương Mù. Biệt thự này cũ kỹ và có thể nói là xấu nhất trong hàng trăm biệt thự trên con đường này, lại ở cuối đường, nơi một khu vực khá hẻo lánh, xa trung tâm nên việc đi lại rất bất tiện. Các biệt thự sang trọng, tiện nghi đã được dành làm nơi nghỉ dưỡng của các ông lớn hoặc làm khách sạn du lịch. Sau nhiều tháng anh em nhà văn đề xuất, cuối cùng nhân có một cơ quan sắp nhập vào một cơ quan khác theo chủ trương của trên, trụ sở phải chuyển đi, nên người ta lấy trụ sở đó cấp cho hội nhà văn. Thế cũng là quan tâm lắm, không thể đòi hỏi gì hơn đối với cái hội sinh sau đẻ muộn và phù phiếm này.

Ưu điểm của biệt thự này là không khí yên tĩnh và khoảng sân rộng trước nhà. Thật ra đó không phải là sân mà là một khu vườn rộng chỉ có thông và hoa cỏ dại. Chủ nhân trước đây xây dựng ngôi nhà hẳn là một kẻ muốn xa lánh cuộc đời nên dù ngay ở khu vực lặng lẽ này, ông ta đã cho xây nhà sâu vào bên trong đến gần hai trăm mét trong khi các biệt thự khác đều xây dựng sát đường cái. Sáng sớm và lúc chiều về, sương mù lảng đảng trong vườn thông, quyện lấy căn nhà bằng một vùng bồng bềnh tơ trắng. Khi nắng lên, sương tan và bãi cỏ xanh mượt mà dần đổi sắc, điểm đầy hoa vàng. Những bông hoa bé nhỏ yếu ớt, chiều và đêm xếp lại náu mình trong cỏ xanh, chỉ xuất hiện một cách bất ngờ khi có ánh nắng mặt trời ban mai. Không gì tuyệt thú bằng được nằm dài trên đám cỏ xanh điểm hoa vàng này, nhắm mắt lơ mơ nghe nắng nhảy múa trên mặt, không suy nghĩ gì hay chỉ tơ tưởng về một chuyện đời xưa cũ.

………………….

Hôm nay, Nguyễn Vũ mời Minh Hương, Hoài và năm người dự định tham gia nhóm hợp tác đi uống cà-phê tại nhà Thủy tạ, để bàn việc thành lập nhóm. Nhà Thủy tạ là một công trình độc đáo trên hồ Hương Xuân, được xây dựng từ thời Pháp thuộc. Nhà hàng nằm trên một doi đất nhỏ ven hồ, cạnh đường, nhưng vươn hẳn ra mặt hồ bằng những trụ chân cắm xuống đáy. Nhà hàng gọn gàng, xinh xắn, có sân thượng bên ngoài và cầu nhảy dành cho câu lạc bộ bơi lội ngày trước. Đây là một công trình kiến trúc rất đặc trưng và nổi tiếng của thành phố du lịch trên cao này. Từ ngày nhà nước quản lý và nhà hàng trở thành quốc doanh, có mất đi không khí yên tĩn và vẻ thơ mộng ngày xưa. Thay vì chỉ bán cà-phê giải khát, người ta bán cả đồ nhậu, bia rượu và căn phòng chính của nhà hàng lúc nào cùng đông nghẹt. ồn ào và sặc sụa mùi thuốc lá. Rồi lại lối phục vụ ghi phiếu, trả tiền trước của các mậu dịch viên ăn lương nhà nước lúc nào cùng uể oải. Người ta chỉ nghĩ đến kinh doanh, chưa hiểu được tính chất văn hóa trong những nơi giải trí, tham quan du lịch. Người ta đã vật chất hóa và tầm thường hóa mọi công trình và thắng cảnh, làm cho trung tâm du lịch này xuống cấp và xuống giá một cách khủng khiếp.

…………………

Minh Hương đang dõi mắt về ngọn núi Mẹ xa xa đang nhòa dần trong sương chiều rồi như sực tỉnh:

- Này, nhân tiện đặt tên nhóm Hương Xuân, tôi muốn tham khảo ý kiến các ông về việc đặt tên cho tạp chí văn học của chúng ta. Nhiều anh em đã đề xuất, nào là Ngàn Thông, Cao Nguyên, Sương Mù, Ngàn hoa... Nhưng tôi thấy chưa ổn. Tên tạp chí phải đặc trưng hơn, gợi hơn, nhiều ý nghĩa hơn. Ngọn núi cao nhất của vùng đất này là núi Mẹ, còn có tên là La Ban, một cái tên dân tộc đầy âm hưởng và chứa đựng một huyền thoại lạ lùng. Tôi rất mê cái tên này. Tạp chí văn học phải có một cái tên thật văn học. Tôi biết mấy ông lãnh đạo của tỉnh chỉ muốn gọi là tạp chí văn học của tỉnh, cũng như tờ báo mang tên của đảng bộ tỉnh. Tham vọng của chúng ta đâu phải chỉ làm một tạp chí trong khuôn khổ của tỉnh này mà còn lớn hơn nhiều. Ta phải chọn một cái tên thật hay rồi thuyết phục mấy ông lãnh đạo.

 

Hoài lẩm nhẩm rồi nói lớn ý nghĩ của mình:

- La ban... La Ban... Minh Hương và tôi đã nhiều lần trao đổi về cái tên này. Đây là một truyền thuyết về chàng La và nàng Ban. Chàng La vì tình yêu và công lý cho con người đã dũng cảm lên tới tận trời đấu tranh cho chính nghĩa. Nàng Ban cũng vượt qua tục lệ khe khắt của bộ tộc để đến với tình yêu. Cả hai đều chọn cái chết hơn là phân ly vì những luật tục hẹp hồi mù quáng. Tính chất nhân văn đẹp đẽ biết chừng nào. La Ban còn là đỉnh cao. Đỉnh cao của trí tuệ, nhân phẩm, văn học nghệ thuật. La Ban lại là suối nguồn, dòng sữa mẹ, vì theo một truyền thuyết khác, hai đỉnh núi kia là hai bầu vú của Mẹ in hình lên trời xanh. Đó là suối nguồn của văn học nghệ thuật. Ở xứ này, trời đã cho ta một cái tên như thế mà không dùng thì uổng quá.

Nguyễn Vũ đảo mắt nhìn mọi người. Anh lẹ miệng hưởng ứng ngay:

- La Ban. Nghe được quá. Chúng ta phải dựng ngọn cờ trên đỉnh cao này. Bao lâu nay người ta đã bôi bẩn đỉnh cao tuyệt đẹp này. Bây giờ chúng ta phải làm cho nó tỏa sáng lên.

…………………..

Ở  nhà hàng Thủy Tạ ra, Minh Hương và Hoài đi bộ về nhà. Cơn mưa đã tạnh đột ngột như khi nó bắt đầu. Cuối mùa mưa, đầu mùa khô của xứ này, khoảng tháng 10, 11, có những cơn mưa gần như mưa rào của xứ nóng. Sau cơn mưa, không khí lạnh thêm đến gần như buốt giá. Trời đã vào đêm. Những ngọn đèn đường tù mù và hiếm hoi nhưng trên con đường đẹp nhất thành phố này, những nghệ sĩ lang thang và những cặp tình nhân không cần đến ánh điện. Mây đã tan hết. Sao nhấp nháy trong hàng cây phủ ngợp mặt đường. Dưới xa kia, những ngọn đèn và những ô cửa sổ của thành phố lờ mờ trong biển sương như một xứ sở nào xa xăm.

Mùi hoa dại, lá cỏ mục phảng phất. Thỉnh thoảng, một đám sương mù dày đặc từ trong rừng ùa ra rồi tan đi.

………………………………..

Mặt hồ về khuya như một tấm gương đen thăm thẩm. Những đợt sóng lăn tăn âm thầm dưới lớp khói sương. Những ánh sao đêm nhấp nháy lạnh lẽo và xa vời như những lời mời gọi huyền bí và đầy trắc ẩn. Hai người không nói chuyện nữa. Im lặng đã ngự trị cả nội tâm và đất trời như một bầu khí ngột ngạt khó thở. Cuối cùng, không chịu đựng nổi, Sơ Huyền đứng lên bảo:

- Thôi, mình về đi. Ngồi đây thêm nữa chắc em sẽ nhảy xuống hồ mất.

…………………

Đồi Êm là một thắng cảnh gồm ba ngọn đồi thoai thoải kế tiếp nhau, nằm song song với hồ Hương Xuân, ngay cạnh khu trung tâm làm cho thành phố này có một không khí yên tĩnh dịu dàng đặc biệt ít nơi nào có. Đồi toàn cỏ mượt mịn màng, luôn xanh non pha phớt tím, dù dưới nắng chan hòa, trong sương mù hay giữa cơn mưa tầm tã vẫn có sức quyến rũ lạ lùng. Những cây thông rải rác tỏa bóng trên khắp ngọn đồi nhưng vẫn dành lại những khoảng rộng để nhìn vào ta có ấn tượng đây là đồi cỏ chứ không phải đồi thông. Sự hài hòa thật tuyệt vời này là ưu thế của thiên nhiên ở đây nhưng cũng do trí tuệ và trình độ thẩm mỹ của những người quy hoạch, xây dựng thành phó trước đây. Nếu thiếu hồ Hương Xuân và đồi Êm, thành phố này có lẽ mất đi đến ba phần tư hay hơn nữa vẻ duyên dáng độc đáo của mình. Thế mà nghe nói trước đây đã có đồng chí lãnh đạo tỉnh chủ trương cuốc đồi lên để trồng mì. May mà sự ngu dốt đó chưa được thực hiện hay chỉ là một huyền thoại về sự ngu dốt của một số người lãnh đạo mà người dân ở đây đã đặt ra để châm biếm. Mỗi lần đi qua đồi Êm, Hoài thấy lòng mình tĩnh lặng hẳn đi, vơi bớt buồn phiền lo nghĩ nhưng cũng có lúc anh thấy sự tĩnh lặng này im ắng quá, thanh bình quá, gần như tẻ nhạt, đến độ tầm thường trước cuộc sống sục sôi bão táp. Sự mâu thuẫn thường xuyên trong Hoài đã chi phối đến cả cách nhìn cảnh vật. Dù sao, thỉnh thoảng được ngả lưng trên đồi cỏ mượt cũng đã là một hạnh phúc cho những người biết tận hưởng vẻ đẹp dịu dàng bao dung của thành phố giữa lưng trời này.

………………………

Hoài hôn nhẹ lên đôi mắt dịu dàng, đắm đuối và khẩn cầu của Vy anh lại thấy cô như ngày xưa, nhí nhảnh, tươi mát nhưng lại phảng phất nỗi sầu muộn. Anh đứng dậy lấy áo mưa và chiếc dù. Họ đi ra đường. Họ ôm sát lấy nhau và đi trong cơn mưa. Hơi thuốc của Hoài trong cơn mưa và đêm lạnh dưới chiếc dù bé nhỏ làm Vy cảm thấy vô cùng ấm áp và hạnh phúc. Cả Vy và Hoài đều biết những giây phút thế này vô cùng hiếm hoi. Họ đi bất định dưới cơn mưa mênh mông và bóng rừng thông âm u trong đêm tối.

………………..

Mặt trời vừa nhô lên chiếu những tia sáng đầu tiên xua tan đám sương mù lạnh lẽo. Mới đầu cô hoa mắt, chỉ thấy một vùng thung lũng trải dài với những cây anh đào khô chết, cành khẳng khiu trùng điệp trong làn sương mờ. Cô dụi mắt mấy lần. Ở chính giữa thung lũng, cách cô không xa, giữa những cây mai anh đào khẳng khiu là một cây thông hùng vĩ, thân lớn đến mấy người ôm, cao ngất trời và tán lá rợp cả một vùng. Hoài đang bị trói dưới gốc cây đó, trước mặt anh là một tiểu đội lính dàn hàng ngang đang ở trong tư thế chuẩn bị nổ súng. Sơ Huyền thấy rõ mặt Hoài. Khuôn mặt anh xanh xao, đôi mắt đẹp dịu dàng ẩn chứa một nỗi đau đớn và sầu muộn vô cùng. Đôi môi anh mím lại, quả cảm như một lời thách thức. Hoài vừa ngước lên nhìn cô và mắt anh chợt rực lên như một tia lửa. Sơ Huyền vừa gào lên vừa chạy bổ về phía anh:

- Ngừng lại! Không được bắn! Không được bắn? Không!  Không!

……………………

Khi cô chạm vào Hoài, sợi dây trói anh bỗng rời ra, rớt xuống đất. Hoài quàng tay bế cô lên và đặt cô ngồi xuống bên gốc cây. Anh mỉm cười:

- Không đâu. Anh làm sao chết được. Sao anh lại chết trong mùa mai anh đào nở. Em xem kìa.

 

Giọng anh ấm áp, đầy tự tin và như một thoáng reo vui. Cô quay lại. Cả một thung lũng rực sắc hồng. Chao ôi là hoa. Đúng là một rừng hoa. Những cây mai anh đào khô chết cô thấy lúc đầu bây giờ đã đơm đầy hoa. Hầu như không có lá, kể cả lá non. Chỉ có những bông hoa bé nhỏ, cánh hồng đơm đầy che khuất hẳn các cành khẳng khiu. Mỗi đóa hoa là một đốm ánh hồng. Mỗi cây là một ngọn lửa hồng. Cả thung lũng là một vùng lửa hồng bập bùng, ngời lên trong ánh nắng. Chưa bao giờ cô thấy cảnh tượng này. Cô sực nhớ đến tiểu đội lính hành hình nhưng chúng đã biến mất như chưa bao giờ xuất hiện. Cô tưởng mình nằm mơ. Cô ấp úng:

- Có thật không anh? Sao lại thế này?

Hoài cười. Tiếng cười anh trong trẻo:

- Em không tin à? Mà em có thích không ? Em đã từng mơ ước đến một thung lũng mai anh đào kia mà. Anh tặng em rừng mai này đó. Chính tay anh đã trồng cùng với sự giúp sức của một bầy chim. Chúng tha hạt đến bỏ vào những hố đất anh đào bằng chính bàn tay của mình. Cây lớn nhanh đến mức không ngờ. Đây là mùa hoa đầu tiên và em đã tới kịp như anh mong đợi.

…………………….

 

Những tiểu đoạn viết về Đà Lạt trong truyện ngắn và bút ký

 

 

                Có lẽ gần khoảng nửa đêm. Nhà thơ đi một mình lang thang trên những con đường khuya khoắt của thành phố thân yêu. Chàng vừa uống mấy cốc rượu nhỏ với một người bạn thân, cảm thấy đầu óc hơi lâng lâng và tâm hồn cũng chếch choáng. Trên đường về nhà nhưng chàng đi không định hướng. Đã bao lần chàng lang thang một mình trên những con đường này để suy nghiệm về cuộc đời, với bao đắng cay và tin yêu mà chàng đã sống trải.

 

Đêm nay nhà thơ cảm thấy lòng ấm áp dù đường khuya im vắng lạnh lẽo. Sương mù bắt đầu lan ra từ những cánh rừng thông. Tiếng gió thì thầm trong lá những lời bí ẩn chỉ cảm nhận mà không hiểu được rõ ràng. Có lẽ là lời muôn thuở của những bản tình ca dịu dàng và phóng khoáng. Hương đêm thoảng trong gió, trong cây lá. Mùi hương này đối với chàng thân quen quá. Hương không thể gọi tên nhưng không bao giờ lẫn được. Lá cỏ mục dưới các cánh rừng ven đường rục rã. Những loài hoa dại không tên bé nhỏ âm thầm thở hơi nồng nàn vào đêm sương. Các loài hoa quý phái trong đêm cũng trở thành vô danh. Tất cả tan loãng và quyện vào nhau thành hương đêm thành phố miền cao của thông, hoa và thấm đẫm sương mù này.

 

Lên hết con dốc, chàng đã bước vào giữa ngàn sao. Bao nhiêu lần chàng cảm nhận cảm giác tuyệt vời đó. Đi giữa lưng trời. Những ngọc đèn khuya nhạt nhòa của thành phố bên dưới còn sao thì nhấp nháy, xao xác trong cây, trên cao, trên thăm thẳm vô cùng. Nhân gian và hư vô hình như cũng gần kề  trên bước lang thang giữa lưng trời này. Nhân gian thấp hèn và cao cả nhưng gắn bó, còn hư vô chỉ là những thoáng đẹp đẽ mong manh. Chàng đã làm thơ về cuộc đời và hư không. Tiếng thơ của chàng ngợi ca, than vãn, reo vui, sầu não, mơ mộng, bay trong gió cuộc đời và chạm tới hư vô.

(trích truyện ngắn Đối mặt)

……………………………

Gần cuối đời, họa sĩ đến định cư ở thành phố Sương Mù. Ông tự cho đó là diễm phúc của đời mình. Ông là kẻ đã đi nhiều, vẽ nhiều, hầu như khắp mọi miền của đất nước. Đôi mắt tinh tường của ông đã ngắm bao nhiêu vẻ đẹp hùng tráng, thơ mộng cũng như những cảnh tiêu điều, đau thương của một quê hương hào hùng và khốn khổ, cả trong thiên nhiên và lịch sử, tâm hồn của dân tộc. Tất cả đã lắng đọng và ngân vang trong hàng ngàn tác phẩm của ông. Nhưng càng về cuối đời, ông càng nhận thấy những tác phẩm đó, dù được trưng bày nhiều nơi, trong và ngoài nước, ông cũng đã từng kiêu hãnh về chúng, lại chưa phải là tác phẩm đích thực của chính mình. Ông vẫn là kẻ trên đường tìm kiếm và chưa đi tới đích.

 

Lần đầu tiên đến thành phố này, ông đã bị thu hút ngay bởi vẻ kỳ diệu, có phần bí hiểm của một cảnh sắc thiên nhiên lạ lùng. Trước đó, ông đã nghe người ta ca tụng nhiều nhưng ông vẫn chưa hình dung, cảm nhận được sức lôi cuốn kỳ bí và âm thầm của nó như lần đầu tiên nhìn cảnh tượng huy hoàng của rừng thông trên ngọn đèo trước lúc vào thành phố. Thực ra đó là một cảm giác ông chưa nắm bắt được rõ ràng. Mãi cho đến bây giờ, sau một năm ở thành phố, cảm giác đó vẫn còn, như một sự bất lực, một nỗi khắc khoải lâu dài trước cái đẹp, thiên nhiên và nghệ thuật.

 

Ông là họa sĩ từng được học hành chu đáo, có điều kiện nghiên cứu phong cách của nhiều trường phái hội họa đông, tây, kim, cổ, bản thân ông cũng đã từng thể nghiệm nhiều bút pháp, xu hướng, có tác phẩm được đánh giá cao nhưng rồi ông vẫn cảm thấy mình còn xa mới đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật này. Phải chăng hội họa là sự hòa điệu của tâm hồn và ngoại cảnh bằng đường nét và sắc mầu nhưng âm chưa tìm ra được hòa âm lý tưởng. Càng lớn tuổi, nhất là khi về thành phố Sương Mù này, ông cảm thấy gần gũi hơn với phong cách hội họa phương đông, nhất là tranh thủy mặc. Ông hiểu tại sao có người suốt đời chỉ vẽ trúc, chỉ bằng một mực mầu đen duy nhất, lại đạt đến độ vi diệu của nghệ thuật mà con người bao nhiêu thế kỷ sau vẫn còn ngưỡng mộ. Ông bắt đầu tin rằng chỉ có thể tìm thấy hội họa đích thực trong thiên nhiên chứ không thể tìm ở đâu khác.

 

Chưa bao giờ ông được đắm mình trong thiên nhiên đầy đủ như ở đây. Với chiếc ba lô nhỏ đựng đồ nghề sau lưng, ông đi lang thang suốt ngày trong thành phố. Hầu như mỗi ngày ông đi bộ không dưới hai mươi cây số, bất kỳ thời tiết nào. Ông đi để chiêm nghiệm thiên nhiên, thỉnh thoảng mới dừng lại vẽ vài nét phác thảo  lên tập giấy dó mang theo. Gần suốt một đời cầm cọ, với tay nghề điêu luyện, ông ký họa nmhanh như chớp. Nhưng vẻ đẹp của thiên nhiên nơi này thật khó nắm bắt. Hồ, rừng cây, núi, mây, trời, sương, hoa... nào có lạ gì đối với bàn tay lão luyện và cuộc đời từng trải của ông. Nhưng ở đây, mọi cái tưởng chừng như lắng đọng lại không hề yên tĩnh, từng lúc lại mang dáng vẻ và tâm hồn khác nhau. Có lúc, nhất là khi chiều tà, hồ, núi, mây, trời chỉ là những biên giới mờ ào, bỗng chốc hòa lẫn vào trong sương. Trong một phút, vừa ký họa xong, ông đã thấy cảnh sắc khác đi. Ông vẽ lại lần thứ hai nhưng điều ông vừa ghi lại đã không còn. Sau vài lần như thế, ông hiểu mình không thể vội vàng. Biết bao nhiêu tác phẩm, kể cà thơ, văn,nhạc, họa, nhiếp ảnh cố mô tả và ca ngợi thành phố này nhưng đã có mấy tác phẩm thành công, phần lớn chỉ là sự sao chép máy móc, nhợt nhạt hoặc lời ngợi ca sáo rỗng. Ông tự hứa sẽ dành mười năm - thời gian cuối đời ông hi vọng còn sống và làm việc được - để thâm nhập và vẽ về thành phố này. Ông hi vọng đó sẽ là những tác phẩm hội họa đích thực ở đỉnh cao mà ông sẽ cống hiến cho đời.

(Trích truyện ngắn Thành phố không còn họa sĩ)

…………………

                    Lão nằm chết lặng lẽ dưới một gốc thông bên đồi Êm. Mãi khá lâu sau khi lão chết, gia đình đi tìm mới phát hiện ra. Bây giờ, người ta đã đưa lão ra nghĩa trang trong tiếng chiêng trống buồn bã.

Trong hai ngày qua, khi xác lão còn quàn ở nhà, thỉnh thoảng, tiếng chiêng trống báo hiệu đám ma và tiếng cầu kinh nổi lên, âm vang dài trong thung lũng. Đó là những gì người sống đã làm để tỏ lòng nhớ tiếc lão. Nhưng không ai nhớ tới việc đi tìm một cành trúc cắm trước nhà làm phướn để dẫn hồn cho lão. Trước đây, khi trong xóm có người qua đời, bao giờ lão cũng đi tìm một cành trúc mang đến cắm trước nhà người quá cố. Để hồn họ biết đường tìm về xóm cũ. Ây thế mà đến phiên lão, người ta đã quên.

 

Lão đã sống ở đây gần năm mươi năm, là một trong nhữnbg người đầu tiên khai phá lập nên xóm này, hồi đất còn là rừng hoang còn cả dấu cọp. Xóm lão ở nằm ven thành phố, một thành phố du lịch nằm trên cao nổi tiếng khắp cả nước với khí hậu mát mẻ, cảnh đẹp và hàng ngàn biệt thự đủ kiểu. Thế nhưng cuộc đời của lão cũng như nhân dân lao động trong xóm ít được hưởng hứng thú của thành phố du lịch như khách nhiều tiền lắm của mọi nơi tìm đến.

 

Lão và bà con trong xóm đã bám lấy mảnh đất này, chặt cây, dựng lều, cuốc đất trồng trọt theo ven suối. Hàng chục năm mới tạo được cơ ngơi một nếp nhà và một mảnh vườn, quần quật làm quanh năm mới tạm đủ sống. Không phải dễ dàng gì. Sườn đồi dốc, đất ba dan dẻo quánh nên làm được mảnh vườn với nhiều tầng ngang chỉ với hai bàn tay và cây cuốc là công trình sức lực và mồ hôi bao nhiêu năm. Đã thế, khí hậu rất khắc nghiệt, không chỉ như người ta ca tụng. Trước đây, ở nơi thấp nhất dọc theo suối, buổi sáng, sương mù đọng hàng mấy giờ chưa tan và buổi chiếu, khí độc vô hình bốc lên đã làm đau ốm và chết không ít người. Sau này, khi đã lớn tuổi, lúc chiều muộn, lão không dám xuống vườn dưới nữa. Chỉ mới bước xuống thôi, dù đã mặc quần áo ấm, lão đã thấy ớn lạnh và người ngầy ngật khó chịu, dù thế lão vẫn rất gắn bó với mảnh vườn của mình, nơi mà từng nắm đất đều in dấu vết bàn tay sần sùi chai sạn của lão. Cả căn nhà nữa, dù mấy mươi năm trôi qua, căn nhà lão vẫn thế, một trong những căn nhà kiểu cổ lỗ nhất còn sót lại ở xóm này, tuy cột đã mục, vách gỗ bị mối ăn.

 

Chính vì mảnh vườn và ngôi nhà thân thiết mà lão đã không đi Mỹ. Hồi 75, vợ lão đang ở với đứa con đầu là sĩ quan đã cùng nó di tản sang Mỹ. Trước khi đi, con lão có nhắn lão xuống gấp với nó để cùng đi, nhưng phần vì chưa biết tin tức đứa con út cũng đi lính, phần vì không nỡ bỏ vườn, nhà, lão đã không đi. Lão tâm nguyện, dù chê độ  nào, sống chết gì lão cũng ở trên mảnh đất này.

…

Cũng như bao năm qua, lão quanh quẩn với mảnh vườn dù sức yếu không làm được bao nhiêu. Buổi chiều lão thường ngồi trước cửa ngó mông ra vườn và dọc theo thung lũng. Mùa lá hồng rụng mới buồn làm sao. Những cây hồng xanh mướt rậm rạp che kín các vườn, sau mùa thu hoạch trái, trong một thời gian gắn lá rụng sạch. Suốt hai sườn đồi, những cây hồng trơ cành khẳng khiu như cảnh vật một vùng đất chết. Được cái là chẳng bao lâu hồng lại đâm chồi nẩy lộc.

Lão thích nhất là gần cuối đông khi mai anh đào nở. Cây hoa mới lạ. Nó cũng giống hồng ở chỗ mùa rụng lá là rụng sạch trơ cành, những cành còn mảnh mai hơn cành hồng nhiều, nhưng khi ra hoa thì nở rộ trước khi ra lá. Chao ôi, những đóa hoa bé nhỏ phớt hồng dày đặc đến độ cả cây bừng lên như một ngọn lửa hay như một đám khói hồng bập bùng trông rất ấm áp và vui mắt, dù hoa chỉ nở và tàn trong vòng một, hai tuần. Cuối vườn của lão có hai cây mai anh đào lớn và bao nhiêu cây con đang mọc. Các vườn khác trong xóm này cũng thế. Lão cám ơn loài chim đã duy trì và phát triển loài hoa lạ đó trong thung lũng này khi mang hạt đem gieo khắp nơi. Trên các con đường của thành phố có tên xứ hoa đào này, các cây đào trông ngay hàng thẳng lối ngày xưa đã rụi cả. Người ta chỉ muốn chặt cành đem về cắm, thậm chí làm củi chứ không ai bảo vệ, vun trồng.

…

Có một chi tiết về cái chết của lão mà người ta ngại kể lại. Đó là khi ngã xuống bất tỉnh rồi đi luôn, lão gối đầu lên một đống phân bò lớn, bên cạnh là gánh phân đã chất đầy khá nặng. Có lẽ trên đường về, mệt nhọc nhưng thấy đống phân lớn, lão tiếc nên dừng lại cúi xuống hốt nốt. Không biết lão trúng gió, lên cơn đau tim hay đứt mạch máu. Có người chứng kiến kể thêm, điều kỳ lạ là chết như thế nhưng nét mặt lão rất thanh thản, hình như phảng phất nụ cười, tay chân lão không co quắp mà dang ra thoải mái. Lão nằm chết nhẹ nhàng trên thảm cỏ, dưới bầu trời xanh biếc và những ngọn thông hiền hòa phủ lên mặt lão tấm khăn tang - bóng mát dịu dàng.

 

(Trích truyện ngắn Người nằm chết trên đồi)

Vị linh mục dẫn ông và nàng vào nhà thờ và đi ra khép cửa, để hai người tĩnh tâm một lúc trong lúc chờ đợi linh mục trở lại.

 

Chưa bao giờ ông ở trong nhà thờ vắng lặng như thế này. Nàng ngồi xuống ghế nhắm mắt lại trầm tư. Ông nhẹ nhàng đi một vòng ngắm cách cấu trúc và trang trí trong nhà thờ.

 

Ông đã từng đi qua nhà thờ nổi tiếng này hàng ngàn lần nhưng chưa bao giờ vào bên trong. Đó là một ngôi nhà thờ cổ kính, xây dựng gần một thế kỷ nhưng vẫn bền vững với thời gian, hầu như không có một vết nứt.

Trần nhà không cao lắm nhưng có vẻ lồng lộng với những vòm tròn quét vôi màu hồng nhạt. Những cửa kính màu là những bức tranh thánh tích kỳ ảo. Nhìn từ bên trong ra, những vầng hào quang, những trái tim thánh thiện, những tà áo thanh sạch của các vị thánh ngời lên ánh sáng sống động lạ lùng. Tất cả là tác phẩm nghệ thuật của những nghệ sĩ bậc thầy chắc chắn đã được làm nên bằng trái tim sùng tín và bàn tay tài hoa cách đây hơn sáu mươi năm theo ngày tháng ghi chú bên dưới. Ông cảm thấy mình hơi xa lạ nhưng kính phục loại nghệ thuật này, nghệ thuật trong tôn giáo hay tôn giáo qua nghệt htuật. Ông vốn là kẻ vô thần ngay từ thời trẻ. Nhìn những bức tranh này, ông cảm nhận người nghệ sĩ không phải sáng tạo một cách thông thường mà chắc chắn đã làm nên tác phẩm trong một trạng thái tinh thần hưng phấn kỳ lạ, có thể là một cách  nguyện cầu hay dâng hiến của người nghệ sĩ.

 

Bên dưới những bức tranh kính màu, chỉ cao hơn tầm đầu người là những phù điêu về sự tích Chúa Giê Su, có lẽ làm bằng xi măng. Những phác họa đơn giản, mầu vàng nhạt, hơi nặng nề nhưng phù hợp với các cảnh Chúa giê Su vác thập tự giá trong nhiều tư thế trên đường đi lên chỗ chịu nạn. Cây thập tự giá, một dụng cụ hành hình, đã trở thành cây thánh giá, tượng trưng cho một tôn giáo, cho lòng sùng kính của hàng triệu triệu người, bằng sự hi sinh cao cả của một con người, một con Thiên chúa, theo như giáo lý của tôn giáo này.

 

Đi hết một vòng quanh tường nhà thờ, ông đứng lặng nhìn lên tượng Chúa Giê Su lớn phía sau bệ thờ. Một thân thể gần như trần truồng với mảnh vải khoác chéo che thân bị đóng đinh trên cây thập tự lớn mầu nâu. Chiếc đầu đội vòng gai rỉ máu ngoẹo sang bên. Thân hình với mầu da rất giống người thật nổi rõ từng bắp thịt trên cánh tay, lồng ngực, cặp đùi và những chiếc xương sườn lồ lộ. Những chỗ đóng đinh ở tay, chân và vết thương ở sườn đang tiếp tục chảy máu. Ai đã khắc họa nên hình tượng này hay chính là một hình ảnh có thực đã trở nên lồng lộng qua không gian và thời gian. Đó không phải là một thân thể. Đó là sự khổ nạn. Không phải khổ nạn. Đó là sự hi sinh. Không phải hi sinh. Đó chính là tình yêu. Một tình yêu mãnh liệt, rộng lớn,vượt qua phản bội, tội ác, khổ đau và cái chết. Phải chăng đó là cái gì rất mơ hồ nhưng cũng rất rõ ràng ông cảm nhận được từ giáo lý của một tôn giáo khi đứng trước hình tượng bi thảm và hùng tráng này.

(Trích truyện ngắn Hành trình trăm năm)

Chàng là một trong những gã lang thang cố hữu lâu nhất của thành phố sương mù. Thành phố bé nhỏ giữa lưng trời giá lạnh này có nhiều cái tên huyền thoại và những huyền thoại về các gã lang thang. Nhiều người đã đến đây để lang thang một thời gian trong cuộc đời họ. Nghĩa là họ có thể lẳng lặng đi, cảm nhận và suy tưởng mà không ai quấy rầy. Trong thời đại này có lẽ ít thành phố nào có điều kiện như thế cho những kẻ lang thang vì hầu như bất cứ ở đâu cũng có đám đông, tiếng ồn, nhạc giật, quảng cáo và đủ mọi thứ quấy nhiễu. Người ta khó lòng được yên tĩnh để mơ màng và trầm tưởng cho riêng mình. Thành phố này đã quyến rũ những kẻ lang thang vì bầu khí và không gian tĩnh mịch, đôi khi huyễn hoặc của một vùng mộng ảo.

 

Một quán café vắng với nhac êm dịu có thể ngồi nhâm nhi tách đắng nhìn màn mưa mịt mù qua lơp cửa kính. Một bãi cỏ non êm tơ thoáng đãng có thể ngả mình sưỡi nắng và nghe gió hát trên cao. Một mặt hồ tĩnh lặng ôm chứa ngàn sao và ánh điện phố phường lung linh trong đêm khuya khoắt. Một dòng suối rì rào bất tuyệt bản trường ca nguyên sơ hoang dã. Một cánh rừng vi vu tiếng hát của những lá cây hình kim mềm mại xanh mướt. Một vườn hoa nở rộ trăm hồng nghìn tía hay chỉ là một bông hoa dại vô danh nơi vệ cỏ ven đường. Một buổi chiều tà ánh lên sắc nắng âm u trong bầu trời lạnh giá và trên những dãy núi xa mờ thấp thoáng. Một buổi sáng con đường phố dốc cuồn cuộn sương mù như trong một chuyện thần tiên... Người ta có thể đi và trầm tư ở những nơi, những lúc, những phút giây, những gặp gỡ lặng lẽ dịu dàng để cảm nhận về khoảnh khắc cô độc êm ái của đời mình.

 

Nhiều người đã tìm đến đây trong một ít tháng ngày để lang thang, nhưng riêng chàng, hầu như chàng đã dành hết đời mình cho cuộc lang thang trên thành phố bé nhỏ này. Thế nhưng hình như chàng vẫn chưa tìm ra, chưa tìm được cuộc sống đích thực của đời mình. Có phải như thế không? Đôi khi chàng đau đớn tự hỏi.

Chàng đã đến đây từ lâu lắm, thuở còn là một thanh niên trẻ trung và mơ mộng từ một xứ sở khô cằn gió cát. Sau buổi lang thang ban đầu, chàng đã gặp gỡ người thiếu nữ mình yêu, lập gia đình, có con và làm việc cho cuộc mưu sinh. Nhưng một gia đình không thể lang thang cùng chàng, dù chỉ là trong tư tưởng. Vốn là một giáo sư triết học, chàng bay lượn ở  tầm cao của những trí tuệ cổ kim đông tây. Với tâm hồn lãng mạn, chàng ngao du qua những trang văn chương diễm tình và những cuộc hợp tan thấm đẫm niềm vui và nước mắt. Chàng lắng nghe phận người tuôn chảy trong thời gian miên viễn. Chàng đắm chìm trong những giấc mơ siêu thoát... Những điều đó làm chàng ngày càng xa lạ với cái gia đình bé nhỏ mà chàng tưởng đã là nơi sưỡi ấm tâm hồn cô đơn khao khát của mình.

(Trích truyện ngắn Những gặp gỡ không muộn màng)

Chàng đã ngồi rất lâu ở ngã tư đường - bến xe ôm - quen thuộc, không buồn nói chuyện với các bạn đồng nghiệp chung quanh. Hôm nay ế khách và ai cũng ngáp dài ngáp ngắn. Chàng đã hút gần một bao thuốc, tàn vứt bừa bãi bên lề đường. Một người bạn rủ chàng đi uống rượu nhưng chàng từ chối. Bây giờ chàng hoàn toàn tự do, không ai quản thúc, có thể hút thuốc, uống rượu tùy thích nhưng hôm nay chàng cảm thấy tâm trạng mình quá nặng nề và hầu như không nhấc mình nổi khỏi chiếc xe. Chàng muốn mình hóa đá trong buổi chiều tà lạnh lẽo của thành phố cao nguyên này.

 

Mùa đông ở đây không mưa nhưng lạnh giá vô cùng, nhất là đối với những người phải làm nghề đứng đường như chàng, Lái xe ôm, không biết có phải là một nghề không, công việc mà những người đàn ông thất nghiệp, thất cơ lỡ vận phải làm khi không thể tìm ra việc gì khác. Đó là nghề không cần được đào tạo. Chỉ cần một chiếc xe gắn máy và thông thuộc đường trong thành phố là người ta có thể hành nghề. Dĩ nhiên phải chịu dãi dầu mưa nắng, đứng suốt ngày ngoài trời đợi khách trong bất kỳ thời tiết nào, có khi đến tận nửa đêm.

 

Đã gần mười năm qua, chàng sống cuộc đời như thế, luôn luôn ở ngoài đường. Chàng đã đứng trong những đám sương mù cuồn cuộn lúc tinh mơ đã trở nên hiếm hoi của thành phố có biệt danh thành phố sương mù. Chàng đã đứng dưới những buổi trưa nắng gắt không kém buổi trưa oi nồng ở các thành phố bình nguyên. Chàng đã đứng giữa những buổi hoàng hôn lạnh giá với ngọn gió mang đầy hơi nước thổi thấu tim chàng xuyên qua lớp áo blouson dày hai lớp. Chàng đã đứng trong những đêm khuya âm u mà muôn vạn vì sao trên trời và ánh đèn phố thị, kể cả những ngọn đèn cao áp rực rỡ, không đủ soi sáng lòng chàng.

(Trích truyện ngắn Trong buổi chiều tà)

Ở Đà Lạt, chúng tôi đi lo giấy tờ của BY và đi thăm cáp treo. Nơi đây, nơi chúng tôi đã sống hơn 15 năm, thắng cảnh nào cũng đã biết, riêng cáp treo mới được xây dựng và khai trương vào dịp Tết vừa qua chưa đi.



Đà Lạt là xứ du lịch “trời cho” với cảnh quan và khí hậu thuộc loại hấp dẫn nhất Việt Nam nhưng những việc “người làm“ để phục vụ du lịch còn quá ít, đôi khi phản tác dụng mà người dân địa phương và báo chí đã phê phán nhiều. Trụ sở vĩ đại và thô kệch của Đài Truyền hình mới xây dựng án ngữ ngay lối vào của thành phố. “Con chim Lâm Cẩu” xấu xí vẫn còn nặng nề giương cánh ở bùng binh trước chợ Hoà Bình. Đồi Cù tự do mộc mạc tuyệt đẹp ngày nào đã trở thành sân golf hiện đại rào kín chỉ dành cho khách lắm tiền, chủ yếu là người nước ngoài. Vườn cỏ xanh mát dịu dàng với những chiếc ghế dài trắng tinh rải rác hầu như không lúc nào thấy người ngồi của khách sạn ba sao Đà Lạt Palace là một sự lãng phí lớn, đồng thời cũng là một điều mỉa mai. Cả thành phố Đà Lạt hầu như không còn bãi cỏ tự do nào cho trẻ con đùa chơi và những cặp trai gái tình tự. May ra còn chút rẻo quanh hồ Xuân Hương nhưng khi làm đường, người ta ủi bừa đất vào lô xô lảm xảm, dù cỏ mọc lên cũng không còn mấy chỗ ngồi êm ái.

 

Đồi Cù trở thành sân golf hiện đại, được cải tạo, làm mới, trồng thêm cây, đào thêm hồ, cỏ được chăm sóc xanh tốt mịn màng, được rào dậu kỹ lưỡng lại là cái gai trong mắt người dân thành phố và nhiều du khách.

 

Từ năm 1993 khi chính quyền tỉnh cho một công ty nước ngoài thuê đồi Cù để làm sân golf, người dân thành phố và nhiều tờ báo đã lên tiếng phản đối. Người ta bảo quyết định đó chẳng khác gì đem bán của hương hỏa và thiếu tầm nhìn về chính trị, xã hội và cả kinh tế. Đồi Cù bên hồ Xuân Hương giữa lòng thành phố là một cảnh quan tuyệt vời tạo nên đặc trưng và sức quyến rũ của bộ mặt thành phố cao nguyên xứ lạnh này. Đồi Cù tự do là bãi cỏ thiên đường ghi dấu kỷ niệm của biết bao cư dân thành phố và du khách. Với nhiều người từ khi còn trẻ thơ họ đã được chơi đùa trên đồi cỏ và khi lớn lên đã từng cầm tay người yêu ngồi tình tự dưới bóng mát dịu dàng của ngọn thông vi vu nắng gió. Bây giờ thiên đường đó đã mất. Đúng hơn thiên đường đã trở thành của riêng của một số ít người lắm tiền bạc, phần lớn là khách nước ngoài.

 

Dân Đà Lạt không bước vào và cũng không nhìn rõ được đồi Cù nữa, vì sau một thời gian các loại cây leo ở hàng rào mọc lên che kín. Chỉ có những công nhân phục vụ cho sân golf và mấy cô sinh viên vào làm thuê xách gậy lếch thếch chạy theo khách thấy được sân golf đẹp như thế nào (!?)

 

Sân golf đã tác động xấu đến môi trường thành phố. Ban đầu lúc mới san ủi, trời mưa cuốn đất xuống lấp cạn cả hồ Xuân Hương. Sau đó thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, phân bón theo mưa chảy xuống hồ làm ô nhiễm nguồn nước, cùng với các loại tảo độc xuất hiện đã làm nước hồ xanh đen đục ngầu và hôi thối. Khu vực phụ cận có bao nhiêu ngọn đồi có thể làm sân golf được, tại sao lại phải lấy đồi Cù ngay giữa trung tâm thành phố? Một quyết định thiển cận gây nên bao nhiêu hệ lụy.

 

Về mặt kinh tế, nghe nói sân golf này thua lỗ triên miên vì không có khách. Chưa có

đường bay trực tiếp từ các nước đến Đà Lạt nên khách giàu có chơi golf ít ai muốn đi 300 cây số đường bộ nhọc nhằn từ Sài Gòn lên Đà Lạt.

 

Biến đồi Cù thành sân golf là một quyết định sai lầm về mọi mặt, chẳng có lợi gì cho ai ngoại trừ một vài kẻ nào đó có thu nhập bất chính qua chuyện lo lót khi ký các hợp đồng kinh tế.

 

Theo ý kiến nhiều người, đồi Cù trở thành công viên, vườn thực vật mới là giải pháp tối ưu và sẽ trở thành nơi thân yêu của cư dân thành phố và du khách có thể cảm nhận rõ nhất thế nào là Đà Lạt, thành phố dịu dàng và trữ tình nhất trong mọi thành phố của đất nước này.

 

Công bằng mà nói thành phố cũng đã được sửa sang xây dựng nhiều. Các khách sạn Đà Lạt Palace, Đà Lạt Novotel đã trở thành khách sạn ba sao nổi tiếng sang trọng. Nhiều khách sạn khác cũng được nâng cấp hoặc xây dựng mới hiện đại. Các công sở, nhà hàng và nhà các quan chức to đẹp bề thế mọc lên khắp nơi. Đường sá nội thành hầu như mở rộng và làm mới hoàn toàn, một số công viên mới được xây dựng. Tuy nhiên việc xây dựng không theo quy hoạch, không tôn trọng không gian kiến trúc và cảnh quan môi trường, chặt phá tùy tiện các đồi thông đã làm Đà Lạt mất dần bản sắc ngày xưa, một cái gì là hồn phố lãng mạn êm ả, trữ tình làm cho Đà Lạt không giống bất cứ thành phố nào khác. Thành phố này muốn vươn cao cùng thời đại mà vẫn giữ được bản sắc, cần những người lãnh đạo không những có trí tuệ, tầm nhìn cao hơn, mà còn cần phải có ít nhất một chút lãng mạn và trái tim dễ rung động của người nghệ sĩ đam mê cái đẹp chứ không phải là đầu óc thực dụng.

 

Riêng về cáp treo, một loại hình phục vụ du lịch rất phù hợp với địa hình Đà Lạt đã được nói đến và thực hiện trong nhiều năm trước nhưng bất thành. Một công ty nước ngoài nào đó đầu tư, quảng cáo ầm ĩ nhưng không rõ vì sao đã động thổ khởi công rồi bỏ cuộc, nghe nói là không có vốn. Thật kỳ lạ ! Mới đây, người ta âm thầm làm, không dám quảng cáo gì nữa và lúc sắp hoàn thành đưa vào sử dụng mới dám công bố. Chúng tôi cũng háo hức đi xem thử bộ mặt cáp treo Đà Lạt thế nào.

 

Đầu trên của cáp treo được xây dựng trên ngọn đồi đầu đèo Prenn. Theo con đường nhựa mới mở chạy quanh co khoảng vài trăm mét là đến vị trí của đầu cáp trên đỉnh đồi. Đây là một mặt bằng khá rộng được thiết kế một công trình kiến trúc khá hợp lý với bãi đậu xe, nhà hàng, nhà khách, phòng bán vé và nơi điều khiển cáp treo trên tầng cao nhất. Một sân rộng hình bán nguyệt với cây cảnh và lan can bao quanh lộng gió. Từ đây có thể nhìn toàn cảnh thành phố bên dưới, một chặng đèo quanh co phía đông nam và dãy núi với đỉnh Lang Bian cuối trời phía bắc.

 

Chúng tôi đến gần trưa nhưng khách vẫn đông. Giá vé khá đắt: 50.000đ cho người lớn một lượt đi về. Nghe nói chỉ trong mấy ngày Tết đã thu tiền vé được vài tỉ. Cáp treo có 50 cabin, mỗi cabin ngồi được bốn người, thiết kế gọn và xinh xắn, nhiều mầu sắc khác nhau với cửa kính trong suốt tứ phía. Hai dây cáp lớn chuyển động liên tục giữa các ròng rọc trên các đầu trục đưa các cabin êm ả lướt về hai chiều ngược nhau trên các ngọn thông. Đầu dưới của cáp treo ngay trên lối vào Trúc Lâm thiền viện cách đầu trên khoảng hơn hai cây số. Cho đến nay đây là cáp treo dài nhất Việt Nam.

 

Việc chọn địa điểm cáp treo ở đây khá thích hợp. Cùng với chùa Trúc Lâm và hồ Tuyền Lâm, đây quả là một khu du lịch phức hợp lý tưởng. Khách có thể đi cáp treo đến chùa viếng cảnh rồi thuê thuyền đi chơi trên hồ, sinh hoạt dã ngoại trong rừng và trở về bằng đường cáp treo cho một ngày đi chơi thú vị.

 

Cabin chúng tôi đi lúc mới lên có bốn người nhưng ngay sau đó, hai người kia, có lẽ là đôi tình nhân hay vợ chồng trẻ nhảy vội xuống đi cabin sau, họ nói muốn đi riêng để chụp hình. Những người phụ trách cáp treo không phản đối nên chúng tôi cũng được đi riêng hai người. BY sợ độ cao nên cứ nắm chặt lấy tay tôi và chúng tôi ở bên nhau, trên cao lồng lộng, trong một cảm giác mới mẻ gợi nhớ những ngày tháng lãng mạn xa xưa thời trẻ. Chúng tôi chụp hình cho nhau với bối cảnh bên dưới là rừng thông bát ngát và hàng dọc những cabin khác đang chuyển động trên đường dây.

Cáp treo là một công trình phục vụ du lịch mới đáng tán thưởng. Tuy nhiên việc trồng cây quanh hồ Xuân Hương và trên các trục đường, nhất là đối với loại cây mai anh đào, một đặc trưng của Đà Lạt thật đáng chê trách. Gần 30 năm qua, năm nào cũng hô hào phát động trồng cây ầm ĩ mà đến nay mới chỉ một số ít cây sống được, phần lớn chết, bị chặt phá hay xác xơ còm cõi.

 

Năm nay do khí hậu thời tiết thay đổi tác động, hoa mai anh đào nở muộn. Thường hoa này chỉ nở và tàn khoảng một tuần trước hoặc sau Noel nhưng năm nay đến Tết hoa mới nở. Ngày chúng tôi về đây vẫn có một vài cây còn hoa bập bùng một màu hồng nhạt quanh hồ Xuân Hương và trên đường dốc lên khu Hoà Bình. Hầu như tất cả đều là những gốc mai già còn sót lại từ thời xa xưa. Chúng tôi cũng ghi được mấy tấm hình bên cảnh tượng hiếm hoi này. Người dân địa phương và báo chí rất tán thưởng hiện tượng này, coi đây như nét hồi sinh của “thành phố hoa đào” một thời vang bóng. Nghe nói nhân dịp này chính quyền địa phương đã quyết định đặt tên một con đường là đường “Mai anh đào” và quyết tâm trồng lại hàng cây kỳ diệu đặc trưng này của thành phố. Cũng rất mong điều này được thực hiện và người dân Đà Lạt có thể tự hào về một tên gọi lãng mạn của thành phố mình bên cạnh những tên gọi khác như “thành phố ngàn hoa”, “thành phố trên cao”…

(Trích bút ký Hành trình mùa xuân)

Tôi đã từng đi xuyên Việt bốn lần, bằng những phương tiện và với mục đích khác nhau. Đây là lần thứ năm tôi lại đi, có những cảm nghiệm khác, với những người bạn đặc biệt, tất cả đều là cựu sĩ quan Thủy Quân Lục Chiến của Việt Nam Cộng Hòa ngày trước.

 

Tôi có một người bạn cũ từ thời trung học. Khai Nguyên là mật danh trong đơn vị của anh sau này. Hồi đó chúng tôi mới 15-16 tuổi, học trung học đệ nhị cấp ở một tỉnh lẻ miền Trung. Hai chúng tôi đều yêu một cô bé 13 tuổi, mới học đệ lục. Chuyện tình – nếu có thể dùng được từ đó – thật dễ thương. Chúng tôi không ganh tị nhau mà lại thân nhau mới lạ. Hàng đêm chúng tôi đến trước cổng nhà cô bé chờ đợi để được nhìn thấy bóng cô xuất hiện bên ánh đèn cửa sổ. Chúng tôi đi chơi trèo lên một ngọn núi đá, mỗi đứa đều cố sức leo lên mỏm cao nhất để khắc tên mình và cô bé trên đó. Chúng tôi viết những lá thư tình có ướp hoa ngọc lan … Đủ mọi kiểu của tình yêu học trò. Nhưng oái oăm thay, khi lớn lên một chút, cô bé lại đi yêu một anh chàng khác, cũng là một người bạn của chúng tôi. Hai kẻ thất tình đều vỡ mộng. Có thể vì thế mà thêm một lý do để chúng tôi thân nhau chăng.

 

Lớn lên mỗi người đi mỗi ngả, chỉ gặp nhau vài lần. Tôi học sư phạm, ra trường đi dạy. Anh vào binh chủng Thủy Quân Lục Chiến. Năm 75 anh sang Mỹ, đi học lại, tốt nghiệp kỹ sư, làm việc cho các công ty tin học. Theo lời anh nói, anh là một trong những người Việt tỵ nạn khá thành đạt trên xứ người, từ hồi đi làm, chưa ngày nào thất nghiệp. Mấy năm gần đây, đọc được các sách của tôi xuất bản bên Mỹ và những bài báo tôi viết trên mạng, anh bắt đầu tìm cách liên lạc lại bạn cũ. Trong một chuyến trở về quê hương lần trước, anh đã bỏ công thuê xe đi tìm những nơi tôi đã từng sống mà anh biết, cuối cùng có được số điện thoại và địa chỉ của tôi. Anh lập tức gọi điện và hôm sau có mặt ở nhà tôi. Chúng tôi ôm lấy nhau sau hơn 30 năm xa cách và nói chuyện từ sáng cho đến tận khuya.

 

Đầu năm nay anh lại về thăm cùng với gia đình. Anh có nhã ý mời vợ chồng chúng tôi và vợ chồng ba người bạn cũ khác đang ở trong nước, mới liên lạc lại, đều là là cựu sĩ quan Thủy Quân Lục Chiến, làm một chuyến lãng du xuyên Việt. Tất cả chi phí đều do anh đài thọ. Ba anh chàng cựu sĩ quan này có hoàn cảnh hơi khác nhau. Đơn Dương bị bắt làm tù binh. Hòa Bình sau 75 mới đi cải tạo. Trung Dũng bị thương giải ngũ trước 75 nhưng cũng phải đi cải tạo. Ba người này vì điều kiện riêng và hoàn cảnh gia đình, không ai đi nước ngoài, chịu nhiều cay đắng của những người lính thất trận và tất cả đều kiếm sống bằng đủ mọi thứ nghề linh tinh. Rất tiếc ba bà vợ của ba người này bận việc gia đình không đi được, nên cuối cùng đoàn lữ hành chỉ có hai phụ nữ là Khanh, vợ Khai Nguyên, BY vợ tôi và năm người đàn ông.

 

Khai Nguyên sợ Khanh và vợ chồng chúng tôi không hòa hợp với những người bạn lính tráng cũ của anh nhưng điều lo ngại đó đã không xảy ra. Khanh là một phụ nữ có bề ngoài khả ái, tính tình cởi mở, phóng khoáng, đã nhanh chóng trở nên thân thiết với BY, luôn chăm sóc chu đáo cho chồng và các bạn, nên tất cả chúng tôi đều nhanh chóng hòa đồng và trở thành bạn bè, đôi khi có không khí như một gia đình. Tôi là cựu sinh viên tranh đấu chống chính quyền Sài Gòn, đã từng gia nhập đảng cộng sản và bị khai trừ, đang là người bất đồng chính kiến với chế độ. Tôi và Khai Nguyên cũng như các bạn mới tuy có nhiều khác biệt nhưng đều đã lớn tuổi, trải nghiệm nhiều nên hầu như ai cũng trầm tĩnh, có cái nhìn nhân ái, bao dung về cuộc sống. Sự trân trọng tình bạn cũ với Khai Nguyên cũng là một mối liên kết giúp chúng tôi gần nhau qua những câu chuyện xưa mà chúng tôi cùng chia sẻ. Nhờ thế, chuyến đi hơn hai tuần đã không ngớt lời trò chuyện và đầy ắp tiếng cười.

 

Tôi đang ở Đà Lạt. Các bạn khác từ Sài Gòn lên, ở đây chơi vài hôm trước khi đi tiếp ra trung. Vợ chồng Khai Nguyên mấy năm trước đã từng qua đây nhưng các bạn khác đã khá lâu chưa lên Đà Lạt, vì thế chúng tôi đưa họ đi chơi một vài nơi như Hồ Tuyền Lâm, Thung Lũng Vàng…

 

Từ thành phố, hiện nay có ba đường đi Hồ Tuyền Lâm. Đổ đèo Prenn, giữa đèo rẽ phải vài cây số. Đi bằng cáp treo từ đầu đèo, với vài chục phút lướt trên rừng thông. Qua ngả Dinh 3 Bảo Đại theo con đường mới mở chạy thẳng đến cuối hồ. Hồ Tuyền Lâm theo quy hoạch, tương lai sẽ là một khu du lịch phức hợp gồm nhiều loại hình và đang có nhiều dự án đầu tư, tuy nhiên tiến độ triển khai rất chậm.

 

Bên cạnh cuối hồ Tuyền Lâm là Chùa Trúc Lâm, một thiền viện thuộc hàng lớn nhất nước, mới được xây dựng hơn 10 năm nay, trên mấy ngọn đồi thông, với hàng trăm tăng, ni sinh đang tu học. Chùa Trúc Lâm nhanh chóng trở thành một thắng cảnh, không chỉ là nơi Phật tử đi chiêm bái mà còn là điểm đến hầu như của mọi du khách khi đến Đà Lạt. Ngoài chùa chính với những công trình phụ trợ như gác chuông, cây cảnh ở ngay lối vào và các nhà ở cách biệt của tăng, ni khuất sau rừng, phía trước là một cảnh quan được xây dựng dựa vào địa thế tự nhiên với nhiều kỳ công. Hàng mấy trăm bậc cấp đi vòng theo thế núi, đưa khách đi dần xuống bến thuyền dưới hồ, thỉnh thoảng lại có một mái đình nhỏ có ghế đá để khách ngồi nghỉ chân ngắm cảnh hồ bát ngát qua thấp thoáng ngọn thông. Con đường dẫn tiếp đến lối ra, dọc theo một rừng trúc vàng và một chiếc hồ nhân tạo, để khách không cần phải trở về theo lối cũ.

 

Chúng tôi ngồi dưới một mái đình nghỉ mệt để chụp ảnh và trò chuyện. Khai Nguyên rất thích chụp ảnh. Anh là một tay máy nghiệp dư nhưng trang bị hẳn cho mình một máy ảnh chuyên nghiệp, hiện đại, với nhiều đồ phụ tùng lỉnh kỉnh chứa đầy một ba lô chuyên dụng mà lúc nào anh cũng mang theo người. Anh thường mặc quần jean đen, áo khoác màu đen và đội chiếc mũ tai bèo Thủy Quân Lục Chiến anh vẫn còn giữ được, trông rất bụi. Đơn Dương cũng mặc jean, kể cả áo khoác, màu xanh jean truyền thống. Hòa Bình với cặp kính đen đeo vào trông rất oai phong. Trung Dũng có mái tóc muối tiêu uốn lượn bồng bềnh. Bốn chàng “4 chữ” (TQLC) xem ra khá phong trần và có lẽ ngày xưa đều thuộc loại hào hoa phong nhã trong mắt các “em gái hậu phương”.

 

 

Mọi người đều thừa nhận Đà Lạt tuy có nhiều thay đổi, vẫn còn là một thành phố tương đối bình yên nhất hiện nay. Đối với những người đã có ấn tượng và tình cảm đẹp với Đà Lạt từ nhiều năm trước, nhất là trước năm 1975, vẫn thường thất vọng khi trở lại Đà Lạt ngày hôm nay. Đường sá, nhà cửa, phố xá được mở rộng, xây dựng nhiều nhưng xô bồ đã làm mất đi nét lãng mạn, trữ tình và tĩnh mịch của thành phố ngàn thông ngày nào. Tuy nhiên, cuộc sống phải đổi thay và đi tới không ngừng, nhất là với số dân từ nhiều nơi mới nhập cư đông đảo, kinh tế thị trường tác động dữ dội, làm sao có thể không thay đổi. Vấn đề là trình độ, nhận thức của những người quản lý chưa đủ tầm để quản lý đô thị trên đà phát triển nhưng vẫn giữ được bản sắc của thành phố. Đây là vấn đề không riêng của Đà Lạt mà của mọi nơi trên cả nước, đặc biệt đối với những thành phố cổ có nhiều bản sắc văn hóa đặc trưng truyền thống.

 

Chúng tôi cũng đi chơi Thung Lũng Vàng, một khu du lịch mới được khai thác trên đường đi Suối Vàng. Dankia-Suối Vàng là vùng đồi núi ở phía tây bắc thành phố, cách khoảng 20 cây số, nơi ngày xưa Yersin đã từng có dự định xây dựng khu nghỉ dưỡng khi mới phát hiện ra Đà Lạt. Đây là vùng đồi núi còn tương đối giữ được nét tự nhiên hoang dã. Một số công ty nước ngoài đã có dự định đầu tư lớn, xây dựng hẳn một thành phố nghỉ dưỡng ở đây, một Đà Lạt 2, nhưng chưa thực hiện được. Hiện tại mới có một khu trồng hoa của tư nhân và Thung Lũng Vàng do Công ty Cấp Nước thực hiện.

 

Công ty này quản lý Nhà Máy Nước Suối Vàng, nhà máy được Đan Mạch tài trợ, cấp nước cho thành phố, trụ sở đóng ngay bên cạnh hồ Suối Vàng, nên có điều kiện xây dựng khu du lịch Thung Lũng Vàng. Hiện nay ở bất cứ đâu, các khu du lịch cũng xây dựng các bồn hoa, cây cảnh, hồ suối nhân tạo… nhưng Thung Lũng Vàng có ưu điểm là nằm trên một vùng đồi núi rộng, cách xa thành phố ồn ào, với hồ suối tự nhiên, việc xây dựng biết dựa vào thiên nhiên nên khung cảnh tạo được cảm giác yên bình, thư giãn cho du khách. Khai thác thiên nhiên nhưng vẫn giữ được thân thiện với môi trường là vấn đề lớn đối với những quốc gia đang phát triển nhưng những người lãnh đạo và cả nhân dân còn thiếu nhận thức và trình độ, cũng là vấn đề Việt Nam đang phải đương đầu. Chỉ chạy theo nhu cầu bức xúc của cuộc sống và lợi nhuận đã để lại những di hại trước mắt và lâu dài không sao bù đắp.

 

Đà Lạt có nhiều khu du lịch “trời cho” với cảnh quan tuyệt đẹp như Thung Lũng Tình Yêu, Thác Prenn, Thác Datanla, Hồ Than Thở, Suối Cam Ly, Đồi Mộng Mơ, Núi Langbian… với những huyền thoại và sự vang danh trong quá khứ, mới nghe tên, du khách chưa từng đến Đà Lạt đã thấy hấp dẫn. Tuy nhiên khi đến nơi, người ta có hài lòng và muốn trở lại lần nữa không lại là chuyện khác. Điều đó hoàn toàn không dễ dàng. Xu hướng ban đầu là “bóc lột thiên nhiên”, chủ yếu do các cơ quan nhà nước quản lý, chỉ rào lại rồi bán vé và bán đồ lưu niệm. Dần dần người ta ý thức hơn, và cũng do đòi hỏi thực tế của kinh tế thị trường, một số nơi được giao cho tư nhân đầu tư tôn tạo, khai thác. Tuy nhiên còn xa mới đạt đến sự hoàn chỉnh. Những công trình xây dựng mới, nhất là bằng bê tông cốt sắt, bị lạm dụng và “chỏi” với cảnh quan thiên nhiên nhiều khi đã làm hại đến thắng cảnh. Những người đầu tư có vốn, nhưng cần hơn, phải có đầu óc và trình độ thẩm mỹ cao, với sự giúp sức của các chuyên gia trong lĩnh vực này, chứ không phải cứ quăng tiền ra là được.

 

Điều đáng buồn nhất ở Đà Lạt là chuyện sân golf-Đồi Cù. Nét độc đáo nhất của thành phố Đà Lạt là Hồ Xuân Hương và Đồi Cù. Nơi nào có hồ và đồi thông, không phải một mà đến ba ngọn đồi kế tiếp nhau với rừng thông vi vu, nằm ngay chính giữa trung tâm thành phố? Hồ và đồi thông làm cho thành phố dịu lại, lao xao, xanh mướt đượm nét trữ tình lãng mạn. Từ chợ hay khu phố Hòa Bình, chỉ cần đi bộ năm, mười phút là khách đã có thể đến ngồi bên bờ cỏ ven hồ ngắm sóng nước hay lang thang dưới rặng thông ngập tràn nắng gió. Trước đây cư dân thành phố hay khách đến Đà Lạt đều có những kỷ niệm êm đềm về ngọn đồi thơ mộng này thuở còn bé dại, lúc đang say đắm trong cuộc tình hay những lúc nhàn du trên thảm cỏ xanh mượt pha màu tím biếc với những ngọn cỏ may nghịch ngợm bám vào gấu quần theo về đến tận nhà. Ngày hôm nay, điều đó đã trở nên xa vời như ảo mộng.

 

15 năm trước đây, đúng vào dịp kỷ niệm 100 năm thành phố Đà Lạt, chính quyền đã cho một tập đoàn kinh tế nước ngoài thuê Đồi Cù 20 năm để làm sân golf hiện đại theo tiêu chuẩn quốc tế (sau này kéo dài thời hạn thuê thành 50 năm, nhưng dân Đà Lạt thì gọi là đem bán “của hương hỏa”). Lúc đó nhân dân, trí thức Đà Lạt và báo chí nhiều nơi phản đối kịch liệt, nhưng những người cầm quyền đã bất chấp tất cả. Họ chỉ biết lợi nhuận, và dân cũng không biết lợi nhuận này vào đâu. Những người chủ sân golf mới đã đổ vào rất nhiều tiền bạc để làm lại Đồi Cù, trồng cỏ mới, đào thêm hồ, quy hoạch lại rừng thông và nhất là rào kín chung quanh sân golf. So với trước, sân golf bây giờ sạch sẽ, mượt mà, sang trọng hơn và cũng giả tạo hơn nhưng đã khuất sau hàng rào cao cây phủ. Đó là một thiên đường đã mất của nhiều người, trở thành mảnh thiên đường riêng của những những ông chủ lắm tiền nhiều của nước ngoài, một số tư bản đỏ trong nước và những quan chức có đặc quyền.

 

Xu hướng hiện nay của thế giới là đưa các sân golf càng xa thành phố càng tốt. Vì sân golf nhìn đẹp đẽ nhưng công việc duy trì thảm cỏ gây ô nhiễm môi trường và độc hại ghê gớm bởi các loại phân bón và thuốc trừ sâu bệnh. Hồ Xuân Hương Đà Lạt có dạo cũng đã “lãnh đủ” hậu quả của việc làm sân golf với đất bồi lắng và các loại tảo độc xuất hiện. Về lâu dài, tác hại còn ghê gớm. Xa xa chung quanh thành phố còn có vô số đồi, thung lũng có thể làm sân golf, cớ gì phải tước đoạt một tài sản vô giá này của nhân dân để trao vào tay những “ông chủ ngoại quốc” và để lại bao nhiêu di hại?!

 

Thảm cỏ rộng lớn nhất dưới rừng thông, công viên tự nhiên lớn nhất  của Đà Lạt đã không còn là của mọi người, bây giờ chỉ có những rẻo cỏ nho nhỏ quanh hồ Xuân Hương cho những ai muốn ngồi trên một bãi cỏ. Trong thời hiện đại này mà tất cả các thành phố đều bê tông hóa, nhựa hóa, việc ngồi trên một bãi cỏ, dưới một tàng cây chính là niềm hạnh phúc mà tiền bạc, hàng hóa tiện nghi sang trọng không thể so sánh được.

Công bằng mà nói, hiện nay Hồ Xuân Hương đã được chỉnh trang khá chu đáo. Nạo vét, xây bờ kè những nơi cần thiết, trồng thêm cây, sửa lại đường và nhất là làm mới, lát gạch men bờ lề ven hồ để khách có thể đi lại thoải mái. Buổi sáng và chiều, con đường chung quanh hồ, con đường đẹp và ít xe cộ nhất của thành phố là nơi nhiều người đi dạo, tập thể dục, đi xe đạp đôi, tạo nên một khung cảnh sống động nhưng cũng không làm mất đi vẻ yên tĩnh của hồ vì hồ khá dài và rộng, chu vi đến hơn 5 cây số.

Dù sao đi nữa, các bạn của tôi cũng khá hài lòng về Đà Lạt, nơi đã cho họ cảm giác êm đềm, nhất là lúc đi dạo trên những con đường dốc mù sương vào sáng sớm, đêm khuya hay ngồi quán café Thủy Tạ nhìn ra mặt hồ gợn sóng với ngọn tháp chuông độc đáo của trường Yersin xa xa ẩn hiện trong rừng thông.

Nhà hàng Thủy Tạ là nhà hàng độc đáo và mang nét đặc trưng nhất của Đà Lạt, được xây dựng từ thời Pháp. Công trình vươn ra hồ từ một bán đảo nhỏ, hầu như không có tường, chỉ có những khung sườn bê tông được lắp kính rất tao nhã. Phía ngoài còn có ban công rộng không mái che có thể ngồi khi trời không mưa, có cả cầu nhảy (cho những người thích bơi lội của câu lạc bộ thể thao ngày xưa). Ngồi uống café ở đây có thể ngắm hồ gợn sóng từ xa, chiêm ngưỡng Đồi Cù xanh mướt thấp thoáng bên kia bờ, thấy một góc thành phố, với tầm nhìn rộng thoáng, lại khá yên tĩnh vì cách đường khá xa. Điều hơi đáng tiếc là ở đây giá cả hơi đắt, thức ăn không được ngon lắm nên hầu như chỉ có khách du lịch vào, còn cư dân bản địa hiếm người lui tới.

Sau hai ngày thăm thú Đà Lạt, trước khi rời đi Nha Trang, tôi hỏi các bạn điều gì ấn tượng nhất về Đà Lạt, điều ngạc nhiên là có mấy bạn nói đó là ngôi nhà và khu vườn “động hoa vàng” của chúng tôi. Khu vườn này chúng tôi mua từ 20 năm trước, ở một nơi hơi hẻo lánh, nằm dưới thung lũng và lúc đó chẳng có mấy giá trị. Căn nhà gỗ cũ kỹ mối mọt đã hơn 60 năm tuổi, được chủ nhà xây dựng từ khi mới đến đây khai đất làm vườn. Tôi mua vì một ý tưởng lãng mạn, mê mấy ngọn lau phất phơ bên bờ một cái giếng thơi nhỏ trong vườn. Sau hơn 15 năm bị bao vây, cô lập và thất nghiệp bất đắc dĩ, khu vườn này đã cứu chúng tôi khỏi cảnh khốn cùng. Với nền kinh tế thị trường và cơn sốt nhà đất, chúng tôi đã bán hơn một nửa mảnh vườn để giải quyết nhu cầu của cuộc sống.

Với hơn 500 mét vuông đất còn lại, tôi xây ngôi nhà mới và dỡ ngôi nhà cũ dựng lại bên cạnh làm lưu niệm. BY là người rất yêu hoa và thích trồng hoa. BY đã đi sưu tầm rất nhiều giống hoa vàng để khu vườn xứng với tên gọi “động hoa vàng”, nhất là những giống hoa đặc trưng của Đà Lạt: Mimosa, hoa súng vàng, hoa giấy vàng, hoàng anh, ngũ sắc vàng, hài tiên, kim châm…, đặc biệt là hoa bướm vàng, một loại hoa mảnh mai đong đưa trong gió nhưng sức sống phi thường mà ngày nay ít người trồng. Rồi các loại hoa và cây cảnh khác, hoa hồng, tỷ muội, tường vi, huệ tím, cẩm tú cầu, mai anh đào, liễu rủ, phượng hồng, phượng tím, phượng đỏ, thông, tùng bách tán, tùng la hán ... Các loại dây leo như móng rồng, móng cọp, sao đỏ, xác pháo, mai tím, thiên lý… Chúng tôi trồng trên đất chứ không trồng trong chậu, hơi lộn xộn nhưng vì thế lại có phần hoang dã, không tỉa tót cầu kỳ. Riêng mai anh đào có duyên nợ với chúng tôi. Loại cây mà các công ty nhà nước trồng ven hồ rất khó sống lại mọc tự nhiên đầy trong vườn chúng tôi, do chim mang hạt đến.

Các bạn quen ở nhà hộp Sài Gòn nóng bức, thiếu không khí trong lành, thiếu tầm nhìn, thích “động hoa vàng” của chúng tôi cũng phải. Chúng tôi tự hào vì đã bỏ ra rất nhiều công sức, tự tay mình trồng, chăm bón để xây dựng “một cõi đi về” bình yên êm ả cho riêng mình sau bao nhiêu sóng gió và có thể đón bạn bè ở một nơi chốn có thể giúp họ tạm thời rũ bỏ những ồn ào, bụi bặm và cạnh tranh quyết liệt của cuộc sống đời thường.

(Trích bút ký Một chuyến du hành xuyên Việt)

 

Đà Lạt thông, cỏ và gió (bút ký)

 

Người ta thường gọi Đà Lạt là “Thành phố hoa” nhưng thực ra ấn tượng đặc trưng đầu tiên của du khách khi đến Đà Lạt không phải là hoa, lại càng không phải là hoa dã quỳ. Dã quỳ không chỉ của riêng Đà Lạt mà là nét chung cho cả tây nguyên. Vào giữa đông, bắt đầu mùa khô, đi theo quốc lộ 20 dọc theo tây nguyên, ta sẽ thấy sắc hoa quỳ vàng rực rỡ khắp các thung lũng, sườn đồi của Đà Lạt, Ban Mê Thuột, Pleiku chói chang trong nắng ấm. Còn hoa, với phương pháp trồng cấy và trưng bày hiện đại, hoa có thể hiện diện khắp mọi nẻo đường ở bất kỳ thành phố nào. Dĩ nhiên khi được mệnh danh là “Thành phố hoa”, Đà Lạt phải có cái gì hơn hẳn các thành phố khác về hoa, nhưng đó là khi người ta có đủ thời gian để đi sâu khám phá.

 

Dù lên Đà Lạt bằng đường đèo Prenn hay đèo Dran, du khách sẽ chìm ngập giữa đồi núi chập chùng và rừng thông bát ngát trong một mầu xanh êm dịu mượt mà của những sợi lá kim vi vu trong gió. Vào đến trong phố, ta vẫn không xa thông vì phố ở trong rừng hay rừng đi vào trong phố. Rồi đi khắp nơi ta vẫn thấy thông gần gũi, nhất là bên những mặt hồ lung linh soi bóng bầu trời hay chung quanh những công trình kiến trúc kiểu Pháp còn lại với dấu vết thời gian rêu phong.

 

Bạt ngàn thông nhưng không hề đơn điệu. Có thể là vô vàn hàng cây thân thẳng tắp song song với cành lá giao hòa làm thành mầu xanh êm dịu của núi rừng. Có thể là những cổ thụ riêng lẻ nằm bên đường với gốc vững vàng sù sì thô nhám, cành uốn lượn vươn tỏa bóng mát bình an trăm năm, thách thức thời gian dâu biển. Có thể là muôn nghìn búp non thắp nến trên vạn cành mới đong đưa trong gió. Có thể là những cây non tơ xanh mướt đầy sức sống hình chóp nhọn tuyệt đẹp hứa hẹn một mai đâm thẳng tới trời xanh. Có thể không còn là cây mà trở thành vô số cảnh sắc khác biệt mang chứa mầu sắc, mùi hương, vị ngọt  và rung động của cảm giác, cảm xúc và tâm tình của những người đã một lần trải qua kỷ niệm dưới bóng mát chở che dịu dàng của chỉ một cành thông hay ngàn thông từ vạn cổ.

 

Ấn tượng thông đầu tiên của Đà Lạt nhất định phải là trên những con đường quanh co mềm mại của đèo Prenn hướng nam từ Sài Gòn lên hay đèo Dran hướng đông sau khi khách từ đồng bằng ven biển vượt qua đèo Ngọan Mục. Hai ngọn đèo thông dịu dàng này là hai lối vào tuyệt đẹp đưa đến  xứ sở giữa chốn lưng trời lãng đãng sương mù. Dù là với những tia nắng óng vàng xuyên qua tán lá buổi hừng đông hay sương khói mịt mờ lúc hòang hôn, hay ngay cả lúc mưa gió nhòa nhọet, rừng thông vẫn cho bạn cảm giác thật êm đềm, dịu dàng và mơ mộng mà có lẽ không ngọn đèo nào trên đất nước này có được.

 

Ấn tượng đó lại càng mạnh mẽ khi bạn có thời gian lang thang trong những cánh rừng thông ven Thung lũng Tình Yêu, hồ Tuyền Lâm, hồ Than Thở hay cả vùng Suối Vàng rộng lớn nguyên sơ. Ấn tượng đó vẫn không phai khi bạn ngước mắt ngắm nhìn những công trình kiến trúc nổi tiếng của quá khứ vẫn còn tồn tại ẩn hiện dưới hàng thông hay những cánh rừng nho nhỏ như Dinh 1, Dinh 2, Dinh 3, Trường Yersin (nay là Trường Cao Đẳng Sư Phạm),  Trường Đại Học Đà Lạt, Giáo Hòang Học Viện (nay là Trường Đại Học Dân Lập Yersin), Khách sạn Palace, Nhà hàng Xuân Hương, Dòng Chúa Cứu Thế (nay là Phân viện Sinh Học VN), nhà thờ Con Gà, nhà thờ Saint Domaine, Bệnh viện Sohier (nay là nhà nghỉ Công Đòan), hay khu biệt thự phong cách Pháp đường Trần Hưng Đạo, đường Lê Lai, đường Nguyễn Du (nơi có resort Hòang Anh – Gia Lai mới xây dựng)…

 

Bạn đứng đó chiêm ngưỡng hay nhìn vào những tấm ảnh và thử tưởng tượng những công trình kiến trúc này không có hàng thông vây phủ sẽ như thế` nào, có còn giữ được vẻ đẹp hút hồn lữ khách như chúng vốn có? Hay là sẽ trơ trụi, cộc cằn, thậm chí trơ trẽn như một số công trình mới xây dựng gần đây dù theo kiểu cọ nào cũng chỉ là bê tông với xi măng, sắt thép cứng nhắc vô hồn. Ngay cả nhà Ga Đà Lạt, Cục Bản Đồ hay Trường Yersin với đường cong tuyệt mỹ bằng gạch mộc và tháp chuông hình cô gái trùm khăn xám có một không hai, nổi tiếng là những công trình kiến trúc đẹp bậc nhất Đông Nam Á, nay chỉ còn lại mấy hàng thông hay mấy cây thưa thớt, cũng đã giảm đi sức quyến rũ mấy phần so với ngày trước.

 

Nếu tiếp tục nhớ lại ngày xưa, ta sẽ còn tiếc nuối  những cánh rừng thông nho nhỏ trong phố như bên sườn đồi đường Bùi Thị Xuân, đường Hải Thượng Lãn Ông, đường Hà Huy Tập…nay đã bị phá gần sạch, phố hóa với nhà cửa lô xô xanh đỏ trong cơn sốt chiếm lĩnh nhà đất của nền kinh tế thị trường, chỉ còn lại vài cây lạc lõng cô đơn, ta sẽ thấy thông cần thiết đối với vẻ đẹp và sức quyến rũ của thành phố này như thế nào. Thôi dù sao quá khứ đó không thể sửa chữa. Chỉ mong sao sự tàn phá được dừng lại kịp thời và mãi mãi để thành phố này nổi tiếng là “Thành phố ngàn thông” trước khi là “Thành phố hoa” độc nhất vô nhị của đất nước này, một danh hiệu có sức mời gọi mãnh liệt đối với nhiều lọai du khách trong và ngòai nước. Đó cũng là “thương hiệu”, một cách làm kinh tế, làm du lịch  bằng sức hấp dẫn của  cảnh quan môi trường chứ không phải chỉ là nhà hàng khách sạn, dịch vụ ăn uống vốn không phải là thế mạnh của Đà Lạt.

 

Dưới thông thường là thảm cỏ. Có thể là cỏ tự nhiên lá rộng, cỏ may hay cỏ Nhật, cỏ Mỹ mới được trồng gần đây ở các sân golf, khách sạn, công viên, khu du lịch. Đẹp hoang dại là cỏ tự nhiên lá rộng xanh mướt xen lẫn với cỏ may phớt tím và lá thông rụng mầu nâu trải thảm mượt mà mời gọi đến mê hồn. Vô số cư dân Đà Lạt và khách du lịch bốn phương đã có bao nhiêu kỷ niệm không quên đối với thảm cỏ tự do của Đồi Cù Đà Lạt ngày nào. Đó là tuổi thơ vô tư chạy nhảy, lăn tròn, chơi đùa thỏa thích trên thảm cỏ bình an dưới cặp mắt hạnh phúc của bố mẹ. Đó là tuổi trẻ trong tay người yêu dạo chơi hay ngồi bên nhau thì thầm  trên bãi xanh mượt mà dưới hàng thông dịu dàng trong hòang hôn hay đêm trăng mà khi về lưu vết chứng nhân vẫn còn là những bông hoa cỏ may tinh nghịch ghim vào quần áo. Đó là tuổi trung niên và tuổi già với điếu thuốc trên môi hay cuốn sách trong tay, ngồi trên thảm cỏ, đọc và tư lự về thế sự. Đó là … không thể kể hết được. Tin chắc rằng nếu phát động một cuộc thi viết về kỷ niệm trên bãi cỏ Đồi Cù, ta sẽ  nhận được hàng ngàn, hàng vạn bài cảm động không những từ khắp mọi miền của đất nước mà còn từ khắp nơi trên thế giới. Phải chăng đây cũng là một ý tưởng để “tiếp thị” hình ảnh của Đà Lạt trong công tác du lịch?

 

Đồi Cù bây giờ là sân golf hiện đại. Thông được trồng thêm, cỏ được trồng lại và chăm sóc kỹ lưỡng, xanh hơn, mượt mà hơn, trông xa như tranh vẽ nhưng có cảm giác giả tạo với “hoa chăm cỏ bón lối thẳng cây trồng”. Tuy nhiên điều quan trọng là bãi cỏ lớn nhất Đà Lạt này không còn là bãi cỏ tự do của Đồi Cù năm xưa mà đã nằm trong vòng rào chắc chắn và kín đáo, đứng ngòai chỉ thấy thấp thóang. Bãi cỏ lớn nhất ngay giữa trung tâm thành phố nhưng chỉ dành riêng độc quyền cho một số rất ít người giàu có đến để chơi trò thể thao thư giãn. Điều này ngay từ đầu khi Đồi Cù được cho thuê để làm sân golf đã bị đông đảo cư dân Đà Lạt và nhiều báo chí trong nước phản đối nhưng cuối cùng mọi sự vẫn được tiến hành. Theo nhiều người đây là điều cần phải sửa chữa dù làm điều đó khá khó khăn nhưng không thể không làm được.

Bãi cỏ lớn và đẹp thứ hai là bãi cỏ chung quanh khách sạn Palace, trước đây cũng là chốn tự do nhưng nay đã trở thành kín cổng cao tường với những chiếc ghế gỗ sơn trắng trơ vơ không mấy khi có người ngồi, trông vô cùng lãng phí. Bãi cỏ của nhà thờ Con Gà là nơi khá tự do nhưng quá nhỏ, mỗi năm vào dịp lễ Giáng sinh cỏ đã bị dày xéo tan nát và nhà thờ lại phải tốn nhiều thời gian chăm sóc trở lại. Những bãi cỏ mới ở các khu du lịch, công viên, khách sạn thường được chăm chút kỹ nhưng thường được để bảng “Xin đừng đi trên cỏ”. Thật kỳ lạ. Cỏ không để dẫm lên thì để làm gì. Dĩ nhiên chỉ nên dẫm lên cỏ với đôi chân trần để cảm giác được sự mềm mại, êm ái của một tặng vật vô giá từ thiên nhiên.

 

Những bãi cỏ dưới các cánh rừng thông ở hồ Tuyền Lâm, hồ Than Thở hay Thung lũng Tình Yêu có vẻ đẹp thiên nhiên hoang dã  tuy phải đi khá xa và muốn vào phải mua vé. May ra chỉ còn những rẻo cỏ quanh hồ Xuân Hương là nơi mọi người còn có thể ngồi ngắm hồ, câu cá. Lẽ nào nơi thành phố ngàn thông lại không có những bãi cỏ tự do cho trẻ thơ, cho thanh niên thiếu nữ, cho người già, cho những người mơ mộng? Và hồ Xuân Hương cần chi đến những cây sung, si cổ thụ giả tạo được bứng gốc, cưa cành đem ở đâu đâu về với bao nhiêu tốn kém. Cả những phiến đá trơ vơ lạc lõng nữa. Hồ Xuân Hương không phải là hồ Gươm ngàn năm tuổi của Hà Nội, cũng không phải là hồ mới kiến tạo ở những khu vui chơi giải trí của Sài Gòn. Hồ Xuân Hương của Đà Lạt chỉ cần thông, liễu rũ, mai anh đào và thảm cỏ để làm nên vẻ đẹp mộc mạc nhưng quyến rũ rất riêng của mình như nhan sắc của một nàng sơn nữ giữa núi rừng.

 

Đó là thông và cỏ? Còn gió? Gió ở đâu mà chẳng như nhau. Không phải. Gió vô hình nhưng lại có hình tướng, mầu sắc và hương vị riêng của không gian và tâm tưởng. Chẳng phải là gió biển vị mặn phóng khóang và gió sa mạc khô cháy hoang vu đó ư? Làm sao gió có thể vi vu bài tình ca bất tuyệt khi không đi qua ngàn vạn lá thông kim dưới bầu trời xanh thăm thẳm. Làm sao gió có thể ve vuốt dịu dàng khi ta không nằm trên một bãi cỏ êm dưới bóng thông che chở. Làm sao gió có thể vào được những khối nhà bê tông dày đặc trong những đô thị nhung nhúc người và xe cộ nếu không phải là gió giả. Vậy thì gió Đà Lạt ắt phải có hình hài và tâm hồn riêng mà không phải ai cũng khám phá được. Bạn hãy đến đây, vào mùa khô, nằm trên thảm cỏ dưới rừng thông trong một giờ cô tịch, bạn sẽ hiểu thế nào là gió Đà Lạt.

Đà Lạt là thành phố ngàn thông, là phố trong rừng thông. Khi không còn rừng thông trong phố, Đà Lạt sẽ không còn là Đà Lạt hay Đà Lạt như hình ảnh của một xứ sở mộng mơ sẽ chết vì những đầu óc thực dụng cùn mằn hẹp hòi và bàn tay thô bạo của những gã phàm phu tục tử.

                                                                                          

Đà  Lạt  cuối đông 2006

                                                                                                  Đan Vy - TDBC

 

Có nhiều con đường nối liền rừng và biển nhưng đây là con đường nối liền hai thành phố du lịch nổi tiếng tây nguyên và miền trung, Đà Lạt và Nha Trang, vừa mới được mở ra và chính thức thông xe. Trước đây muốn đi từ Đà Lạt xuống Nha Trang, ta phải đi qua đèo Prenn hay đèo Dran, đổ xuống Đơn Dương, lại qua đèo Ngoạn Mục xuống Phan Rang, từ đó theo quốc lộ 1 ra Cam Ranh, đến Ngả Ba Thành rồi rẽ về thành phố biển, tất cả dài 220 cây số. Bây giờ bạn có thể đi thẳng từ rừng xuống biển, chỉ 140 cây số. Buổi sáng bạn uống café ở Thủy Tạ bên hồ Xuân Hương se lạnh, buổi trưa bạn có thể nằm tắm nắng trên bãi biển Nha Trang nghe sóng đại dương vỗ bờ.

 

“Đi thẳng” chỉ là một cách nói thôi nhé. Mà đi thẳng thì còn gì thú vị cho một chuyến du lịch phiêu lưu. Từ trung tâm thành phố Đà Lạt, bạn theo con đường đi về hồ Than Thở, qua xã Thái Phiên là nơi nổi tiếng trồng rau với các vườn rau, hoa mượt mà khoe sắc rồi cứ thế theo con đường độc đạo xuyên rừng đi về phía đông. Đó chính là con đường mới mở nối liền rừng và biển.

 

Con đường này do hai tỉnh Lâm Đồng và Khánh Hòa thi công từ hai phía và gặp nhau nơi ranh giới giữa núi rừng trùng điệp. Phía Lâm Đồng, dù đã thông xe, vẫn chưa hoàn chỉnh. Mươi cây số, từng chặng, vẫn còn những khoảng đang rải đá hay làm lại nền đường bị lún, hoặc mở ra những đoạn đường mới để tránh những uốn khúc quanh co đã làm xong nhưng quá nguy hiểm. Một cây cầu bắc qua sông vẫn còn là cầu tạm. Nhưng bạn cứ yên chí đi tiếp, qua khỏi xã Đạ Sa, đường đã êm mượt và rộng ra thênh thang, dĩ nhiên chỉ là thênh thang giữa núi đồi thôi chứ không thể so sánh được với những xa lộ dưới bình nguyên.

 

Nếu bạn chạy xe máy, đây là đoạn đường tuyệt vời khi tay lái bạn quanh co liên tục vài chục cây số trên những đường cong tuyệt mỹ giữa rừng thông bạt ngàn hoang dã. Dù hoang dã, bạn sẽ cảm thấy thông bao giờ cũng dịu dàng chở che với tiếng gió vi vu qua những tàn lá kim xanh mướt. Đây chính là cảm giác đặc biệt mà bất cứ du khách nào cũng cảm nhận được khi đến với Đà Lạt, thành phố ngàn thông, nơi rừng vẫn còn lặng lẽ đi vào trong phố. Bây giờ bạn đang chạy xe giữa rừng đại ngàn, tất cả các giác quan đều mở rộng để đón nhận làn gió, tiếng chim, màu xanh trùng điệp, mùi hương núi rừng trong tốc độ của một cánh bay giữa những vòng lượn duyên dáng mượt mà như những đường cong thiếu nữ. Đâu phải ai, lúc nào cũng có thể hưởng cảm giác hạnh phúc đó.

(Trích bút ký Phiêu du trên con đường nối liền rừng và biển)

Từ xưa, ngoài tên gọi Thành phố Ngàn thông, Ngàn hoa, Đà Lạt còn được gọi là Thành phố Mai anh đào hay Xứ hoa đào. Tuy nhiên cũng đã từ lâu Đà Lạt không còn xứng với tên gọi đó nữa.


Một thời gian dài, cây mai anh
đào hầu như vắng bóng trên thành phố này. Chỉ còn sót lại một vài cội mai già đây đó còm cõi không đủ sức nở hoa. Thật buồn cho những người còn mơ mộng khi cất lên tiếng hát "Ai lên xứ hoa đào" quyến rũ một thời. Mấy gốc mai già bên đường nếu còn cố ra một vài cành để đơm nụ cũng bị người nào đó còn yêu hoa đào, chặt mang về nhà cho riêng mình. Không ai cần giữ gìn một vẻ đẹp tưởng đã sắp đi vào quên lãng.


Hình như từ năm 1993, lúc
Đà Lạt tổ chức kỷ niệm 100 năm ngày bác sĩ Yersin phát hiện ra Đà Lạt, bắt đầu đặt lại tên đường và dựng tượng Yersin, người ta mới nghĩ đến chuyện gầy dựng lại xứ hoa đào. Tuy nhiên công việc này không mấy kết quả. Hàng năm, người ta đều tổ chức trồng cây, trong đó có mai anh đào, nhưng nếu không "trồng cây nào chết cây ấy" thì cũng chỉ sót lại vài cây còi cọc. Mà mai anh đào không phải là giống khó trồng. Đặc biệt đất của Đà Lạt rất phù hợp với giống cây này. Cứ đi vào các thung lũng ngay trong thành phố, các nhà vườn, ta sẽ thấy lũ chim đã làm việc này dễ dàng như thế nào. Khi mai anh đào kết trái, những trái mọng chín nho nhỏ tím thẫm, lũ chim tha đi khắp nơi, hạt rơi đến đâu mọc đến đó. Ấy thế mà bao nhiêu công sức tiền bạc đổ ra, mai anh đào được trồng trong những lễ lạc rùm beng vẫn không sống nổi, kể cả những cây cổ thụ người ta mua ở các vườn bứng mang về.

Nhưng rồi tín hiệu vui
đã đến. Mấy năm gần đây, có thể do một cơ chế làm ăn mới nào đó, mai anh đào được khôi phục, chăm bón, trồng mới trên một số con đường bắt đầu có kết quả và mọi người đã có thể từ từ thấy lại mầu hoa ngày cũ mỗi độ đông tàn.


Đến cuối
đông đầu xuân năm nay, Kỷ Sửu 2009, nhất là từ một tuần sau Tết Nguyên đán cho đến Nguyên tiêu (rằm tháng giêng), như một phép lạ, thành phố bỗng rực lên một mầu hồng như những ngọn lửa bập bùng êm dịu từ muôn vạn cánh hoa bé nhỏ. Hầu như ai cũng muốn reo lên "Mai anh đào nở hoa!". Và mặc nhiên Đà Lạt lấy lại được mỹ danh ngày nào.

…

Mai anh đào. Chỉ một hai tuần thôi. Loài hoa nào mà chẳng chóng tàn nhưng vẻ đẹp của sắc hương trời đất vẫn còn đó, trong tâm tưởng, trong hoài niệm, trong sự thánh thiện của thiên nhiên và hồn người làm cho thế giới này bớt u ám và buồn đau.

 

(Trích bút ký Về một xứ hoa đào)

Đà Lạt thường được gọi là thành phố ngàn thông, thành phố ngàn hoa, thành phố lưng trời nhưng đặc sắc và biểu trưng nhất có lẽ là tên gọi “thành phố Mai anh đào”. Vì ngàn thông, ngàn hoa, lưng trời tuy hiếm nhưng không phải là duy nhất. Duy nhất chỉ có một xứ sở Mai anh đào.

Không phải anh đào Nhật Bản, không phải đào Hà Nội, không phải đào Sapa, không phải đào lông mà là mai anh đào Đà lạt. Có lẽ các nhà thực vật học, các nhà nghiên cứu văn hóa, lịch sử nên làm một cuộc nghiên cứu công phu để làm rõ thêm tính độc đáo của loại hoa mai – đào này.

Mỗi năm hoa chỉ nở một lần, sau khi cây trút lá. Đóa mai anh đào năm cánh bé bỏng, đơn sơ, màu hồng phớt tím nhưng khi hàng ngàn hoa nở rộ, toàn cây thành một ngọn lửa bập bùng, không rừng rực nhưng dịu dàng, nồng nàn, ấm áp. Thân cành mai anh đào khi còn non mảnh mai nhưng khi già trở thành cổ thụ cũng sần sùi, tạo dáng vững chãi và có thể cao đến mươi thước.

Trước đây mai anh đào thường nở vào trước hay sau Noel nhưng những năm gần đây do thời tiết thay đổi, thời gian nở chậm dần và tết năm Kỷ Sửu 2009, lần đầu tiên mai anh đào nở rộ vào đúng dịp tết, tạo thành một hiện tượng làm cư dân thành phố và du khách kinh ngạc và vui mừng, báo hiệu sự hồi sinh của xứ sở mai anh đào.(*)

 

 

Đà Lạt nổi tiếng với muôn ngàn sắc hoa, được nhiều người nhắc đến với “mimosa từ đâu em tới đất này”, hay “dã quỳ nồng nàn thúc giục”, các loài lan kiêu sa vương giả, hay cả cây phượng tím cổ thụ duy nhất trước chợ Hòa Bình nở tím cả một vùng trời năm xưa (bây giờ người ta đã nhân được giống trồng khắp nơi nhưng không có cây nào có được tàn cây lớn và vẻ đẹp lạ lùng của cây phượng tím cổ thụ này)…  Tuy vậy, có lẽ những người từng gắn bó sâu xa hay có “kỷ niệm rưng rưng” với Đà Lạt, không ai có thể quên lời nhắc nhở tha thiết của nhạc sĩ Hoàng Nguyên năm xưa “ai lên xứ hoa đào đừng quên mang về một cành hoa”.

(Trích bút ký Xuân về trên xứ sở Mai anh đào)